Kể chuyện Sài-gòn xưa : cải lương hồ quảng !

Ngày xưa còn bé tôi rất mê coi Cải Lương Hồ Quảng, đặc biệt là đoàn Minh Tơ Khánh Hồng và đoàn Huỳnh Long với những diễn viên nổi tiếng một thời như : Thanh Bạch, Thanh Thế, Bạch Mai, Huỳnh Mai, Bửu Truyện, Đức Lợi, Thanh Tòng , Bạch Lê, Thanh Loan, Trường Sơn… Nhưng từ sau 1975 thi loại hình nghệ thuật này hình như biến mất hoàn toàn. Mong các bạn nào có tư liệu, kỹ niệm hay chuyện liên quan đến Cải Lương Hồ Quảng xin vui lòng chia sẽ cho cộng động với, xin chân thành cảm tạ. Sau đây là ít tư liệu tôi sưu tầm được :

Gia phả của đoàn Minh Tơ Khánh Hồng có mặt trong làng nghệ thuật truyền thống của Việt nam tại Sài gòn từ cuối thế kỷ thứ 19,đầu tiên là Vĩnh Xuân ban chuyên diễn loại hình Hát Bội rất nổi tiếng được xem vào bậc nhất của Sài gòn thời bấy giờ , nhất là đầu thế kỷ thứ 20, thời vàng son của ông Bầu Thắng, cũng là kép chính của đoàn với tài năng xuất chúng văn võ song toàn khét tiếng tại thủ đô Sài gòn.

Khi ông mất đi trao quyền lại cho con trai lớn là Nguyễn Văn Chỉ làm giám đốc đoàn hát, và hai con trai thứ là Minh Tơ và Khánh Hồng cùng các con gái là Huỳnh Mai, Bạch Cúc..là diễn viên của đoàn. Trong đoàn còn có các nghệ sĩ hát bội nổi tiếng và cũng là học trò của ông Bầu Thắng như Ba Út, Hai Nhỏ, Ba Sáng, Bảy Sự, Thành Tôn, Chín Luông, Hữu Thoại, Hai Tảo, Ngọc Lượng.,…..

Khi Nguyễn Văn Chỉ gọi tắt là Hai Chỉ đi phong trào kháng chiến chống Pháp, giao đoàn lại cho hai em trai là Minh Tơ và Khánh Hồng, thì họ lập thêm đoàn Hát Bội Hiệp Thành Minh Tơ do Minh Tơ phụ trách và đoàn Cải Lương Tuồng Tàu Vĩnh Xuân do Khánh Hồng phụ trách. Trong thời điểm này là thời điểm đầu tiên của loại hình hát nội pha cải lương, lý do là trong khoảng thập niên 40, hát bội đã mất dần chỗ đứng và cải lương đang bắt đầu chiếm ưu thế, các đoàn hát hội chuyên nghiệp pha bài bản cải lương để có thêm khán giả, và sáng kiến này đã được sự công nhận tạm thời của khán giả.

Đến thập niên 1950, Khánh Hồng đã đi mời được Nghệ sĩ chuyên nghiệp kinh kịch người Trung Hoa từ bên Tàu sang dạy cho đoàn những bài bản Hồ Quảng , xuất xứ những bài hát này tứ xứ Hồ Quảng bên Tàu, cho nên chính ông Khánh Hồng là người đầu tiên đổi danh từ Cải Lương Tuồng Tàu thành Cải Lương Hồ quảng.

Thật ra, trong thời điểm này người Tàu di dân dân sang Việt Nam và ở các khu vực rãi rác quanh Sài gòn khá nhiều nhưng tập trung nhiều nhất là vùng Chợ lớn, nhất là từ quận 5 đến quận 11. Vì thế để thu hút khán giả người Tàu hiện đang định cư tại Việt nam thời ấy, nghệ sĩ Khánh Hồng đã làm được việc đó khi chuyển những bài hát cổ truyền của Trung Quốc sang lời Việt rồi pha bài bản cải lương cộng với những tuồng tích xuất thân từ hát bội để trở thành Cải Lương Hồ Quảng. Và Khánh Hồng đã thành công với kế hoạch này, khi lượng khán giả mỗi lúc một đông hơn có đêm khán giả đứng tràn ra ngoài cửa rạp hát đình Cầu Quan, trong đó dĩ nhiên là có tôi cũng chen chúc trong đoàn người đó!

Cũng vào khoảng giữa thập niên 1950, Minh Tơ thành lập một đoàn hát thiếu nhi có tên là Đoàn Đồng Ấu Minh Tơ, chuyên hát những tích tuồng nổi tiếng từ hát bội như Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Phong Thần…và dĩ nhiên hát loại Cải Lương Hồ Quảng, một loại hình nghệ thuật đang hưng thịnh gồm các nghệ sĩ tí hon như Thanh Tòng, Bạch Lê, Thanh Hoàng (Bo Bo Hoàng), Xuân Yến, Thanh Thế, Bửu Truyện, Thanh Loan, Trường Sơn…

Đến đầu thập niên 1960, nhạc Đài Loan du nhập sang Việt nam qua những bộ phim nổi tiếng như Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Hồn bướm mơ tiên..
Đức Phú là em thứ 10 trong gia đình Minh Tơ Khánh Hồng, cũng là một nhạc sĩ khá nổi tiếng thời bấy giờ. Đức Phú đã đưa loại nhạc này vào các tuồng tích của đoàn nhà, rồi chính anh cũng viết vở tuồng Cải Lương Hồ Quảng Lương Sơn Bá & Chúc Anh Đài do anh đóng vai Lương Sơn Bá và Bo Bo Hoàng (lúc này vừa mới lớn) đóng vai Chúc Anh Đài. Giai đoạn này đoàn Minh Tơ Khánh Hồng nổi tiếng thuộc dạng nhất nhì tại Sài gòn khó có đoàn nào địch lại với loại hình nghệ thuật này. Và cũng trong giai đoạn này, đài Truyền hình Việt Nam mời Đoàn Cải Lương Hồ Quảng Khánh Hồng do Minh Tơ phụ trách là đơn vị Hồ Quảng đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh truyền hình.

Sau biến cố lịch sử năm 1975, nghệ sĩ Khánh Hồng chỉ hoạt đồng thời gian rất ngắn rồi qua đời, Minh Tơ còn một mình với các con, các cháu và đệ tử…họ chưa được phép dựng lại tên Cải Lương Hồ Quảng cho bảng hiệu mình, mà phải lệ thuộc vào sự chỉ thị của chính quyền, cho nên phải dùng cái từ Đoàn Cải Lương Tuồng Cổ Minh Tơ, hát tuồng Tàu chỉ được một hai năm đầu, đến năm thứ 3 thì phải chuyển qua lịch sử Việt nam và tuồng tích Tàu xem như cấm hẳn.

Nhưng Thanh Tòng là hậu duệ vững vàng của dòng họ này, với kiến thức và tay nghề cao, Thanh Tòng đã thừa hưởng nghề nghiệp của cả một gia phả đã nổi tiếng và sáng tạo qua nhiều thời kỳ, anh đã biến nghệ thuật Tuồng cổ của đoàn Minh Tơ qua các vở diễn lịch sử đã trở thành bất tử. Nói một cách công bằng hơn, anh có óc sáng tạo và khả năng điều hành, nhưng anh phải nhờ vào lực lượng nghệ sĩ có chuyên môn nghệ thuật tương đương với anh cũng là anh chị em trong gia đình (như Bạch Lê, Thanh Loan, Xuân Yến, Trường Sơn, Công Minh, Hữu Cảnh…, hoặc đệ tử ruột của gia đình anh ngày xưa (như Bửu Truyện, Thanh Thế, Phượng Mai, Mộng Lành….) đã xây dựng được một đoàn nghệ thuật Tuồng cổ tiêu biểu nhất!

Âm nhạc thì có Đức Phú. và sau này còn có Minh Tâm (em ruột Thanh Tòng) là đội hậu duệ rất xuất sắc.

Tưởng cũng cần nói thêm là ngoài khả năng sáng tạo, đức Phú lẫn Minh Tâm có khả năng viết phối âm rất sang trọng, xuất sắc, có nghiên cứu và phù hợp tùy thuộc theo từng vở diễn.

Các tuồng Hồ quảng vang tiếng một thời trước 1975 của đoàn Minh Tơ gồm:

1. Bao Công xử án Quách Hòe
2. Điều Tam Xuân báo phu cừu
3. Liên hườn kế.
4. Xử án Bàng Quý Phi.
5. Lưu Bị cầu hôn Giang tả.
6. Triệu Tử đoạt Ấu chúa
7. Trương Phi thủ Cổ thành.
8. Mã Siêu báo phụ cừu
9. Quan Công đấp đập bắt Bàng Đức

Đoàn Huỳnh Long thật sự ngày xưa là đoàn Chánh Thành Kim Mai, sau này đổi thành Tân Kim Mai rồi trở thành đoàn Huỳnh Long ( hình như là kỷ niệm giửa ông Tư Long và ông Bảy Huỳnh). Đoàn này vốn đóng đô bên Cầu Muối, còn đoàn Minh Tơ đóng đô bên Cầu Quan. Chử Kim Mai vốn là tên đi hát lúc ban đầu của Bạch Mai.

Sau năm 1975, đoàn Huỳnh Long chính thức ra đời do nghệ sĩ Thanh Bạch lãnh đạo, vở tuồng đầu tiên là Lưu Kim Đính Giải Giá Thọ Châu Thành, tuồng này rất ăn khách (nghe nói lúc xin giấy phép thì bị chận, khiến Thanh Bạch phải nhào đầu ra ngoài đường tự tử nhưng không chết và nhờ vụ này mới được giấy phép), sở dĩ đoàn Huỳnh Long tạo được uy thế từ năm 1975 đến năm 1979 là nhờ vào nhạc sĩ Hoàng Hầu Bình, ông biết phía Minh Tơ rất bảo thủ vẩn giữ nguyên lối hát theo Quảng Đông nên đã thay đổi lối hát của Huỳnh Long theo lối kinh kịch của Bắc Kinh, vì vậy rất mới lạ và ăn khách, tuy nhiên thời vàng son của Huỳnh Long đến thập niên 80 thì chấm dứt, vì lúc đó không cho diễn tuồng lịch sử Tàu mà đoàn Huỳnh Long đã vi phạm, và cuối cùng thì bị nhà nước lấy đoàn, vụ này khiến cho Thanh Bạch phải chạy về nương náu bên đoàn Minh Tơ, tại đây anh mới có dịp gặp lại Bạch Lê diễn chung và trở thành vợ chồng, đó là một đám cưới theo lẽ rất đẹp, nhưng vì do định kiến từ những tranh chấp của 2 đình Cầu Quan và Cầu Muối, nên sau đám cưới này phía Cầu Muối cho rằng họ bị xử ép và từ đó thành kiến của đôi bên càng lúc càng nặng hơn, dù rằng đến nay ngoài mặt hai bên vẩn có thể làm việc chung với nhau nhưng những chuyện ân oán sâu thẳm bên trong thì khó mà giải trừ được.

Tóm lại 2 đoàn tuồng Cổ Minh Tơ và Huỳnh Long, đều có những nét độc đáo riêng để giữ khách của mình, điều đáng tiếc là thế hệ tiếp nối của họ thì đều không đủ khả năng bằng thế hệ trước, Huỳnh Long thì có con của Bạch Mai là Bình Tinh và Chinh Nhân nhưng không thụ hưởng được tay nghề của chú bác, ngược lại bên Minh Tơ thế hệ con cháu của họ như Tú Sương, Trinh Trinh, Quế Trân cũng không học nổi bản lãnh của thế hệ trước, đã vậy riêng Quế Trân người ta xem cô diễn bắt chước y chang lối diễn của Ngọc Huyền đệ tử ruột của Bạch Mai bên đình Cầu Muối, mặc dù Thanh Tòng con chim đầu đàn của Minh Tơ là cha ruột của cô.

Thanh Long Nguyen
Photo: sưu tầm
#chuyensaigon

Advertisements