Siêu Chiến Lược EURASIA 1920-2020
vinhtruong
10-13-2011, 01:08 PM
10 năm trong lộ đồ trù dập TQ (2010-2020): Đây là một đề tài khá thú vị nhưng cũng rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu 100 năm [1920-2020] của siêu sách lược Eurasia như thế nào, dĩ nhiên bài nầy sẽ truy cứu trở lại 90 năm về trước làm chứng liệu hậu quả cho 10 năm sau cùng. Người viết chấp nhận những ai muốn tra cứu hãy PM cho người viết trong ngôn từ lịch sự dù rằng quan điểm nhận thức chính trị có khác biệt theo trình độ: Dưới đây là kể lại những đoạn đường dài trải qua 90 năm để đối chứng hiện tại và tương lai … kế sách đoạn đường đã đi qua để cho các vị nghiên cứu sẽ thấy rõ đoạn kết như thế nào, và tại sao Hoa Kỳ muốn nâng đỡ Ấn Độ vào ngôi vị thứ-2 thế Trung Quốc kết thúc Eurasia-1 để sang Eurasia-2 khởi đầu 2020?

Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger cũng úp mở lập lại những gì kiến trúc sư George F Kennan, người lý thuyết gia phụ tá cho W A Harriman, thiết kế lộ trình dẹp bỏ chủ nghĩa CS bắt đầu từ Soviet Union và kế tiếp là Trung Quốc. Như người Á đông ta khi muốn ăn những múi thơm ngon trong trái Sầu Riêng việc khó nhứt là tét vỏ {Soviet Union] Vị thế Liên Xô là nỗ lực chính trên trục đường tiến sát của xung kích Mỹ. Sự sụp đổ Soviet Union bị bắt nguồn từ Mỹ chơi trò tiên-lễ “on the strong-man side” biến Liên Xô thay vào vị trí của Mỹ là viện trợ cho các nước cò con CS để lần hồi đi đến chỗ ngã quỵ vì kinh tế lôi theo những biến cố thay đổi chính trị bằng TBT Mikhai-Gorbachov 56 tuổi chấm dứt trên 70 năm lá cờ CS búa liềm phải bỏ xuống để cho là cờ tượng trưng cho người dân Nga phất phới trên điện Kremlin. Chấm dứt cuộc chiến tranh theo đúng diễn-tiến lộ đồ của George Kennan vào mùa Noel 1991..Khởi đầu bằng phá vỡ bức tường Bá-Linh 1989, người thủ lãnh thế hệ-2 Skull and Bones vẫn yên lặng ẩn mình trong vị trí Phó TT George H W Bush để mưu cầu cho giai đoạn lật đổ Trung Quốc bằng sách lược của lý thuyết gia George F Kennan “Phải xây dựng một minh ước quân sự NATO” và hiện tại, tại Á Châu, Mỹ đang lập lại những gì George Kennan khuyên bảo, thế nên chúng ta thấy thêm Ấn Độ một nước ngang ngữa với TQ đứng hạng nhì đông dân số. “If the Soviet Union were not allowed to expand …it would soon to collapse. Mùa Noel 1991, Liên Sô chính thức tuyên bố chấm dứt chế độ CS hơn 70 năm: Liền tức thời các nước Cộng Hoà cực miền đông nam Liên Sô tách rời tự nguyện xin gia nhập LHQ có Estonia, Lithuania vào LHQ, ngày 17/91991.

Ngày 2/3/1992 thêm Armenia, Kazakhstan, Republic of Modova, Turmenistan, Uzbekistan Ngày 31/7/1992 thêm Georgia (nước nầy và Mông Cổ là 2 nước được Mỹ cưng yêu nhứt, khi Nga chiếm Georgia, Bà Rice chính thức tuyên bố đuổi quân Nga phải về xứ ngay tức khắc, còn Mông Cổ, TT Bush-Con và Phó TT Biden khi qua TQ buộc phải qua Mông-Cổ để dằn mặt sự an nguy của TQ!
Rồi đây Việt Nam sẽ dễ dàng tự nguyện nhờ LHQ can thiếp để hợp thức hoá nên dân chủ của Việt Nam với một lá cờ mới thay vào cờ đỏ sao vàng bằng cuộc thật sự tự do bầu phiếu Thế nên Kissinger mới lập lại và đoan chắc Trung Quốc đang lo sợ về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây, trong cuộc chiến tranh lạnh do chiến lược gia W A Harriman nhào-nặn ra, và Kissinger kêu gọi hai nước phát triển một mối quan hệ hợp tác thay vì đối đầu với nhau, đó chẳng qua Kissinger biết trước đây là thế siêu chiến lược Eurasia và lần lần từng bước TQ phải tuân thủ những gì mà Hoa Kỳ qua Harriman đã ước tính như là một Gia Cát Lượng hoàn vũ. Nhà ngoại giao Mỹ nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời Chiến tranh Lạnh đã kêu gọi như thế hôm thứ 3 vừa qua trong lúc một số nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Washington đang lợi dụng vụ tranh chấp Biển Đông để lôi kéo các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và các quốc gia Đông Nam Á chống lại Bắc Kinh.
Cũng trong ngày thứ ba, một bài viết cổ võ cho việc gây chiến với Việt Nam và Philippines đăng trên một tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tạo ra điều mà các nhà quan sát cho là “một động lượng xấu xí” (ugly momentum) ở Biển Đông. Dưới đây người viết trình bày vài chi tiết mà Hoa Kỳ đang kỳ vọng về Á Châu sau đây: Trong thời gian gần đây ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc nhận định rằng Hoa Kỳ đang lợi dụng vụ tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á ở Biển Đông. Nhưng theo như người viết thì khác hẳn, đây là những biến cố do Mỹ áp đặt theo lộ-đồ Eagle Pull 1975 và Roll-back 2010 do Bộ Ngoại giao và Quốc phòng cùng xác định một mục tiêu Hoa Kỳ phải trở lại Á Châu, TBD đúng vào mốc thời gian (decent interval). Và TQ đang buộc tạo ra căng thẳng càng tăng thêm sự lo ngại của Nhật Bản, Ấn Độ và Australia đối với sự phát triển sức mạnh trên biển của Trung Quốc để lôi kéo các nước này vào một trận tuyến chống Bắc Kinh. Dĩ nhiên vì thời thế buộc phải sinh nở ra một Liên Minh Quân Sự mới như trong thiết kế của George Kennan. Những nhận định đó đã được đưa ra mặc dù giới hữu trách ở Washington nhiều lần tỏ ý hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc và hy vọng rằng một nước Trung Quốc thịnh vượng và hùng cường hơn sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu như sức nóng tăng dần của bầu khí quyển, bệnh hoạn khác thường sinh ra do vận tốc bộc phát triển của con người, thiên tai, nhu cầu tài nguyên bị cạn dần, nhân mãn đói khát phải giải quyết … Hoa Kỳ muốn TQ phải dùng khoa học kỹ thuật cùng giúp đỡ môi sinh cho con người và ngừng ngay việc tạo ra sự thắm nước biển vào đồng bằng Sông Cửu Long có thể đe doạ môi trường sống của nhân loại…

Cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger thừa nhận rằng Trung Quốc đang lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây như Liên Sô trước đây. Ông phát biểu như sau tại một cuộc hội thảo ở Washington hôm thứ ba vừa qua (27-09-2011). Theo như người viết sự lo ngại nầy là nhậy bén và có lý căn cứ theo dĩ vãng đã chứng minh
Ông nói” “Vấn đề khó khăn thật sự và thách thức thật sự là ứng phó với điều mà tôi cho là hai sự sợ hãi mâu thuẫn nhau. Trung Quốc lo sợ hay lo ngại về việc bị Hoa Kỳ bao vây. Họ e rằng chúng ta sẽ đối phó với họ như Liên Sô trước đây. Họ lo sợ như vậy vì từ trước tới nay lúc nào cơn ác mộng chiến lược của Trung Quốc cũng là các nước láng giềng của họ có thể đoàn kết lại với nhau để giành ưu thế. Và chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ trước đến nay là tìm mọi cách để chia rẽ các nước láng giềng. Trong khi đó, mối quan tâm của Hoa Kỳ là làm thế nào để không xảy ra tình trạng một nước làm bá chủ toàn bộ châu Á, một tình trạng đã dẫn tới thế chiến thứ hai.” Nhà ngoại giao Mỹ Kissinger nổi tiếng về những hoạt động ngoại giao “đi đêm” thời chiến tranh Lạnh cho rằng nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc có mối quan hệ đối địch, hai mối lo sợ đó sẽ đụng độ với nhau, mang lại những hậu quả vô cùng tai hại cho cả thế giới. Kissinger cũng bác bỏ nhận định cho rằng Trung Quốc là một nước đang lên, chưa chắc vì bị Mỹ kèm kẹp còn hơn Liên Sô ngày xưa; Mỹ chưa bao giờ dùng chiến tranh khí tượng với Trung Quốc, nhưng đã dùng với Liên Sô, Cuba và Việt Nam đến nỗi đồng bằng Sông Cửu Long Cá và trứng đều chết vào những năm đầu thống nhứt, Hom Mì và dây khoai Lang đều bị cháy khô, Cuba nước chuyên môn trồng Miá làm đường phải bị bỏ đất hoang, Liên Sô lúa Mì bị úng thối vì freezing bởi vũ khí khí tượng (Weather Weaponry quá bí mật không thể phát hiện).

Ông nói: “Hầu hết sách vở ở Mỹ đều mô tả Trung Quốc hiện nay như một nước đang lên. Không có người Trung Quốc nào nghĩ rằng Trung Quốc là một nước đang lên. Trong 18 của 20 thế kỷ qua, trong 18 thế kỷ đó, Trung Quốc là nước hùng mạnh nhất thế giới. Nhưng rồi một sự bất thường đã xảy ra trong tâm thái và kinh nghiệm của Trung Quốc trong thế kỷ 19 và trong phần đầu của thế 20, khi Trung Quốc không bắt kịp cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành một nước tương đối yếu. Nhưng trong đầu óc của người Trung Quốc họ không nghĩ rằng họ đang trỗi dậy. Người Trung Quốc nghĩ rằng họ đang lấy lại vị thế lịch sử của mình và họ đang trở về với vị trí của mình. Ông Miles Yu, giáo sư môn quân sử của Trường Võ bị Hải quân Hoa Kỳ, cho rằng tuy giới hữu trách Bắc Kinh không ngớt trấn an thế giới về chủ trương phát triển trong hòa bình, nhưng những lời lẽ về sự quật khởi của Trung Quốc làm cho các lân bang của Trung Quốc cảm thấy lo ngại.
Ông cho biết: “Trung Quốc đang dốc sức để quật khởi. Nói một cách khác, giờ đây Trung Quốc tin rằng đã tới lúc Trung Quốc trở thành cường quốc bá chủ thế giới. Trung Quốc chưa bao giờ né tránh hay ngại ngùng khi nói như vậy. Quí vị đã nghe cụm từ ‘thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc’. Và mọi người dân bình thường ở Trung Quốc đều nói một cách tự nhiên như vậy. Nhưng đối với người viết đứng ở bên ngoài, đặc biệt là những người của một nước láng giềng, tuyên bố này thật là đáng sợ vì không ai biết rõ ý nghĩa cụ thể của điều này” Nhưng đối với George H W Bush-Cha thì Trung Quốc buộc phải co rút để nắm giữ nội tình đồng thời ngoan ngoãn nghe theo Mỹ để không bị chia năm xẻ bẩy và triệt để tuân thủ những điều khoản COC do LHQ ấn định. Sự lo ngại này đã gia tăng trong mấy ngày qua, sau khi tờ Hoàn Cầu Thời Báo ở Trung Quốc cho đăng một bài viết hô hào cho việc tấn công Việt Nam và Philippines để đạt mục tiêu gọi là “dĩ chiến chỉ chiến”. Bài viết của tờ báo chính thức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nói rằng Biển Đông là nơi tốt nhất để Trung Quốc tiến hành chiến tranh vì “trong số hơn 1000 giàn khoan dầu ở đó, không có cái nào là của Trung Quốc; 4 phi trường ở quần đảo Trường Sa, không có cái nào là của Trung Quốc; một khi chiến tranh xảy ra mọi thứ sẽ bị thiêu rụi. Ai sẽ thiệt hại nhiều nhất khi các đại công ty dầu khí Tây phương rút đi?” Điều nầy Bush-Con đả biết trước, nên trước khi rời toà Bạch Ốc, Bush-Con đã chính thức mời 2 nguyên thủ Việt Nam và Phi Luật Tân với những lời vàng ngọc nhắn nhủ đừng sợ ma bắt.
Trong khi đó, một số các nhà nghiên cứu an ninh quốc tế đã lên tiếng kêu gọi thiết lập một diễn đàn để ngăn chận điều mà họ cho là một cuộc chạy đua vũ trang ở Á châu trong bối cảnh Trung Quốc nhanh chóng tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Phát biểu tại một cuộc hội thảo hôm 29 tháng 9 ở Hồng Kông về chính sách an ninh quốc tế vùng Nam và Đông Nam Á, tướng hồi hưu Klaus Olshausen của Đức nói rằng sự tăng cường sức mạnh quân sự của các nước trong khu vực đang gây ra nhiều nỗi bất an. Những biến cố nầy, người viết nhắc lại George H W Bush đang tái diển cái màn trước khi trù dập Liên Sô vào năm 1980 đến 1990 (đem so sánh nó từa tựa như 2010 đến 2020) mối căng thẳng quân sự với Liên Sô qua âm mưu ngầm với Iran, Afghanistan, và Iraq sóng ngầm sôi sục như hiện nay tại Biển Đông trước khi tình báo Mỹ làm sụp đổ Liên Sô tan từng mảnh năm 1991 tạo ra ngay tức khắc tám nước Cộng Hoà: như Caucasua và Transcaspia, sau đó tiếp nối Khanates, Circassian thuộc vùng núi … theo đúng diễn tiến lộ đồ Eurasia 1920-2020. Người ta cho rằng Chúa đang nói với Bush-Cha: “Con đã tạo dựng Neoimperialists like Paul Wolfowitz and Richard Perle. Thế là vùng dầu mỏ nầy do Mỹ kiểm soát gồm Caucasian và Transcaspian bởi sự mời mọc Tối Huệ Quốc [The US Freedom Support Act] làm cho mực sống người dân của 8 nước Cộng Hoà sung túc hơn người dân tại Moscov. “Trung Quốc nên nhìn lại dĩ vãng để không bị lầm lỡ trong tương lai ”Olshausen nói tiếp: “Nếu chúng ta nhìn vào tỉ lệ của chi tiêu quân sự đối với tổng sản lượng quốc nội của mỗi nước ở Á châu, chúng ta không thể nói rằng một cuộc chạy đua vũ trang đang diễn ra. Tỉ lệ chi tiêu quốc phòng của tất cả hoặc đại đa số các nước Á châu trong năm 2010 đều tương đương hoặc thấp hơn tỉ lệ của những năm 2000 và 2001. Tuy nhiên, có một điều hiển nhiên là những hành động nhằm nâng cao khả năng quân sự trong những năm gần đây đã khiến cho các nước trong khu vực, Hoa Kỳ và các nước khác cảm thấy khó hiểu, lo lắng và bất an”.

Ông Trương Bạc Hối, giáo sư chính trị học của Đại học Lĩnh Nam ở Hồng Kông, tán thành những nỗ lực để giảm thiểu mối rủi ro xung đột quân sự. Nhưng ông nói thêm rằng Trung Quốc có trách nhiệm đi tiên phong trong nỗ lực này.

Ông cho biết: “Sự trỗi dậy của Trung Quốc rốt cuộc sẽ làm cho nhiều nước trong khu vực phải tính toán tới trường hợp xấu nhất. Bởi vì không một nước nào có thể hoàn toàn tin tưởng vào những tuyên bố của một nước khác về những ý đồ trong lãnh vực quân sự của họ. Vì vậy, tôi cho rằng cách giải quyết rốt ráo là Trung Quốc phải tự mình thực hiện sự khắc chế về chiến lược, phải hạn chế việc phát triển khả năng tấn công những mục tiêu ở xa. “Các chuyên gia quốc phòng cho biết trong 10 năm qua Trung Quốc đã chi tiêu hơn 150 tỉ đô la cho các trang thiết bị quân sự và chi tiêu quốc phòng của họ đã gia tăng với tốc độ hai con số mỗi năm. Các nước khác ở Á châu như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Australia, Việt Nam và Ấn Độ cũng đã dành ra những ngân khoản lớn để trang bị tàu ngầm và các loại vũ khí khác. Biến cố do Mỹ nhàu nặn ra cũng không khác gì việc làm ăn chính trị phải có cho sự lặp lại như hồi 1980-1990 và hiện tại 2010-2020. Vì lịch sử là sự tái diễn không ngừng.

còn tiếp
vinhtruong
10-14-2011, 12:31 AM
Trước khi đi vào nội dung, hãy kiên nhẫn NÊN TÌM HIỄU TIỂU-SỮ NHÂN VẬT W-A-HARRIMAN (1891-1986) Đại đế giấu mặt của Triều đại thứ-1 Skull and Bones. Sở dĩ Harriman dùng danh từ Đảng Sọ Xương người là vì đường lối và sách lược: “Không bao giờ có người bạn lâu đời, cũng như không bao giờ có kẻ thù truyền kiếp, vì quyền lợi “America first”, quyền lợi, chỉ quyền lợi mới xác định thế liên minh, thế nên đi với Bụt mặc áo Cà sa, vì ở đây phải đi với Ma nên mặc áo giây, xin thông cảm nick name “Skull and Bones! Gentlemen …!

– Về cuốn sách “Aid to Russia”: Harriman vừa tốt nghiệp Yale với 27 tuổi đời đã trở nên một nhà triệu phú nhờ tài sản kết-xù của người cha để lại và là một thiên tài xuất chúng, một chiến lược gia có tầm cỡ hoàn vũ không như Gia Cát Lượng chỉ hạn hẹp trong đất nước Trung Hoa. Lợi dụng trong thời buổi chiến tranh 1917, Harriman báo động chính quyền phải phát triển hạm đội thương thuyền trong thế mạnh mục đích giao thương với Âu Châu mà nước Đức là mục tiêu chính. Ông dám đi thẳng vào cuộc chiến tư tưởng hệ với Karl Marx (1818-1883) và Lenin (1870-1924) Nhưng đối với Harriman thì biến đổi giai cấp “công-nông” thành giai cấp “sản-xuất” [human resources] làm ra của cải cho xã hội. Năm 1917 dựa vào thời kỳ chiến tranh, thiên-tài 27 tuổi nầy áp lực chính quyền phải ký hợp đồng thành lập Hạm đội thương thuyền lớn nhứt thế giới, đồng thời thuyết phục chính quyền tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Liên Xô qua Aleksandr Kerensky số tiền cho vay là $325 triệu để sản xuất chiến cụ tự vệ, nhưng nguyên vật liệu phải được xuất cảng từ Mỹ. Làm sao cách mạng LX tránh được ‘cái-bẫy’ đầy hấp dẫn như vũ khí tự vệ kinh qua quá trình bị đế-quốc xâm lược: Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, và Ðức quốc Xã {Ðây cũng là chước: đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, nhưng đối với tầm nhìn bao quát của Harriman là nắm ngay nhân-lực [giai cấp sản xuất vũ-khí] khi Cách mạng Nga mới vừa chớm nở).

Năm 1920, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có mỏ Manganese và dầu hỏa. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng Sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn tư bản gây ra nhiều tội ác bóc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng bọn Bolsevik vẫn cần dollar và kỹ thuật Tây Âu để sống còn. Ðặt văn phòng tại Bá-linh, Harriman dám cùng chung với công ty Ðức và chính quyền LX tạo nên Công-ty Hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ. Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể. Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường tình báo.

Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tính dụng $1 triệu dollar đặt cọc và điều động J.Speed Elliot, Phó giám đốc Công-ty Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolshevik do trùm mật vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký [vì thế chiến lược toàn cầu, tình-báo quân-đội Mỹ OSS được lệnh kết thân với KGB] Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn đạm của War Industries Board. Thế là “Kế hoạch Eurasia” đã lồng vào ống kính của Harriman về những nước Cộng hòa phía cực Ðông nam của LX sẽ rơi vào tay của Mỹ sau nầy với vô vàn tài nguyên nằm sâu dưới lớp tuyết mà LX chưa đủ kỹ thuật để khai thác.

Năm 1941 Harriman giúp đỡ Hitler qua công ty hỗn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”. Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, quyền lợi xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-sa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!

-Sách “Peace with Russia” của Harriman, 1959: Chủ nợ thường thường nói gì con nợ nghe nấy. Nhưng làm sao khuyến dụ LX nhảy vào trò chơi chiến tranh “Mặt Trận Giải Phóng” [National Liberation Front] để chống lại với “Kế hoạch Chống Nổi Dậy” [Counter Insurgency Plan] Thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể là Trung Quốc cũng thích sự hiện hữu của 2 nước VN. Thật đã rõ là ngoài 2 phe VN, các thành phần tham gia hội nghị Genève-1954 đều thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Sau khi chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá, cầu cống sụp đổ tan hoang, hạn hán, bão lụt mất mùa, thêm vào cách mạng ruộng đất bị thất bại làm nhân dân Nghệ-An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung lập và giàu mạnh” có nghĩa là không đụng đến miền nam, với mong mỏi Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ có đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp thương sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc, thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959, (Stanley Karnow “VN Viking, New York, 1983, page 225).

Harriman vô cùng bấn loạn với số vũ khí thặng dư còn quá nhiều, dù chiến tranh Triều Tiên và Lính Pháp đã xử dụng trong 8 năm nhưng vẫn còn tồn kho, theo sự thiết kế của nhóm tham mưu dân sự George Kennan, phải xử dụng cho đến cuối 1968 [Tết Mậu-Thân] mới hết, cho nên khi phía CSBV dùng AK.47 nhưng VNCH vẫn dùng Garant M.1 bắn từng viên một. Vì Harriman đã có ý đồ trong thời gian thế chiến-2, [trong kế hoạch Aid to Russia 1941-1946 Plan] đang là đại sứ Mỹ tại Liên Xô (1943-46), Harriman cũng thúc dục công nhân LX sản xuất vũ khí cứ tha hồ mà cho ra hàng loạt như T-34, -54 chẳng hạn sẽ có chổ tiêu thụ sau nầy. Ðó cũng là ỷ vào vị thế chủ nợ nên buộc LX phải tham dự trò chơi chiến tranh CIP và NLF với điều kiện dễ-dãi là không cần quân LX tham chiến như tại Triều tiên cũng như VN mà chỉ có lợi ích duy nhứt là công nhân LX có việc làm ăn như sản xuất vũ khí trong khi dư thừa nhân lực cần có công ăn việc làm sau thế chiến. Harriman đả tước quyền làm chủ của Chủ hãng xưởng tại LX, nói về business Costumer mới là người nuôi công nhân, người chủ làm gì có tiền để trả!?!?

Nói theo lời mộc-mạc của dân Miền-Nam, thế thì ông William Averell Harriman là ai mà “thấy ghê” vậy? Là người của giai-cấp thống lãnh nước Mỹ, người đặt đẻ ra chính sách, đường lối chủ trương sách-lược của Mỹ, mà ông là tiêu-biểu (Tôi xin lập lại một lần nữa, trong tác phẩm nầy, một đoạn của bình luận gia danh tiếng Gore-Vidal…”Tất cả mọi kế hoạch hay chương trình được đưa ra, trên hình thức coi như là chính sách Quốc-Gia, nhưng trong thực tế là để phục vụ quyền lợi của giới Đại-Tư-Bản, American First”).

Harriman đã từng áp lực Tổng-Thống Truman phải triệu hồi và giải nhiệm Đại-Tướng Mac Arthur liền tức khắc; Dĩ nhiên, TT Truman phải ít nhiều do dự rồi cũng phải giải nhiệm một Tướng tài ba mà nhân dân Mỹ yêu thương cũng như các nước ở dọc Thái Bình Dương quý mến, khi thấy Arthur đại diện Hoa Kỳ cùng ký hiệp định Nhựt đầu hàng. Tại sao? Theo sách lược Eurasia, thế kỷ 20 bạo hành thế kỷ 21 hòa giải trên bàn mổ LHQ buộc tạo thành trật tự thế giới mà Harriman cho là New World, vì thế phải cách chức tướng Mc Arthur để đưa TQ vào LHQ, còn tại chiến trường VN phải cách chức tướng Westmoreland để thống nhứt VN cho quyền lợi Mỹ đúng 3 thập niên chiến tranh để tiêu dùng và thí nghiệm vũ khí, rồi mới cho phép VN độc lập thống nhứt, nhắc lại lời hứa độc nhứt của Hoa Kỳ khi không chịu ký chia đôi VN. Thế nên CIA phải tài trợ đảng Việt Tân, Vỏ Văn Ái tại Pháp, và nhiều thành phần trí thức đánh bóng ngày 30/4 là ngày Quốc khánh VN được thống nhứt qua chiến dịch HCM là người QUỐC-GIA đã giành lại độc lập từ tay ngoại bang. Permanent Government đã phải dùng một TNS tù binh bị Hà Nội hành hạ độc ác nhứt, đến nỗi Mc Cain đã 2 lần toan tự sát nhưng bất thành, để nói lên sự thật: (trích một đoạn trong sách “The New Legion” Vinh Trương) The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent Government, was explained the Vietnam-War in universities 1960: “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était “un nationaliste” qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Once McCain came back at Hoa-Lo “Hilton Prison, he said “The bad guys won the war!”.

Harriman lý giải cho rằng cuộc đổ quân Mỹ trên bờ biển Inchon, Triều Tiên thành công là do Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự George Kennan của ông thiết kế chớ không phải do tài của các tướng-tá, cũng như ông muốn Võ Nguyên Giáp trở nên nổi tiếng vì nhu cầu chiến lược cuộc chiến VN như một công cụ gián tiếp cho quyền lợi Mỹ, vì thế sau khi bi oanh tạc 11 ngày đêm Hà Nội tuyên bố đầu hàng Mỹ đâu có chịu vì theo lịch trình Hà Nội được chỉ định “Chiến thắng Ðiện Biên Phủ dưới đất và trên không 1954 và 1972” chứ sự thật Giáp thiếu căn bản quân sự, điều dễ hiểu: chả lẽ tất cả sĩ quan BV đều là thiên tài hết? Trong khi không tốt nghiệp một trường ốc đại học quân sự nào?

Đứng trên phương diện quân-sự thuần túy, bỏ qua chính-lược, ngay đến những người lính Hải-Quân bình thường cũng không dám chọn Inchon làm bãi đổ quân; Vì nơi đây toàn là San-hô và đá ngầm, tàu đổ bộ chỉ có đi vào mà không đi ra vì San-hô và đá ngầm sẽ đánh, cắt thủng và chìm tàu; Với tư-tưởng và góc nhìn của con mắt Đại Tư-Bản, Harriman cần đổ quân an-toàn và lấy yếu tố bất ngờ mà địch quân không thể tưởng-tượng được để bảo vệ 100% cho sinh mạng các Binh-sĩ và nơi đây cũng là cái ‘thùng rác’ để hủy bỏ các tàu nầy, vì quân đội Mỹ sẽ phải trang bị trong tương-lai loại tàu tối tân hơn. Còn hành quân LS 719 phải tiêu hủy nhiều trực thăng với gần 800 khẩu phòng không cổ điển, cả hai đều phải hủy bỏ tại thùng rác lộ thiên nầy bắng tính dụng của Mỹ cho kế hoạch “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed” dĩ nhiên phải chấp nhận sự hy sinh nhiều đoàn viên phi hành Army Aviation cho cuộc chiến vì America First.

Cuộc đổ quân tại Inchon cũng không khác gì cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy, chỉ khác ở chỗ là, Inchon bảo vệ sinh mạng con người Mỹ, còn Lam Sơn 719 tiêu diệt con người bản xứ được gọi là Cộng Sản/Quốc Gia.. Duy có một điều giống nhau là, Tư-Bản sản xuất ra các loại vũ-khí mới và hủy bỏ những chiến cụ lỗi thời tại nơi hành-quân và có sự cấu kết, đồng lõa của Liên-Xô cùng phế thải tại vùng núi-non hiểm-trở đó, những chiến cụ dư thừa, lỗi thời từ Thế chiến thứ 2. Trước khi từ giã chính trường, Harriman lại áp-lực Hành-Pháp cách chức Tướng Westmoreland và triệu hồi về Mỹ giống như Tướng Mac Arthur; Lý do đã công khai xác nhận trong một buổi họp ở Thượng-Viện. “Lực-lượng Đồng-Minh nên đánh qua Nam-Lào, để cắt đứt đường “Xa lộ Harriman” [mòn Hồ] phá tất cả ống dẫn dầu và hệ thống tồn trữ vũ-khí của CS” Cũng như Tướng háo thắng Mac Arthur, ngày 5/April/1951 gởi thơ cho Dân-Biểu Joseph Martin, lãnh-đạo dân tộc thiểu số; Xin được phong tỏa dọc bờ biển Trung-Quốc và tấn công những Căn-Cứ ở Mãn-Châu (Manchuria) có sự hiệp lực với Quân-Đội Trung-Hoa Quốc-Gia ở Đài-Loan; Vì trước đó Tướng Arthur có xin phép TT Truman để đánh Trung-Quốc dựa vào độc quyền Bom nguyên-tử, nhưng TT Truman bị sức ép của W A Harriman nên từ chối cho là quá nguy-hiểm, (Dĩ nhiên tướng Arthur làm sao hiểu nổi Harriman muốn đặt TQ vào ngồi chiếc ghế hội-viên LHQ, nên phải bỏ rơi THQG và VNCH, đem Hạm đội 7 vào gần Đài Loan là chận Mao làm ẩu chiếm Đ.L chớ không phải làm thịt Mao) Tướng Arthur lại qua mặt TT Truman bằng cách viết thư cho Toà Lập-Pháp với mong muốn Quốc-Hội sẽ chấp thuận. Kết cuộc, Tướng Mac Arthur bị giải nhiệm vì lý do mà TT Truman cho rằng: “không được quyền phát ngôn về chính sách Quốc-Gia” (Unauthorized Policy Statements) giấy chứng-từ giải nhiệm Tướng Arthur do đích thân Harriman soạn thảo văn thư để cho TT Truman ký khán.

Tưởng cũng nên biết qua tiểu-sử của W.A.Harriman: Ông sanh vào ngày 15/Nov/1891 tại New-York. Là một chính khách gây nhiều ảnh-hưởng lôi cuốn người khác theo mình, là một Cố-vấn lỗi-lạc, kiệt xuất trong ngành ngoại-giao và đặc biệt là thủ-phạm số ‘Một’ trong mưu đồ giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa Việt-Nam. Tốt nghiệp Đại-học Yale 1913, ông hưởng một gia tài kếch xù của người cha là E.H.Harriman, người có nhiều thế lực trong ngành Hỏa-Xa, năm 1916 cai quản thêm một xưởng đóng tàu. Từ năm 1917 đến năm 1925 là đầu nậu của một Công-ty thương thuyền, Harriman cai quản một đội thương thuyền lớn nhất Thế-giới. Ông mới thật sự là giai cấp Đại Tư-Bản, giai cấp thống lãnh nước Mỹ.

Năm 1930, Harriman bỏ cuộc hưởng giàu sang ra chính trường để dấn thân bảo vệ quyền lợi cho giới Đại Tư-bản? Hay ông là người Ái-quốc dấn thân để bảo vệ Tổ-Quốc khỏi rơi vào tay Chủ Nghĩa Cộng-Sản? Cả 2 trên đều đúng, bằng chứng, tới giờ nầy nước Mỹ vẫn là Đệ-Nhất Anh-hùng trong thiên hạ; Thoạt đầu, ông phục vụ trong ngành Hành-Pháp của Tổng-Thống Franklin Roosevelt với chức vụ rất khiêm nhường trong Bộ phục hồi Quốc-Gia (National Recovery Administration) Cố-vấn Hội-đồng thương mãi kiêm quản-lý sản-xuất, kiêm ngành vật-liệu thô (raw materials) Sau một thời gian học hỏi lấy đà, Harriman được Roosevelt chọn làm sứ-thần đặc-biệt, phối hợp trung gian hợp-đồng mua bán giữa Liên-Xô và Anh-Quốc (1941-1943) và năm 1943 ông muốn được bổ nhiệm làm Đại-Sứ tại Moscow cho sách lược chia đôi hai quốc-gia Đức, Triều Tiên và Việt Nam được trôi chảy theo đúng trục lộ trình do nhóm tham mưu của Harriman thiết kế.

Trong suốt thời gian làm Đại-Sứ 1943-1946, Harriman được người Nga kính mến vì đã đem rất nhiều phúc lợi cho họ, mục tiêu của Harriman là nhắm vào giai cấp sản xuất [công nông] của Liên Xô, tại sao chủ nghĩa Cộng sản đối xử con người như Bầy-Ong, Bầy Kiến? Harriman tin vào chế độ dân chủ, bởi vì dân chủ đã mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người, hảy xây dựng thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ! Ngược lại, Harriman cũng không muốn người Nga và Âu-Châu sẽ đổ máu vì chiến tranh cứ liên tục xảy ra trên Lục-địa văn minh nầy; cũng như theo ông đang xảy ra Đại chiến-2 và từ đó trong tâm ông đã nẩy ra tư-tưởng đổi vùng bạo-loạn hay nói trắng ra là “đổi màu da trên xác chết” được gọi là hoạ da vàng, mà mãi đến sau nầy (năm 1964) Giáo Sư Francois Xavier Winters mới cho rằng cuộc chiến Việt-Nam là một cuộc chiến thế mạng (surrogate) “một cuộc tế thần, lấy da Vàng thế vào chỗ da Trắng!” được thể hiện qua tình cảm với một nước [Nga] bị nhiều lần ngoại bang xâm chiếm (Pháp, Đức, Nguyên-Mông) Harriman là tác giả của hai Tác-phẩm: Peace with Russia (1959) và American and Russia in a Changing World (1971) Đọc xong 2 cuốn nầy, và phối kiểm với ROE (Rules Of Engagement) trong cuộc chiến VN, người ta có cảm tưởng Ông như một người ‘Nga-kiều’ yêu nước, nhưng thật sự không phải vậy mà ông muốn cải biến chế độ Cộng Sản thành Siêu Cộng Sản toàn vẹn như nước Mỹ sau nầy, và chỉ có Liên Xô trong ngôi vị số-2 cho mục tiêu giải trừ hoạ Da-Vàng đang là nguy cơ hăm doạ nhân loại; LX là nạn nhân bị dân Tàu lấn đất giành dân ở cực đông nam LX. Đến thời Tổng-Thống Harry S Truman, Ông phục vụ với chức vụ Bộ-trưởng Thương-mại (1946-1948) Giám-đốc chương trình Marshall, tái thiết Âu-Châu (1948-1950) Người Đại diện của Hoa-kỳ trong Minh-Ước Bắc Đại Tây-Dương (NATO) và cũng là Ủy-viên nghiên cứu phòng thủ Tây-Âu (1951) Trong thời gian nầy, Harriman xử dụng William E Colby một nhân viên tầm thường của Tòa Đại-Sứ Hoa-Kỳ ở Stockholm và Rome để điều hành thuê mướn những dịch-vụ loại trừ phe Tả cũng như Cộng-Sản trong những nước Tây-Âu bằng công-cụ vô cùng hửu-hiệu là Mafia, thế nên Harriman rất có kinh-nghiệm khống-chế bộ máy Hành-Pháp của các vị Tổng-Thống nước Mỹ sau nầy. Nếu ta nhìn cho kỹ thì quả thật nước Mỹ lảnh đạo bằng một Ðảng siêu Mafia Skull and Bones, (Đả lâu lắm rồi, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter (1882 – 1965) đã dám nói trước khi chết) “Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.” tất cả đều tốt nghiệp từ lò luyện thép duy nhứt: Ðại học Yale và Harvard chỉ là công cụ chuyên viên cho Yale như 4 đời giòng họ Bush và Harriman.

(CÒN TIẾP)
vinhtruong
10-15-2011, 02:22 AM
Năm 1950, Khi chiến tranh Triều-Tiên bắt đầu, sáng lòe trong tâm tưởng của ông, đã đến lúc ông phải thực thi những gì mà ông hằng đeo đuổi. Harriman tức tốc bay về gặp TT Truman, xin ở ngay tại văn phòng điều hành (Executive Office Building) bên cạnh TT Truman như là một người phụ-tá về những dịch-vụ An-Ninh Quốc-Gia. Ông đề nghị TT Truman cho ông tháp tùng với Trung-Tướng Matthew Ridway đến Tokyo gặp Tướng Mc.Arthur, mục đích chuyến đi nầy là căn dặn Tướng MacArthur đừng có gây hấn với Trung-Quốc cũng như xúi bẩy Đài-Loan ăn phần vào và Ông cũng bảo-đảm cho Mc Arthur đổ bộ vào Inchon mà không sợ bị Liên-Xô can thiệp vì Liên Xô là bầu-bạn gắn bó ngầm với Mỹ qua tiền viện trợ giúp-đỡ tính dụng của công ty Harriman Co. Aid to Russia 1941-1946 Plan.

Quả thật sự hoài nghi của Harriman thành sự thật, nên ông buộc lòng phải ép TT Truman giải nhiệm cả hai ông, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Louis.A.Johnson và Tướng McArthur; Harriman đề nghị vị Tướng tay chân của ông lên thay thế Bộ-Trưởng Quốc-Phòng là Tướng Bộ-Binh, George C. Marshall. Harriman thay mặt cả Truman soạn thảo công lệnh, Tướng-lãnh không được tuyên bố vung-vít về Sách-lược Quốc-Gia nữa, rút ra từ sự giải nhiệm Tướng Arthur; Trong năm nầy (1950) Ông tuyển chọn những tài hoa kiệt xuất của Hoa-Kỳ vào làm việc tại một Viện Nghiên-Cứu đặc biệt mà phần trên tôi có giải thích chưa rõ đó là Nhóm Tham-Mưu Dân-Sự của lý thuyết gia George Kennan, gồm nhiều học giả nghiên cứu khác nhau và đây là ‘những hoàn-ngọc ẩn của nước Mỹ được hoàn toàn dấu kín cho cơ mật quốc gia.

Một học giả sáng chói trong Nhóm nghiên cứu nầy cho biết: Chắc-chắn sẽ xảy ra cuộc chiến tranh nguyên-tử ở Âu-Châu, hậu quả sẽ tàn phá Bắc bán-cầu, bao gồm Âu-Châu, Mỹ, Canada. Học-giả nầy đề nghị nên đổi trục chiến tranh qua Á-Châu và cũng để giải tỏa sự thăng bằng nạn nhân mãn cho thế-giới “Họa Da Vàng,” Đó là nguyên nhân thãm trạng chiến tranh Việt Nam phải xảy thay vì theo trào lưu tiến hoá của phong trào giải trừ chế độ thực dân (decolonalism) mà hơn 60 nước trên thế giới đã tìm sự độc lập cho dân tộc mình trước 1960. Thế thì xuất phát tại nơi nào ở Châu-Á: Theo nhận thức của giáo-sư Sử-Điạ, George Kennan: Tất cả những loài động vật trên trái đất đều có khởi nguyên của nó, có đường Hưu-Nai chạy, loài Kiến biết trước trời giông bão, cũng có đường bầy Voi qua lại (La Piste des Elephants) cho đến hang động sau cùng gởi nắm xương tàn của chúng, vì chúng có linh-tính biết trước ngày chết. Còn loài người thì có con đường gây ra bạo hành do cơ trời “thiên-hạ đại loạn” Từ Đại-Đế La-Mã, đến Nã-Phá-Luân, đến Hốt Tất-Liệt (Khoubilai) cho đến Đức-Quốc-Xã, Quân phiệt Nhựt…cái trục ‘bạo-loạn’ đó vẫn là từ Âu sang Á, sang Nga, Ba-Tư, Đông-Âu, Nam-Âu, Ai-Cập, tràn qua Thổ-Nhĩ-Kỳ (turkey) Iraq, Iran, Ấn-Độ…phía Đông Tân-Cương, Tây-Tạng, Nội-Mông, Mãn-Châu, Cao-Ly, bao trùm cả Trung-quốc nhưng khi đến Việt-Nam thì bị khựng lại; như quân Nguyên-Mông đã 3 lần dừng bước tại Việt Nam vì thua trận phải chạy về Xứ. Kết quả, Harriman chọn Triều Tiên làm “diện” phát khởi còn Việt Nam làm “điểm” tận cùng ở Á-Châu, là cái trục dứt điểm chuyển hướng từ bên trời Tây hướng về trời Đông, lấy Đông-Dương làm nơi chạm tuyến sau cùng (Jet-stream front).

Giáo-sư Sử-địa, William A.Withington tại Đại-Học Kentucky thì cho rằng: qua Lịch-sử, người dân ở các nước Á-Châu, nhất là Vùng Đông Nam-Á không thích sự đô hộ của người da trắng, dù rằng chủ nghĩa thực dân không còn nữa, muốn lấy lòng họ nên để cho người cùng màu da hay may ra chế độ CS dầy xéo lên đất họ một thời gian lâu mau tùy trình độ dân trí giác ngộ. Theo như ý đồ của Harriman, nên dựa vào chiến thắng Điện-Biên-Phủ để tạo cho phe Cộng-Sản một uy tín rất cao đẹp, lần đầu tiên một Nhóm Du-kích Á-châu đã đánh bại một đạo quân của một cường quốc Âu-Châu, rồi trở thành mô hình gương mẫu cho các phong trào giải phóng dân tộc khác, gồm gần 60 Nước trên toàn thế giới, như ở Bắc-Phi, Nam-Dương, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai, Phi-Châu, Trung Nam-Mỹ, và Trung-Đông..Phía Thế-Giới Tự-Do bị đẩy vào vị thế phòng thủ; Làm thế nào để phục hồi chính nghĩa, kéo họ về với Mỹ…? Sau một thời gian kinh qua thế sự, dù Hồ-Chí-Minh đã bị dụ-dỗ để trở thành Đồng-Minh của Mỹ cũng phải chờ thêm một thời gian trắc nghiệm coi cho được; Vì “Freedom is not for Free!” nên để Việt Nam phải trả một cái giá cho sự Tự do của Họ như tại đất nước Mỹ lịch sử đả chứng minh qua Concord. Dù rằng, theo tin từ tình báo Quân-Đội OSS, nhóm Hồ là một tổ-chức có kỷ-luật vững chắc, chấp nhận gian nguy chiến đấu chống Nhật và giúp Mỹ tìm cứu khi Phi-công bị nhảy dù xuống vùng của họ. Hành-Pháp Mỹ thời TT Truman bị Harriman ép buộc phải từ khước lời thỉnh cầu của Cụ Hồ, tháng 8 và 9 năm 1945 qua 8 bức thư xin Mỹ bảo đảm độc lập như Phi Luật Tân như bảo đảm Hiến pháp VN giống y chang như Mỹ, trong khi HCM đang kiểm soát Hà-Nội, và đặt hoàn toàn niềm tin tuyệt đối vào Mỹ.

Hồ-Chí-Minh cầu khẩn qua trung gian của văn phòng “Cơ-quan Chiến-lược” Hoa-kỳ, đã gởi yêu cầu lên TT Truman xin cho Việt-Nam được hưởng quy chế như Phi-Luật-Tân để được bảo hộ trong thời gian giành độc-lập; Từ tháng 10/1945 cho đến tháng 2/1946, Hồ đã viết cho TT Truman ít nhất 8 văn-thư, chính thức kêu gọi Hoa-kỳ và Liên-Hiệp-Quốc can thiệp để ngăn chận chính sách thuộc địa của Pháp cho thích hợp theo trào lưu hiện tại, nhưng … cứ cho rằng nghiệp quả thiên định cho dân Việt như sách lược “vòng Kim-Cô” của Harriman áp đặt lên trên dầu dân tộc VN 30 năm theo thiết kế của Kennan 1945-1975 rồi mới được độc lập thống nhứt (một chứng liệu đả có trong thiết kế nho nhỏ do anh ThienLe: tài liệu của US Defense Supply Center Philadelphia (DSCP) thì C-ration used trong chiến tranh Việt Nam là phần thặng dư còn lại trong Đệ Nhị Thế Chiến (WWII).

Tổng-Thống tiền nhiệm Franklin D. Roosevelt cũng được Harriam thuyết phục: “Hoa-Kỳ chủ-trương không để cho Pháp trở lại Đông-Dương và đề nghị đặt Việt-Nam dưới quyền quản-trị tạm thời của Liên-Hiệp-Quốc” Điều quan trọng ở đây là theo ý-đồ toan tính của Harriman, khi Liên-Xô và Trung-Quốc cùng nhau công nhận Hồ-Chí-Minh vào tháng 1/1950, thì cũng đúng vào lúc mà William Averell Harriman cảm thấy phải thật sự dấn thân nhảy vào chính-trường để bảo-đảm sự phồn vinh cho quyền lợi nước Mỹ [đây tôi muốn nói có phần nguồn dầu khí ở thềm lục địa VN qua sự phát hiện của Vệ-tinh tình báo spy satellite] Liền sau đó ông tuyển mộ những nhân tài học giả kiệt xuất để nghiên cứu giúp ông trong vấn đề chiến thắng ý-thức-hệ Cộng-Sản trong chiến tranh lạnh (Cold War) Harriman coi trọng Nhóm Học-Giả Dân-Sự nầy là bộ óc của nước Mỹ. Tôn chỉ, nên dùng một ‘đấu pháp’ tuy nhẹ nhàng với Liên-Xô nhưng phải chiến thắng đối thủ qua môn võ-thuật, dùng sức mạnh tối đa của địch để tạo thành sức mạnh của ta ‘trong cái thế bên kẻ mạnh’ (on strong-man side) mà chúng ta cần sẽ phải áp dụng tại Đông-Dương: Hãy tạm bỏ qua thuyết Domino cũa Eisenhower. Ðó là lý do sâu-xa mà Harriman không muốn Hoa-kỳ ký tên vào Hiệp định Genève-1954 chia 2 miền Nam và Bắc! Ranh mãnh trong vấn đề hiệp định Geneve nầy để vỗ ngực chỉ có Hoa Kỳ là muốn Việt Nam được thống nhứt cho thế chiến lược toàn cầu của Mỹ với thâm ý xô đẩy VN vào cuộc chiến huynh đệ tương tàn cho mưu đồ quyền lợi của thế lực trong Hội Đồng Kỹ Nghệ quốc phòng. Nhưng rốt cuộc cũng vào quĩ đạo cũa Mỹ tuy được độc lập thống nhứt dưới cái dù của Mỹ, và phải trả một cái giá quá đắt ? Vì freedom is not for free.

William Averell Harriman (1891-1986) kiến trúc sư cuộc chiến VN
Trong những nhân vật sừng-sỏ trên đây, chỉ có W.A. Harriman là người có nhiều tham vọng, nhưng thật ra ông cũng là một thiên tài “giấu-mặt” làm nên lịch-sử Hoa-kỳ. Theo cá nhân tôi nghĩ đem so với Quân sư Gia-Cát-Lượng để đánh giá thì Harriman quả thật xứng đáng là một “Đại-đế giấu mặt” không những trong nước Mỹ mà cả thế giới; báo chí thời đó cũng như hai văn hào Walter Isaacson và Evan Thomas mô tả Harriman là người lãnh đạo trong Nhóm “Sáu người thông-thái” nắm vận mệnh thế giới. Riêng Harriman biết xử dụng đồng tiền của người Cha để lại và mở kinh doanh ngân hàng W.A.Harriman and Company rồi trở nên Tổng Giám-Đốc đội thương thuyền lớn nhất thời đó, năm (1917-1925) Sự thành công theo phóng đồ thẳng đứng của ông làm “thôi miên” giòng họ Bushes, trong đó có George Herbert Walker, là tiền bối bốn đời của TT Bush-Con, Tổng-thống thứ 43 của Hoa-kỳ và ông Prescott Bush là cha của George H.W. Bush, Tổng-thống thứ 41 của Hoa-kỳ. Thật cũng là điều lạ, ở trên đời nầy ít ai chịu thuần phục một kẻ nhỏ hơn mình 16 tuổi như so sánh Harriman với Walker, ấy thế mà cả hai ông Bushes nầy đã thích-thú học-hỏi, tự-nguyện làm thành viên trong thương nghiệp mà người Chủ là Harriman; Chẳng bao lâu từ một người đại-lý buôn bán vỏ xe khiêm-nhường, Ông nội Bush con là Prescott Bush đã trở nên nhà triệu phú, với số tiền chuyên ngân từ Fritz Thyssen (Đức).
Harriman, tuổi vừa tròn 27 và mới tốt nghiệp 4 năm Đại-Học Yale; Năm 1917, lợi dụng trong thời chiến áp-lực chính quyền phải ký hợp đồng vào sự nghiệp đóng tàu hàng-hải dù cha Ông nổi tiếng là ông Vua về sở hỏa-xa. Harriman đóng tàu thành công trong thời chiến, chẳng bao lâu Harriman trở nên ông Vua về đội thương thuyền hàng hải lớn nhất vào thời đó, được củng cố phát triển qua danh xưng United American Lines, ông đặt vào trọng tâm tham vọng lợi nhuận qua hợp đồng với nước Đức bằng đường hàng-hải Hamburg-American Trong khi hơn nửa thế kỷ, người ta đều nghe danh ngân hàng tín dụng thương mại Quốc-tế BCCI (Bank of Credit and Commerce International) do sư tổ dòng họ Bush, George Herbert Walker sáng lập truyền lại cho cả dòng họ Bush sau nầy.

Trong Đảng Công-Ty, đáng kể là nhánh Cộng-Hòa có dòng-tộc Rockerfeller và Stillman, nhưng tất cả không ai chịu dấn thân ra làm chính khách để bảo vệ quyền lợi Công-ty, mặc dù phần đông, bản chất của họ phát xuất từ Đảng Cộng-Hòa. Đứng trên góc cạnh nước Mỹ, Harriman là một thương gia giàu có, một chiến lược gia có tằm cở quốc tế, một chính trị gia có tầm nhìn sâu-sắc, một chính khách lỗi-lạc, một nhà ái-quốc hiếm có, một đảng viên Dân-chủ đúng nghĩa để lo cho quyền lợi của tất cả Tập đoàn Tư bản không phân biệt lớn nhỏ, chịu dấn thân xa rời sự hưởng thụ giàu sang, hy-sinh và tận-tụy cho sự hùng-mạnh của đất nước Hoa-Kỳ. Yêu nước là yêu Tư-bản Chủ-nghĩa, vì Hoa-kỳ là tiêu biểu.

Khi Cách Mạng Nga thành lập chính quyền (năm 1917) và thành phần Tư-sản bị đày ải cho đến chết tại vùng đông lạnh Tây-Bá-Lợi-Á (Siberia) Harriman nhìn xa hơn vào lá cờ ‘Búa-Liềm’ ông đã đặt nhiều quan tâm đến giai cấp Công-nhân là chính, ông không sợ những giáo điều của Lenin sẽ đi vào thực tế như tư tưởng Lenin: “Trước hết, chúng ta sẽ chiếm Đông-Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á-Châu, sau đó bao vây Hoa-kỳ và thành lũy cuối cùng của Chủ-nghĩa Tư-bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa-kỳ cũng sẽ phải rơi vào tay chúng ta như một trái cây đã chín rục. Vì thế đã là người Cộng-Sản phải đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù là giai cấp Tư-Sản” và ‘Chính sách cải tạo’ là kỷ thuật đánh lừa người Tù “luôn luôn làm cho chúng có ý hy-vọng được tự-do, chuyển trại thường xuyên để nuôi dưỡng hy-vọng giả tạo đó, cuối cùng chúng gặp nhau và chết ở Siberia còn ở Mỹ là Alaska.

Sau nầy Phạm Văn Đồng và toàn thể CBCS cũng nghĩ như vậy: “Đem 10.000 nhân viên quan chức miền nam có nợ máu với nhân dân ra đày ải ở vùng sơn cước thâm u nầy cho chúng chết lần chết mòn tại Siberia/VN, bằng cách cho chúng ăn thật ít bắt chúng làm thật nhiều”; duy chỉ có Mafia-Lê Đức Thọ thì biết chắc chúng sẽ nối tiếp theo sau diện ODP.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-15-2011, 03:07 PM
Harriman không căm ghét người Nga mà trái lại Ông rất có cảm tình với người Nga qua nỗi lòng của Ông, lồng vào hai tác phẩm “Peace with Russia” 1959 (hòa bình với Liên-Xô) và “America and Russia in a Changing World” 1971 (Hoa-Kỳ và Liên-Xô cùng thay đổi cục diện thế-giới) Một tư-tưởng vĩ-đại đang nảy sinh trong khối óc của ông, người Công-nhân và Nông dân là nguồn nhân lực “sản xuất”, xứng đáng được hưởng những của cải do họ làm ra, nổi bật hơn, là tại sao không để cho họ chia phần làm chủ (Profit Sharing) ông vẽ ra một thế-giới phồn thịnh do người công-nhân sản xuất ra của-cải và chỉ có vài người bỏ vốn đầu tư thì chính họ mới là người lãnh-đạo, vì trên thực-tế “người nào chi tiền người đó chỉ-huy” (như trong chiến-tranh Việt-Nam, có lần Tướng O’Daniel nói toạc ra ‘ai chi tiền người đó chỉ-huy) Sự bỏ vốn đầu tư ở Liên-Xô không ngoài mục đích trên và sau nầy là Trung-Quốc; Đây là hình thức cũng như chân lý thực tế nắm chắc giai cấp thợ thuyền một cách tinh-vi với giá rẻ mạt, nhưng căn cứ trên sự hài lòng tự nguyện, thay vì đối xử với Họ như bầy Ong bầy Kiến, Harriman mảnh liệt tin tưởng phải xây dựng thế giới thành nơi an-toàn cho nền dân chủ, bởi vì chế độ Dân chủ sẽ mở rộng để tiếp nhận tất cả năng lực của con người.

Thật vậy, khi cướp được chính quyền vào năm 1917, hăng say trong chiến thắng, Lenine thường chủ quan với đề tài: Cộng-sản, Tư-bản, ai thắng ai?” Và càng đi xa hơn bằng cách tuyên bố: “Tụi Tư bản, nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta mua dây thòng lọng để treo cổ chúng nó, thế mà chúng nó vẫn sản xuất và bán cho người ta” Từ đó đến nay đã gần 100 năm, và nếu chúng ta lấy mốc điểm thời gian 160 năm khi Karl Marx (1818-1883) viết tuyên ngôn thư Ðảng Cộng sản, suy ngẫm những biến cố lịch sử đã xảy ra: Chúng ta thấy nó hoàn toàn trái ngược lời tiên tri của Marx và Lenine. Marx tiên tri là Tư bản dãy chết, cách mạng tất yếu sẽ xảy ra tại những nước Tư bản, Lenine tiên đoán Cộng sản sẽ treo cổ Tư-bản; Nhưng Tư bản không dãy chết, không bị Cộng sản treo cổ, mà ngược lại, câu nói của Marx trở thành: Cộng sản dãy chết. Cách mạng tất yếu sẽ xẩy ra tại các nước Cộng sản “Và câu nói của Lenine cũng trở thành: “Tụi Cộng sản nó vừa ngu và vừa tham. Tham và ngu đến nỗi, nó biết người ta bán Coca Cola, Mac Donald, quần Jeans, hàng hóa cho nó, để dụ nó vào sập-bẫy, để bóp cổ nó chết, nhưng nó vẩn cứ mua!” W.A Harriman quả thật là một chiến-lược gia thiên tài, nếu chúng ta nghiên cứu chiến lược “Eurasian” của Skull and Bones đánh sập các nước Liên Xô và Ðông âu, thì chúng ta thấy họ đến với các nước nầy đầu tiên bằng những bang giao kinh tế, thương mại, đến với Coca Cola, Mac Donald, sau đó từ từ biến kinh tế quốc doanh thành kinh tế tư doanh, với tuyệt chiêu là “tối-huệ-quốc” làm cho xã hội dân sự các nước nầy mỗi ngày một trở nên mạnh; dỉ nhiên Ðảng và nhà nước CS mỗi ngày một yếu đi, đến lúc không thể cưỡng lại được, thì chế độ sụp đổ. Lẽ tất nhiên sự sụp đổ của Liên Xô và Ðông âu còn nhiều lý do qua sự nối-tiếp điều hành kiệt xuất của giòng họ Bush: Chiến tranh Tình-báo Phản-gián là một cú đấm sau cùng của loài Ma Ðầu-lâu Skull and Bones, vì đi với Ma phải mặc “Áo-Giấy” là vậy, cho nên Harriman không ngại ngùng khi sáng lập ra Ðảng Ðầu-lâu Xương-người. [Skull and Bones]

Ngày hôm nay, Hoa kỳ cố gắng đưa-đẩy Việt Nam vào Tổ chức Thương Mại Quốc-tế (WTO) theo lộ-đồ, giúp VN trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo An LHQ, rồi có Vệ-tinh riêng để bảo vệ lãnh thổ (Hoa-kỳ đã hủy diệt những thám thính cơ bí-mật với âm mưu tìm kiếm hơi đốt cũng như dầu hỏa trên thềm lục địa VN, [kẻ lén lúc dọ thám tìm mỏ, nhưng có người âm thầm triệt hạ cho biết tay mảnh vun rớt trên đảo Phú Quốc] Kẻ bành trướng không chịu hiểu: “Cái ổ con Ó-Mẹ làm ra không thể Le-Le hay Vịt trời-Con nở ra nơi đó!”) Tình báo Hoa-kỳ theo lộ trình sơ khởi về phát họa những chiến thuật ngắn hạn, nằm trong một chiến lược dài hạn, đó là thay thế mô hình tổ chức xã hội độc đoán, độc tài CS, bằng mô-hình tổ chức xã hội Dân chủ, Tự do và kinh tế thị trường. Hoa kỳ tiên đoán theo lộ-đồ: Chế độ Cộng sản chỉ sụp đổ dưới Ba sức ép:
– (1) Nhất là giới trí thức, sĩ phu, sinh viên, học sinh sẽ phải can đãm đứng lên đấu tranh càng ngày càng đông hơn, đấu tranh cho quyền sống và quyền làm người
– (2) Sức ép đến từ quốc-tế, đến từ hành động của Cộng đồng người Việt hải ngoại
– (3) Sức ép đến từ sự rạn nứt, (đây là tuyệt chiêu của CIA) chia rẻ trong Ðảng Cộng sản qua tố cáo chỉ mặt các quan chức tham nhũng.

Dưới thời Cách-Mạng Nga thành lập chính quyền năm 1917 bởi Aleksandr Kerensky, đảng Công-ty nầy cho mượn ngay tín-dụng số tiền là 325 triệu dollars để mua các vật liệu làm chiến-cụ, dĩ nhiên vật liệu nầy phải từ Hoa-Kỳ chuyển qua Liên-Xô. Mặt khác Harriman với con mắt nhìn xa thấy rộng, đang dòm ngó nguồn tài nguyên ‘dầu khí’ và mỏ ‘manganese’ để luyện thành hợp kim ‘alloy’ làm vũ-khí, nhất là các túi dầu chạy dài dọc theo các nước Cộng-Hòa Trung-Á đang nằm sâu dưới lớp Tuyết dày đặc mà chỉ có Hoa-kỳ mới có đủ khoa-học và kỷ-thuật để khai thác. Một tư-tưởng kinh-dị về “Eurasian Great Game” đang thoáng in sâu trong óc của Harriman từ dạo đó (1920) Đây là một kế hoạch chiến lược dài lê thê đến hàng thế kỷ mà một đời người không đủ thời gian đảm trách.

Harriman chụp lấy cơ hội nhảy vào chính-trường, Thủ-tướng Anh, là Winston Churchill và Chủ-Tịch Liên-Xô, Stalin biết mọi việc ở Mỹ qua Harriman; Trong suốt thời gian Đệ II thế chiến, Harriman là người trao mật tin giữa London và Moscov, ông chọn con số cho gọn trong hồ-sơ phối hợp giữa hai bên là 322 (his diplomatic case the numerals 322) cho tiện giữ bí mật. Dù rằng cuộc đời thương-mại đang quá thành công trong việc làm ăn với hai chính quyền đang xung đột với nhau là Đức và Liên-Xô. Bên cạnh đó Công-ty Remington-Arms của Rockerfeller lại buôn lậu bí mật vũ-khí từ Hoa-kỳ bán cho Đức qua ngã Holland vào đầu năm 1930; Đối với Tập-đoàn Tư-bản nầy chỉ biết có quyền lợi qua đồng Dollar, không có bạn mà cũng không có thù, chỉ có quyền lợi quyết định sự liên-minh.

Harriman bỏ ngành Hỏa-xa qua ngành đóng tàu chiến và trở nên Đại-đế ngoài nước Mỹ, (Overseas-Empire) Theo như báo chí Saint-Louis thời đó mô tả, khi con người quá thành công về tiền-tài thì người ta lại muốn bước vào đài danh-vọng, Harriman biết chuẩn bị cho mình rất chu đáo để trở nên một nguyên thủ Quốc-gia Hoa-kỳ. Nhưng Chúa lại không chìu lòng người, hai lần ra ứng-cử đều bị thất bại, năm 1952 và năm 1956; Mặc dù đã chuẩn bị sẳn-sàng lấy đà lên chức cuối cùng làm Thống-đốc của một tiểu bang lớn nhất nước Mỹ, là New-York.

Năm 1962, Tổng-thống Diệm được sự mách nước của vị Đại-sứ khả ái Frederick Nolting, nên đã đề cử ông Cố-vấn Ngô-Đình-Nhu qua Genève để gặp Phù-thủy Harriman và thuyết phục Harriman đừng ký vào hiệp định Trung-Lập Lào, vì biết chắc rằng Hà-Nội sẽ vi phạm và lợi dụng phần đất Lào để lấn chiếm Miền-Nam. Theo chương trình thì Harriman chỉ tiếp ông Nhu có 30 phút, nhưng cuộc bàn thảo kéo dài đến 3 tiếng; Khi Harriman tiển chân ông Nhu ra về, ông Bộ-trưởng Cao Xuân Vỹ nhận thấy vẽ mặt hai người hầm-hầm như bực tức một điều gì. Khi Cụ Nhu gặp ông Vỹ, Cụ Nhu bèn xả ra cho nhẹ người: “cái thằng Cha nầy không biết gì cả”. Làm sao Cụ Nhu biết được thế siêu chiến lược của Harriman về Eurasian! Định kiến Axiom-1 biến con đường mòn HCM thành Xa-lộ Harriman có ống dân dầu chạy song song theo nó do LX chịu thiết bị?

Đây là sự suy diễn có tính cách riêng tư của người viết: Một ông già 71 tuổi, đầy mưu-mô và bản-lãnh, kiên-nhẫn để cho cậu nhỏ [Cố vấn Nhu] đáng con mình hằn-học, chẳng lẽ Harriman nói toạc ra rằng: vì quyền lợi của Liên-Xô và Mỹ đã đồng thuận dùng Đông-Dương làm nơi thí nghiệm vũ khí mới vừa chế tạo và giải tỏa số Bom đạn thặng dư sau thế chiến-2, bằng cái trò chơi chiến tranh lấy danh từ hào nhoáng, về phía Liên-Xô “chiến tranh giải phóng” (NLF) và huê dạng về phía Hoa-Kỳ như “kế hoạch chống nổi dậy” (CIP) Đối với Harriman và Nhóm tham-mưu Học-giả kiệt xuất của ông sẽ không có Đại chiến thứ-3 mà chỉ có cuộc chiến khu-vực, lấy Triều-Tiên và Đông-Dương làm chiến tuyến thuộc Màn-2 của Eurasian Great Game. Trận Triều-Tiên vì quyền lợi tức thời nên để lại 50.000 quân, còn Đông-Dương vì quyền lợi tiềm-tàng để thành lập một nước VNCH lớn hơn, và sẽ thắt chặt hơn nửa thế kỷ sau đó 1995; Cái thâm-thúy là dùng khuôn viên các trường Đại-học để lý-giải hậu quả nơi chiến trường tại Việt Nam qua ba đáp sổ dưới đây:
– (1) Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon.
– (2) Axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affaires.
– (3) Axiom-3: The US could not have won the war under any circumstances.
Cùng với 3 định-đề (axioms) đã được bàn luận sâu rộng tại các Đại-Học về cuộc chiến VN trong giai đoạn năm 1960-1971 như Kenneth E. Sharpe trong “The Post Vietnam Formula Under Siege” và “Political Science Quarterly” đây là thời kỳ giải kết của Mỹ. Cái nhóm Tham-mưu nầy đã có chủ trương đưa Trung-Cộng gia nhập vào Liên-Hiệp-Quốc, nên buộc phải giải nhiệm Tướng Mc Arthur trong cuộc chiến Triều-Tiên và bức tử Miền Nam thuộc VNCH. Chiến-lược giải kết nầy đã tạo nên một tầm vóc Quốc-Tế dù kết quả có bị mang tiếng nhất thời “con Cọp giấy”, “người khổng-Lồ với đôi chân đất sét” và đưa nước Mỹ vào thời kỳ suy thoái. Nhưng tập đoàn Tư-bản cho là thời kỳ nghỉ-ngơi sau khi hoàn-tất một công trình (Inventory năm 1973-1980) Còn Nhóm Học-giả Tham-mưu thì cho rằng, trò chơi cử-tạ để phô trương bắp thịt của Hoa-kỳ đã xong, bây giờ tới phiên người Nga phải trả giá về sự cho ra đời Chủ-nghĩa Cộng-sản khắp Năm châu, bằng cách đặt Liên-Xô vào vị trí của Hoa-kỳ, như quân-đội Nga tiến vào Afghanistan. Ngoài ra Hoa-kỳ cũng phong tỏa kinh-tế các nước chư-hầu của Liên-Xô, buộc Liên-Xô phải tăng cường viện trợ kinh-tế cho họ. Mặt khác Hoa-kỳ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Liên-Xô phải quân viện hay chính thức tham chiến để lộ bộ mặt thực dân Đỏ. Để kết cuộc qua đó mà người dân trong khối Cộng-Sản mới có cơ-hội sáng mắt, so-sánh giữa hai thể chế “Dân-chủ Tư-bản” và “Dân-chủ Cộng-sản” ai thắng ai? Một cuộc bỏ phiếu bằng chân! Một cuộc chiến thắng thầm lặng với thủ đoạn Thần sầu Quỹ khóc, nhưng không dám nói ra, sợ lương-tri nhân loại nguyền rủa, vì gieo rắc tai-ương cho các nước nhược tiểu; Cái danh xưng nổi lên cho là thất bại thảm hại của Hoa-kỳ để làm mờ đi cái “mục-tiêu” chủ yếu là đồng Dollar hốt vào qua kỷ nghệ sản-xuất chiến tranh, và nước Mỹ vẫn là Đệ Nhứt siêu cường không nước nào địch nổi.

Sau cuộc chiến khá dài tại Việt Nam, nhưng họ không dám tuyên bố đó là một chiến thắng thầm lặng (Quiet-Victory) biết bao thảm họa cho người dân của ba nước Đông Dương, vì Họ không dám nhận những danh từ không tốt đẹp gì dù đã làm phong phú hoá trong tự điển Anh Ngữ như, “Bỏ phiếu bằng chân” (voted with theirs feet) “Cánh Đồng Chết” (Killing field) “Thuyền Nhân” (Boat People) “Học Tập Cải Tạo” (Reeducation-Camp) “Vùng Kinh Tế Mới” (New Economical Zone)
-12 năm sau, và cũng đã đến lúc kết thúc mật-kế Pennsylvania giao Miền-Nam cho Hà-Nội Năm 1974 đệ tử ruột của Harriman là William H.Sullivan cựu Đại-sứ Lào và đương kiêm thứ trưởng Ngoại-Giao cho Kissinger đã phán một câu rất mất dạy về quan điểm Hoa-kỳ lúc ấy: “Chúng tôi hy vọng rằng, Đông-Dương sẽ lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy”. Thật tội nghiệp cho các nước nhược tiểu, phù-thủy Harriman đâu cần biết Đông-Dương là gì, ông chỉ coi đó như là một vùng hoang dã chỉ xứng đáng là nơi để thí nghiệm vũ-khí như chúng ta thường cho là “vùng oanh kích tự-do” Dĩ nhiên Tổng-thống Diệm dễ gì để cho đất nước mình trở thành lò luyện thép. Phù-thủy Harriman đích thực trở nên thủ phạm số một đã giật sập nền Đệ I Cộng-Hòa và ra lệnh giết chết hai anh em TT Diệm, Miền Nam trở thành chính phủ bù nhìn từ đấy! Ấy thế mà ngày sinh nhứt thứ 90 của W A Harriman, người em út cuối cùng của dòng họ Kennedy còn sống là Edward Kennedy lại tuyên bố: “Nếu không có Ngài nước Mỹ và loài người không thể sống trong một trật tự thế giới mới” [The New World] “We couldn’t have held the twentieth century without him” như thế kỷ-21 nầy.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-17-2011, 01:30 AM
TRIỀU-ĐẠI-2 SKULL and BONES
(Prescott Bush, người tiền bối tham vọng đưa con cháu mình vào danh sách tổng thống nước Mỹ?)

Prescott Bush, chất Xám kiệt xuất của ngành tình-báo, An-Ninh Quốc Gia Hoa-kỳ?
Lợi dụng thời Thế-chiến thứ-1, Nhóm Yale-Skull áp lực chính quyền ký hợp đồng sản xuất kỹ nghệ chiến tranh, Họ tự ý thành lập “Hội-đồng Kỹ-nghệ Chiến-tranh” [War Industries Board] do Wall Street bảo trợ, người Giám-đốc là Bernard Baruch chuyên lo liên lạc đặt hàng giữa chính phủ và công xưởng về đóng tàu cho Hải quân. Vào mùa Xuân 1918, thình lình có mật lệnh [Harriman] từ ông Bernard Baruch gởi thẳng cho Prescott Bush, chỉ định P. Bush làm Chủ tịch Hội đồng WIB, ngày 1/6/1918 P. Bush chấp hành và trình diện tại Washington; Thực thi đúng theo tuyên ngôn của các trường Ðại-học Quân-sự: “Muốn củng cố hoà-bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Liền sau đó không lâu, Thượng nghị sĩ bang Mississippi, James Vardarman phàn nàn rằng: “nên giải tán Hội-đồng buôn xác chết nầy, vì tự nó nói lên sự ăn-chận trên tay các công ty khác và giành giựt độc quyền lợi nhuận!” (Thí dụ như công-ty Halliburton của Phó TT Dick-Cheney sau nầy).

Sau Thế chiến-2, 1946 một sự chạy đua phát triển vũ-khí để gây chiến, từ một cuộc chiến Nóng (1941-1945) đến cuộc chiến Lạnh được thống kê qua sự sản xuất như sau: 38 phần trăm 1941-1947; 40 phần trăm cho 1953 (chiên tranh Triều-Tiên); từ 45 phần trăm cho 1959, đến 49 phần trăm cho 1968 trong suốt cuộc chiến tại Việt Nam là nhiều nhứt. 1947 Prescott Bush và Robert A Lovett cùng Brown Brothers Harriman đồng quyết định cải đổi OSS thành CIA để làm công cụ bạo lực cho WIB; Nhóm nầy mở rộng Ngủ Giác Ðài tăng quân số Tướng lãnh nhiều hơn xưa, tăng tốc cho chương trình không gian, điện tử hoá siêu kỹ thuật cho quân đội. Bộ tam sên: Prescott Bush chắc chắn sẽ thành Thượng nghị sỉ 1950, gây ảnh hưởng bao trùm Quốc-hội, còn W.A.Harriman, người Cố-vấn tổng thống, nhưng lại có nghĩa nắm chính sách ngoại giao với nước ngoài, riêng Robert A Lovett sẽ đi từ Thứ-trưởng rồi Bộ-trưởng quốc phòng để điều động các cuộc hành quân bí-mật trên những nước đem lại quyền lợi cho Tư bản Mỹ. [như trước đó có hai cuộc hành quân bí mật: [covert operation] đáng kể là khuyến dụ Cụ Hồ vào OSS nơi Trùng Khánh, Côn Minh, Sở thông tin Chiến tranh (Service of War Information) và qua cuộc hành quân bí mật của điệp viên OSS-19, Lucien Conein nhảy dù xuống mật khu Pát-Pó giúp Cụ huấn luyện quân sự cho Trung-đội Võ trang tuyên truyền của Trung đội Trưởng Võ Nguyên Giáp và CIA phải hoàn thành cuộc di tản về Ðài-Loan Thống chế Trưởng- giới-Thạch và phe phái.

Prescott Bush hăng-say tham dự những năm tháng chiến tranh ác liệt, đôi khi người ta lầm tưởng chỉ có một mình ông đơn độc chiến đấu trên trận mạc, ông chia ra hai phần thời gian ở Washington và trận mạc, ít khi về thăm nhà, sự làm việc nhiệt thành đã đặc vào ống kính của Harriman. June, 1918 P.Bush mau lẹ đáp ứng sản xuất qua Pháp cho Lữ-đoàn Pháo Dã-chiến 158th một số lớn đạn dược gọi là sản-phẩm lấy tên là Tiểu-đoàn Yale cung cấp. Có nghĩa Tiểu đoàn-Yale Pháo binh của ông sẽ tham dự vào chiến tuyến phía Tây [Western Front] Ðại-úy Prescott Bush và pháo thủ của ông đang chịu áp-lực trận địa pháo dữ dội của địch. Chúng đang cố tâm hủy diệt tất cả pháo-đội Hoa kỳ, Tuy nhiên sự phản pháo của Lử-đoàn pháo 158th đã làm tiêu tan các công sự kiên-cố của quân Ðức. Dưới con mắt làm ăn của P.Bush, lấy thịt đè người nên phía WIB đả bán ra được 4.2 triệu quả đạn sau khi tàn cuộc chiến đem một số tiền quá lớn về cho War-Industries-Board.

Mới chỉ 23 tuổi đời vào năm 1918, Prescott Bush là một Ðại-úy Pháo binh năng nổ, một hôm ông viết một bức-thư khôi hài về cho mẹ, sau khi đọc xong bà mẹ tự hào về con mình nên đem tin vui nầy cho tờ báo địa phương “The Ohio State Journal” đăng tin ở trang đầu: “Ðại-úy P. Bush chỉ một mình nhận được ba huy chương cao quý của chính phủ Pháp, Anh và Hoa-kỳ, vì đã cứu ba vị Tướng lãnh đồng minh, Pershing, Foch, và Haig đang đến thăm viếng đơn vị Tiểu đoàn Yale Pháo binh của ông. Ngày 15, July, P.Bush đang hướng dẫn ba Tướng nầy tham quan đơn vị, thì thình lình một trái đạn 77mm từ trên không rơi xuống, sự phản ứng tự nhiên P. Bush rút con dao (bolo-knife) hất mạnh lên như chơi baseball vào trái đạn, cho nên trái đạn không chạm nổ và rơi xuống bên cạnh như một hòn đá tảng vô hại. 24 tiếng đồng hồ sau P. Bush được ân tặng huy chương “Cross of the Legion of Honor của chính-phủ Pháp, The Victoria Cross của chính phủ Anh, và The Distinguished Service Cross của Hoa-kỳ”. Nhưng khi P. Bush nhận được một mẫu giấy đính chính trên tờ báo Pháp, liền lập tức ông nói cho mẹ hay, “đó chỉ là bức thư khôi hài để làm cho mẹ vui, chớ chuyện đó không bao giờ có!” Ngày hôm sau, September 6, 1918 tin nầy được đính chính trên báo chí là Tin Vịt-Cồ! Kể từ giờ phút nầy, trong đầu P. Bush luôn luôn in sâu về sức mạnh của “truyền thông văn hóa” vẫn có tác dụng gây ảnh hưởng, dù thật hay không thật và ông muốn con cháu ông phải xuất thân từ quân đội để lãnh đạo đất nước trong trật tự và kỷ luật

Năm 1950, là người Phụ tá cho Harriman, P. Bush quyết định công-cụ Truyền thông văn hóa nặng ký hơn CIA và cho ra quyền bất khả xâm phạm về “Tự do ngôn luận” một vũ khí lợi hại khi cần khủng bố chính quyền buộc họ phải đi đúng American-First. P. Bush qua đời 1972, làm sao ông biết được Con và Cháu nội sẽ là Phi-công Tổng thống thứ 41 và 43 của Hiệp chủng Quốc đã khai thác tuyệt vời truyền thông văn hóa cho quyền lợi của bọn dầu-hỏa qua sự chuyển ngân vào ngân hàng Thụy Sĩ. Ðúng theo di-truyền của giòng họ Bushes là: năng-lượng, tình báo, và an ninh quốc gia. Dòng họ Bushes không bao giờ chịu đào tạo Bác-sỉ, luật sư, thầy giáo, khoa học gia … mà chỉ chuyên về 3 địa hạt nêu trên.

Nguyên nhân nào W.A Harriman chịu chấp nhận Prescott làm phụ tá Ðảng hội Skull and Bones: Tình cờ, đầu năm 1926, người em của Harriman là Bunny Harriman đang uống rượu với P. Bush và nói chuyện công việc làm ăn. Prescott vẫn còn làm việc với hãng nhựa U.S Rubber, đại lý bán vỏ xe, còn Bunny đang bề bộn công việc ở Wall Street. Sau khi họ nhận ra nhau cùng tốt nghiệp Ðại học Yale, Bunny mới thú nhận tại Công ty người anh W.A Harriman and Company rất cần những nhân tài phụ giúp, hỏi P.Bush có muốn cùng giúp việc cho anh mình không? P. Bush nhận lời ngay, sau đó không lâu từ một Ðại lý bán vỏ xe khiêm nhường, Prescott trở nên một triệu-phú quá dễ dàng. Tóm lại W.A Harriman tin tưởng nhận P. Bush vào làm việc và tin cẩn chọn P. Bush như người phụ tá tham mưu tin cậy của ông [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman 1/22/2006, trang 4 of 7] Prescott Bush là người sau chót trong 6 nhân vật nắm vận mệnh thế giới nhưng được Harriman cân nhắc lên làm Phụ-tá tham mưu cho Harriman.

Harriman vở mộng vì đặt quá nhiều tin cậy vào viên Phụ tá của mình, Prescott Bush, trong khi Harriman muốn hợp-lý hóa bằng những quyết định phức tạp chia ra cho hai nhóm rõ rệt: Nhóm Dân chủ do W.A.Harriman và Lovett, còn nhóm Cộng hòa do P. Bush và Bunny Harriman. Nhưng nhìn vào hai nhóm nầy thì chẳng có công bằng tý nào vì phía bên kia vẫn còn người em của Harriman. Nhưng điều cấm kỵ là không được phê bình đàm tiếu nói xấu cãi vã nhau, P. Bush giữ thái độ im lặng về những hành động của Harriman làm việc với hai vị tổng thống, F.D.Roosevelt và Truman; Sư thật làm sao P. Bush hiểu được trong tương lai của trận chiến Triều Tiên chỉ dựa vào môi trường chạy đua và phát triển thế hệ phản lực cơ chiến đấu cho quốc-phòng giữa Liên Xô và Mỹ. Còn như tới phiên chiến tranh Ðông Dương mới qua giai đoạn phát triển thế hệ phản lực cơ cho Hàng không dân dụng và trực thăng. Có một điều quan trọng nữa là làm cách nào để dùng xăng hoá học (synthetic fuel) để làm diệu bớt sự thay đổi nhiệt độ cho môi trường sống như Hitler đã thành công từ 1933, nhưng vì lòng tham vô đáy, dòng họ Bushes đã đi chệch ra khỏi quỹ-đạo chiến lược của Harriman! Quên đi quyền lợi của các loại Tư-bản lớn-nhỏ khác!

1950, Prescott Bush đã là một Thượng nghị sĩ sừng-sỏ trong Quốc hội, ông nắm ảnh hưởng trong chức vụ Trưởng ban Hội đồng an ninh và tình báo gián điệp và nắm luôn Trưởng Hội-đồng về cơ quan quốc phòng, trong đó đáng kể có người bạn chí thân chuyên môn về tình báo là Allen Dulles. P. Bush quá hăng-say về chương trình “dọ thám bằng vệ tinh”. Sau Thế chiến-2, ông giành ưu tiên tài chánh không giới hạn cho Bác-học Werner Von Braun và các Khoa học gia người Ðức chạy trốn về với Hoa kỳ, chuyên trách hoả-tiễn, đồng thời tối tân hoá chương trình phóng hoả tiễn liên lục địa. Ðặc thù, P. Bush ghét cay ghét đắng TT Kennedy về vụ thất bại tại Vinh Con Heo vì Kennedy phản bác (P. Bush thố lộ bằng lời nói với lịch-sử, sự thất bại chỉ vì Kennedy không muốn đứng về phía sau nhóm nổi dậy, có nghĩa là đem Hải lục không quân ra can thiệp mà xem việc làm của Bushes qua công cụ CIA như con Voi rừng kinh-dị khó dại).

Với tham vọng người con trai của mình sẽ chạy đua vào nhà Trắng, 11 ngày trước khi Kennedy bị ám sát, đứa con Trai của ông là George H.W. Bush đứng trước bục phòng họp báo Thủ-đô ở Austin, tuyên bố sẽ ứng cử vào Thượng nghị sĩ của Ðảng Cộng Hòa. Vào được chức vị Thượng nghị sỉ trong khi TT Kennedy đã bị ám sát, nhưng George H.W Bush mở pháo trận đầu tiên tấn công Civil-right của Kennedy vì cho rằng đe-dọa hiến pháp, trong khi Barry Goldwater biện luận Hoa-kỳ vấp phải vấn đề kỳ thị màu da. George H.W. Bush cũng chống lại đường lối Liên bang tước đoạt quá nhiều quyền hạn của Tiểu bang. Về phương diện ngoại giao, ông chống đối Kennedy về lời đề nghị kiểm soát việc chạy đua vũ trang, biện luận thay vì phải cứng-cựa với chính sách chống Cộng sản; Những đặc điểm không kém phần quan trọng, George.H.W. Bush với 40 tuổi, thành công và là phi-công tác chiến anh hùng của tổ quốc. Có một tài sản đáng kể về thương nghiệp dầu hoả, nhưng vì tham vọng dầu-hoả mà dòng họ Bushes phải mai một sau nầy! Hơn nửa thế kỷ nay, dòng họ Bushes vẩn tự hào là “chống-Kennedys” vì Bushes xem giòng họ Kennedy là những kẻ muốn tranh tài với họ! Tuổi trẻ có phải vì nóng tính, nông nổi nên nói toạc móng heo!? Jeb Bush đã dám tuyên bố và thách-thức (có lẽ cũng bị thọc gậy bánh xe đang lăn ngon trớn theo đà mạnh tiến vào toà Bạch-ốc) “Tôi nghĩ, chúng tôi có thể hạ giòng họ Kennedy trong trận football, chúng tôi cũng hạ họ trong trận basketball, baseball, và bất cứ cái trò chơi quỷ-quái nào mà họ muốn đấu!”(Dịch theo nguyên văn, cuốn sách “The Bushes”, 2004, page 497 Petter and Rochelle Schweizer).

Thế nhưng! thế hệ trước là thủ phạm nhưng lại vô cùng khôn khéo, Bush-Cha vẩn tỉnh bơ giữ mối giao hảo bề ngoài rất tốt đẹp, ông [George H.W Bush] dựa vào vị thế thượng phong làm Phó, rồi Tổng thống nên phía đối địch cũng ngậm bồ-hòn cười nhe răng trong giao tế. Người em út còn sót lại của TT Kennedy, Thượng nghị-sĩ Ted Kennedy 1990 cũng giúp TT Bush-Cha cho qua Disabilities Act và luật cải-bổ Di-dân. Khi rời Nhà trắng hai vợ chồng của Bush-Cha cũng làm bộ tiếp nối tình cảm, nhưng lần nầy qua nhà người Chị của Ted Kennedy, Eunice Shriver.

Vâng lời Bush-Cha, Bush-Con, năm 2000 vừa nhậm chức Tổng thống, hâm nóng thêm tình cảm giữa hai họ, nhân dịp đám tang của Thượng nghị sĩ Paul Coverdell của Georgia, Bush cùng Ted Kennedy dự đám tang, sau giờ tan lể, Bush-Con lỏ con mắt tìm kiếm Ted Kennedy ẩn hiện trong đám đông. Khi gặp Ted, Bush-Con cười khà đưa tay bắt: “Tôi nghe anh có đi dự nên kiếm, Tôi ghi nhận anh đã làm những việc ích lợi cho dân cho nước” Ted cười khô cho qua. Tuy nhiên dù mối liên hệ tình cảm khó hiểu, nhưng cũng tiếp nối được đến thế hệ thứ-3.

Vào tháng chạp, 2000 TT Bush-Con mời gọi Ted Kennedy, họ nói chuyện với nhau như hâm nóng lại tình cảm khắng-khít ngoài mặt giữa hai họ và cùng giúp đỡ chia sẻ cho nhau vì lợi ích cho đất nước. Ted Kennedy vui lòng chấp nhận vì đại cuộc, Bush-Con bèn mời Ted cùng họ hàng Kennedy đến dự một cuộc họp mặt riêng tư để xem cuốn phim những ngày căng thẳng về cuộc khủng hoảng đe dọa Hoả tiễn nguyên tử của Liên Xô 1961; Sau đó Ted giúp Bush cho qua sự cải bổ Giáo dục vào 2001 và hai năm sau, TT Bush-Con tuyên dương công trạng Ted về sự tận tụy giúp đỡ dân chúng Hoa kỳ. Nhưng Ted Kennedy vẩn ngoan cường giữ vững lập trường, chiến tranh Iraq là một sai lầm, móng vuốt của thất bại và chính sách khánh tận (a failed, flawed, bankrupt policy) Tháng 11/2001 Bush-Con thông báo sẽ đặt tên Robert Kennedy trên Cơ quan chính phủ, Bộ Tư-pháp, có sự tham dự của Ted Kennedy với vẻ mặt gượng cười chua xót.

Giòng họ Bushes thì quá nhiều tham vọng về xăng dầu và quá nóng ruột về phát triển Hàng- không Dân-dụng muốn hấp-tấp bắt chước như Harriman đã thâu vào quá nhiều lợi nhuận khi phát triển Ðội hàng-hải đi biển lớn nhứt vào thời gian Thế chiến-1, vì tham vọng vào xăng dầu nên bị Dick Cheney lấn lướt đến nỗi thân bại danh liệt cho triều-đại-2 Skull and Bones, rồi ngã quỵ.

Kết quả, sự phản trắc, thất trung thể hiện trong bữa cơm tối của Ðảng Cộng hòa, Prescott Bush đã thẳng thừng tấn-công Harriman, “xem như Harriman, một công nhân đả cởi bỏ nón nhựa an-toàn ra khỏi đầu, và quăng đôi găng-tay lao động xuống đất, đi ra về một mạch không ngó lại” ngụ ý vô trách-nhiệm. Từ dạo đó P.Bush âm thầm theo dỏi từ chiến tranh Triều Tiên đến vấn đề giao tế thế giới. Dựa vào đó, Harriman đùn trách nhiệm cho dòng họ Bushes để cho George H.W. Bush nhảy vào cuộc chiến Việt Nam từ 1960 nhưng dưới sự diu dắt truyền nghề của Harriman cho đến khi mật kế Pennsylvania hoàn tất, có nghĩa là tạo nên một mô hình kiểu mẫu cho Hà Nội thống nhứt Việt Nam thành một qua mô-hình hiệp định Paris và cũng là lúc TT Nixon lên ngôi 1969. Thế là công cụ CIA do Dân-chủ Harriman thành lập 1947, bây giờ 1960 Cộng-hòa George H.W Bush được hưởng trọn vẹn. Thế nên chúng ta đoán chắc sự thất bại tại Vịnh Con Heo, thủ phạm chính là George H.W. Bush nhưng Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kim tổng thống. Vì Harriman biết cuộc chiến VN sẽ đem lại thãm hoạ nên muốn lẩn trốn thì tội tình gì George H.W.Bush phải lộ diện, nên Bush-Cha đã khoán trắng cho Donald Rumsfeld muốn làm gì thì làm

Sau Tết Mậu thân 1968, để chuẩn bị cho phong trào phản chiến, trong giai đoạn Tướng Abram trách nhiệm về việc lần lượt rút quân Mỹ về nước theo lộ trình sắp xếp hành khách lên phi-cơ. Trong khi Trung-úy phản chiến thuộc đại học Yale, John F.Kerry, Duyên tốc đỉnh cùng Thượng nghị sỉ Joe Lieberman, ứng cử viên Tổng thống, cầm đầu tờ báo Yale Daily News cùng một số đông sinh viên Yale đòi hỏi không tham dự cuộc chiến VN. Năm vừa qua 10/1967 họ trả lại thẻ quân-dịch cho Bộ tư pháp; Nhưng hơn ai hết, là người thay thế Harriman nắm giử chính sách, và cũng là lần đầu tiên George H.W.Bush công khai xuất hiện nhưng lại không muốn cho ai biết đến sự xuất hiện nầy, coi như đây là một trách nhiệm quan sát tại chổ cho biết sự tình, giai đoạn phải lần lượt rút quân về theo lịch trình của hệ thống các hãng Hàng-không Dân-dụng đã thiết kế.

Ðể chuẩn bị thay thế Harriman sẻ từ giã chính trường 1969, và thời gian chuyển tiếp cũng sắp đến, ngày 26/12/1967 Bush-Cha sẽ đi thăm Việt Nam bàn thảo với Ðại sứ Ellsworth Bunker như một cuộc thăm không chính thức, lặng-lẽ không ồn-ào, Ông đi thăm các chiến sỉ Mỹ ngoài mặt trận, dùng trực thăng HU-1 đi thăm các tiền đồn từ Mekong Delta đến Ðà-Nẳng. ông đáp xuống Hàng không mẫu hạm dự một cuộc thuyết trình oanh tạc Bắc Việt. Vào một buổi sáng đến phi trường Ðà Nẳng đang bị pháo kích. Trong khi thăm viếng, phi công phải bay vòng để khỏi bị hoả lực ở dưới bắn lên. Ðược hỏi, các người lính đều có ý kiến như nhau: “Chỉ đơn giản nếu Hoa kỳ giữ lời cam kết thì chiến thắng sẽ đến!” Bush-Cha giữ trong óc “sự kiện Vịnh BV và Trân Châu Cảng đều giống nhau vì số nhân viên tham chiến có quá nhiều” chỉ có một điều tối kỵ là quân Mỹ sẽ rút ra hết để lại biết bao thãm trạng bi lụy cho người dân miền Nam mà ông là người nối tiếp chính sách đó!

Ngày 11/5/1970 theo lộ trình John Kerry và số đông Yale và các phân khoa sẽ đến hành lang Quốc hội: “Chúng tôi bầu các người để chấm dứt chiến tranh hay chúng tôi phải tống các ông các bà ra khỏi chiếc ghế Quốc hội?” Trong đám đông nầy có Giám đốc Ðại học Yale, Kingman Brewster; riêng Prescott Bush, Chủ tịch Hội-đồng Kỹ nghệ Quốc phòng, hiểu rất rõ đường lối của Skull and Bones, đành phải phàn nàn “làm như vậy sẽ là một nhục khí cho Yale” Trong dòng họ Bushes, người cháu họ George Walker đang là lính chiến Sư-đoàn Dù, còn người cháu họ John Ellis đang hoạt động để chấm dứt chiến tranh.

Khi TT Nixon thắng cử 1968, ông giúp đỡ Bush-Cha được bầu là Dân biểu cho nhiệm kỳ đầu vì là đứa con của Prescott Bush, được chỉ định làm Ðại-sứ tại Liên Hiệp quốc 1970, Trưởng Hội đồng của Ðảng Cộng hòa 1973-1974, được ở trong tham mưu của TT Nixon. Nixon xem gia đình Bushes như là những thiên tài giúp đỡ tham mưu cho ông, 1976 được sự tín nhiệm giữ chức trưởng ngành CIA, Bush-Cha hy vọng được làm Phó cho TT Ford trong nội các dù không được dân bầu. Nhưng Tôi vẩn nghĩ rằng: Bush-Cha là cố-vấn trong bóng tối cho Nixon 1969 về chính sách vì ông mới thực sự là người nắm giữ chính sách ngay sau khi Harriman rời khỏi chính trường 1969.

Khi TT Nixon từ chức, Chủ tịch Quốc hội Gerald Ford lên làm Tổng thống, theo Tu chánh án 25th [The Twenty-fifth Amendment] TT Ford phải chờ Lưỡng viện của Quốc hội chấp nhận theo phổ thông đầu phiếu. Riêng Ông Dean Burch, cố vấn Tổng thống Ford đề nghị: “Cá nhân tôi chọn George H.W Bush [Bush-Cha]” và Richard A Moore, một thành viên tham mưu toà nhà trắng: “Cha và ông của Bush-Cha, cả hai đều được mọi người kính nể và là chủ của nhửng nhà Bank lớn ở New-York. Nhưng không may thay, Bush-Cha đã bị thua phiếu của Nelson Rockefeller 68/101, TT Ford rất lấy làm tiếc, vì hai người cùng là bạn thân, Ford mời Bush-Cha vào phòng bầu dục hàn huyên nhưng tiếc thay không còn ghế nào cho Bush.

Nhưng không sao vì nắm chính sách, biết được thế chiến lược toàn cầu nên Bush-Cha cần qua Bắc kinh ngay để thương thảo về việc bỏ vốn làm ăn của Tư bản Mỹ. Như thay thế nhiệm vụ của Kissinger còn đang dang-dở và vô số đường lối ngoại giao của hai nước chưa được sáng tỏ cho lắm, Bush-Cha cần kiểm điểm cho đúng lộ trình. Harriman dù xa lìa chính trường nhưng luôn luôn bám-víu, theo-dõi kế hoạch Eurasian, ông tin tưởng tài ba của Bush-Cha, đặc biệt là về phương diện tình báo và phản tình báo; là một cố vấn thật tốt cho Bushes. Sự thiên tài độc đáo về tình báo chuyên trách của dòng họ Bush làm cho Harriman yên tâm, Bush-Cha sẽ đánh bại Cộng sản không khó lắm; Harriman cũng nhấn mạnh cho người kế vị của thế hệ sau biết rằng: “Phải tuyệt đối quan tâm và theo dõi sát nút về vấn đề ngoại giao, nhứt là với Trung quốc. Dù sao cũng phải rút kinh nghiệm như Harriman, con người tuy quyền hạn bao la nhưng người dân không biết đến, còn Tướng nổi tiếng Eisenhower thì làm sao họ không bầu cho ông. Harriman hai lần ra ứng cử Tổng thống đều thất bại (1952 và 1956) Con đường tốt nhứt nên dựa vào liên danh nào mà người cầm đầu phải là nổi tiếng mà người dân sẽ bầu như trường hợp tài tử Ciné hay Tướng tài [Eisenhower, Reagan…] Bằng giá nào cho kịp nếu phải làm Phó trước để lấy đà vào năm 1980 là thuận lợi nhứt theo lời Tổ-sư cố vấn W.A.Harriman, cuối cùng Bush-Cha chịu làm phó cho Liên danh Reagan, nhưng mà là phó với quyền hạn bao la.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-17-2011, 01:27 PM
Vì là một bài quá dài nhưng lại chỉ dành riêng cho đọc giả phải thích thú trước khi vào nội dung của siêu chiến lược Eurasia. Người viết phải sơ-lược phần đầu và chút ít phần cuối trước khi đi vào chi tiết: Nhãn tiền phần cuối 2020 Ấn độ được Hoa Kỳ nâng lên cường quốc số-2 thế vào vị trí TQ?

Ngoại trưởng Mỹ cam kết trở lại Châu Á, Bà Hillary Clinton vừa có bài viết dài khẳng định cam kết của Washington với Châu Á Thái Bình Dương. Trong bài viết mang tựa đề “Thế kỷ Thái Bình Dương của Hoa Kỳ”, bà ngoại trưởng nói Châu Á Thái Bình Dương trải dài Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương với gần một nửa dân số trên thế giới đã trở thành “động lực chính của chính trị toàn cầu.” Bà nhấn mạnh: “Châu-Á TBD có ý nghĩa quan trọng đối với Hoa Kỳ và thế giới”.

Người đứng đầu ngành ngoại giao Hoa Kỳ nhận định: “Vào lúc khu vực này đang xây dựng những cơ cấu kinh tế và an ninh chín chắn hơn để thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng, cam kết của Hoa Kỳ tại đây là hết sức cần thiết. “Nó [cam kết của Hoa Kỳ] giúp xây dựng cơ cấu đó và giúp Hoa Kỳ giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm trong thế kỷ này, cũng giống như cam kết hậu Thế Chiến II của chúng ta đối với việc xây dựng các quan hệ và hệ thống định chế xuyên Đại Tây Dương mang tính chiến lược và lâu dài đã mang lại kết quả lớn hơn nhiều so với đầu tư ban đầu và vẫn tiếp tục như vậy.”

Bà Clinton nói việc đảm bảo hòa bình và an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho tiến bộ toàn cầu cho dù đó là chuyện bảo vệ quyền tự do lưu thông ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), ngăn chặn cố gắng phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động quân sự của những nước lớn trong khu vực. “Chúng tôi là cường quốc duy nhất với mạng lưới liên minh mạnh mẽ trong khu vực nhưng không có tham vọng lãnh thổ trong khi có lịch sử phụng sự lợi ích chung,” Điều nầy lập lại “Phải có NATO (Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương “ thì mới đánh bại LX tan ra từng mãnh, ngày nay đang thành lập một khối mới “Liên Phòng Đ6ng Á TBD” có thêm Ấn-độ, Úc, Tân Tây Lan.

Bà Clinton tiếp: Hoa Kỳ hiện có hiệp ước liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan. Riêng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đã có 50.000 quân nhân Hoa Kỳ hiện diện và Nhật Bản đã bỏ ra năm tỷ đô la để đảm bảo binh lính Hoa Kỳ tiếp tục có mặt ở nước này.
Bà Clinton nói bản thân bà đã chọn Châu Á là nơi đầu tiên tới thăm trong vai trò ngoại trưởng còn Tổng thống Barack Obama vào tháng 11 năm nay sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự Diễn đàn Đông Á diễn ra tại Indonesia.

Vấn đề nhân quyền TQ phải tuân thủ vì là một thành viên LHQ, đó cũng là lý do Hoa Kỳ hy sinh VN và THQG để lấy cái ghế LHQ cho TQ.
Ý Bà muốn nhắc lại TQ phải bắt chước theo Mỹ vận-dụng áp lực chính trị để cho miền Bắc thống nhứt miền Nam bằng 72 giờ chuyển tiếp 3 tổng thống và kết thúc bằng một công điện sau cùng chấm dứt chế độ bằng “ĐUỔI MỸ”, và ngược lại TQ phải dùng áp lực buộc Bắc Hàn phải mời Nam Hàn thống nhứt vì có 50.000 quân Mỹ ở đó như ở Đức vậy. Nhắc lại ngày xưa Hoa Kỳ đả dùng nguyên Phi-đội CAT mà cưỡng bức Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra đảo Đài-Loan, cho Mao thống nhứt lục địa với trách vụ chia hai Triều Tiên rồi Việt Nam…

Nhắc tới Trung Quốc, ngoại trưởng Hoa Kỳ nói cả hai nước sẽ được lợi hơn nhiều từ hợp tác thay vì đối đầu. “Sự thật là một nước Hoa Kỳ hùng mạnh tốt cho Trung Quốc và một nước Trung Quốc hùng mạnh tốt cho Hoa Kỳ.” Bà Clinton nói Hoa Kỳ khuyến khích Trung Quốc tích cực tham gia vào giải quyết các vấn đề toàn cầu và cùng lúc tăng tính minh bạch trong các hoạt động quân sự để không có sự hiểu nhầm giữa quân đội Hoa Kỳ và Trung Quốc. Vị ngoại trưởng cũng nhắc tới những lo ngại của Washington về tình trạng nhân quyền ở đất nước đông dân nhất thế giới. Trên thực tế, nhìn vào bản đồ TQ như bị bao vây cô lập còn gắt-gao hơn LX ngày xưa và TQ chỉ có duy nhứt một con đường chọn lựa là vâng lời Mỹ để tồn tại “Chúng tôi đã nêu rất rõ, cả công khai và trong các cuộc gặp kín, những lo ngại sâu sắc của chúng tôi về nhân quyền. “Chúng tôi đã nói rõ …với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị. “Có nghĩa TQ và Việt Nam phải có một lá cờ mới như Liên Xô xuất phát từ ý dân qua Quốc Hội phán quyết. Một hiện tượng lạ như chúng ta đang thấy, một đệ tử ruột của TQ đã âm thầm đi chung với Ấn-Độ do Mỹ bật đèn Xanh.

Hillary Clinton tiếp: “…Chúng tôi đã giải thích cho các đồng nghiệp Trung Quốc rằng sự tôn trọng đúng mực luật lệ quốc tế và một hệ thống chính trị cởi mở hơn sẽ tạo cơ sở để Trung Quốc phát triển và ổn định hơn nhiều – đồng thời tăng niềm tin cho các đối tác của Trung Quốc.
“Nếu không Trung Quốc đã tự hạn chế sự phát triển của chính họ một cách không cần thiết.”
Bà Clinton nói sức mạnh các giá trị Hoa Kỳ còn quan trọng hơn cả sức mạnh quân sự và kinh tế.
Bà nói trong khi họ thắt chặt thêm quan hệ với các nước mà Washington có khác biệt về hệ giá trị, người Mỹ luôn thúc giục các nước này thúc đẩy cải cách để cải thiện hệ thống quản trị, bảo vệ nhân quyền và tăng cường tự do chính trị.

Vị ngoại trưởng cũng đưa Việt Nam ra làm ví dụ.
“Chúng tôi đã nói rõ …với Việt Nam rằng tham vọng phát triển quan hệ chiến lược đòi hỏi họ phải có những bước đi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị.” Có nghĩa phải tuần tự sửa đổi thế chế theo đúng thời điểm decent interval của Mỹ qua diển tiến hoà bình không cần thiết phải “tắm máu”.

“…Chúng tôi không thể và không định áp đặt hệ thống của chúng tôi lên các nước khác, nhưng chúng tôi tin rằng một số giá trị có tính phổ quát và người dân của mọi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Châu Á, đều coi trọng – chúng [Những giá trị này] là những giá trị của những nước thịnh vượng, hòa bình và ổn định”.

“Suy cho cùng chính người Châu Á sẽ tự theo đuổi những quyền và hoài bão của họ giống như chúng tôi thấy người dân đã làm ở khắp nơi trên thế giới.”

Ám chỉ Hoa Kỳ ‘Lãnh đạo toàn cầu’
Bà Clinton nói có nhiều người hoài nghi sức bền của Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới và bà nói những hoài nghi này không có gì mới. Bà Clinton nói Hoa Kỳ vẫn có nhiều cái nhất trên thế giới trong đó có quân đội mạnh nhất.

“Khi Cuộc chiến Việt Nam kết thúc, có vô vàn các nhà bình luận toàn cầu đưa ra ý tưởng rằng Hoa Kỳ đang rút lui và đây là đề tài cứ vài thập niên lại được lặp lại. Chả lẽ nói ra đây là một chiến thắng thầm lặng cho thế giới nguyền rủa, trong khi nó chính là cuộc chiến bẩn thĩu, nhưng mục tiêu chính là Mỹ có rất nhiều lợi nhuận trong cuộc chiến đó, cái nhứt nhứt là Hoa Kỳ Siêu Cường Số-1 đứng vị trí cao chót vót không nước nào vói tới

“Nhưng bất cứ khi nào Hoa Kỳ gặp trở ngại, chúng tôi đều có thể vượt qua nhờ tái sáng tạo và đổi mới. “Khả năng trở lại “roll-back” với tư cách mạnh hơn của chúng tôi là chưa từng có trong lịch sử hiện đại, vì nó nằm trong sách lược toàn cầu Eurasia tới phiên “Ấn Độ sẽ nắn gân TQ” nếu khôn ngoan đừng đụng chạm tuyến lửa đầu tiên VN và Phi Luật Tân. Nếu có đụng thì chỉ một thời gian thật ngắn để Hoa Kỳ nhân cơ hội thử một loại vũ khí mới như vừa rồi tại Trung Đông.

“Nó bắt nguồn từ mô hình dân chủ tự do và doanh nghiệp tư do của chúng ta, mô hình hiện vẫn là phương tiện mạnh mẽ nhất sản sinh ra sự thịnh vượng và tiến bộ mà loài người từng biết tới.” Vị ngoại trưởng nhắc lại cho thế giới thấy Hoa Kỳ vẫn có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, quân đội có vị trí số một, hiệu suất lao động của người Mỹ cao nhất thế giới và các trường đại học của Hoa Kỳ nổi tiếng khắp thế giới. “Bởi vậy không thể nghi ngờ chuyện Hoa Kỳ có khả năng giữ vững và đảm bảo sự lãnh đạo toàn cầu trong thế kỷ này như chúng ta đã đạt được trong thế kỷ trước,” Sự trì trệ cũng như suy thoái kinh tế toàn cầu là do Hoa Kỳ cần có theo chu kỳ phải có … thế thôi.

Bà Clinton khuyến khích vai trò của Ấn Độ
Ấn Độ sẽ làm trụ cột châu Á? Ngoại trưởng SM Krishna đón bà Clinton ở Dehli hôm 19/7/2011. Trước khi tới Bali họp ASEAN về an ninh vùng tuần này, Ngoại trưởng Hillary Clinton khuyến khích Ấn Độ nhận trách nhiệm “lãnh đạo chính trị” và có vai trò mạnh mẽ hơn ở châu Á – Thái Bình Dương. Hiện đang ở thăm Ấn Độ, bà Clinton đã đọc bài diễn văn tại thành phố Chennai, nói rằng nước chủ nhà cần tăng sức mạnh chính trị cho xứng đáng với phát triển kinh tế. Hoa Kỳ đưa ra quan điểm rằng mối quan hệ Mỹ – Ấn sẽ tạo dựng đối tác cho thế kỷ 21 ở khu vực.
Theo lời bà Hillary Clinton, “đây không phải là thời gian để bất cứ quốc gia nào có cái nhìn hướng nội, bỏ qua tầm nhìn ra bên ngoài. Đây là thời gian để nắm bắt các cơ hội của thế kỷ 21 và dẫn dắt nó.”
Các quan chức Hoa Kỳ nói diễn văn của bà Clinton một lần nữa xác tín viễn kiến về quan hệ của Washington với Dehli để thay đổi diện mạo châu Á.

Ủng hộ Ấn Độ hết mình
Tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đã thăm Ấn Độ và công khai ủng hộ Dehli có một ghế thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Ông Obama cũng nói Hoa Kỳ muốn thấy Ấn Độ, nền dân chủ đông dân nhất thế giới trở thành đối tác rõ rệt hơn để cùng giải quyết các vấn đề toàn cầu. Nay, bà Clinton nêu ra một loạt các lĩnh vực hai bên đang hợp tác, từ công nghệ năng lượng sạch đến lo ngại về chương trình nguyên tử của Iran. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi.

Bà Clinton nói về tam giác Mỹ – Ấn – Trung
Hồi năm 2008, hai nước đã ký hiệp ước về năng lượng nguyên tử dùng cho mục tiêu dân sự nhưng các công ty Mỹ vẫn chưa triển khai được dự án hợp tác với Ấn Độ.

Về địa chính trị, bà Clinton nay nhấn mạnh đến tính tương đồng Mỹ – Ấn trong việc phối hợp vai trò dẫn dắt châu Á và nêu cao các giá trị chung từ an ninh biển, dân chủ đến nhân quyền trong thời điểm Washington đang va chạm với Trung Quốc, theo bản tin của Reuters 20/7/2011.
“Vì Ấn Độ chia sẻ các giá trị và quyền lợi đó, nên hoạt động mở rộng hợp tác với chúng ta [Hoa Kỳ] sẽ chỉ có lợi cho cả hai,” ‘Quyền lợi’. Nhưng bà Clinton cũng nói cả New Delhi và Washington sẽ vẫn phải có “quan hệ mạnh, mang tính xây dựng với Trung Quốc”.
Ngoại trưởng Mỹ cũng thừa nhận: “Đây không phải là điều dễ dàng. Có những vấn đề quan trọng mà chúng ta chưa cùng đồng ý, hoặc bất đồng riêng với nhau, nhưng chúng ta đều có các lĩnh vực chung quyền lợi”. Bà tin rằng cả Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ “đều phải phối hợp các nỗ lực”.

Bà Clinton bắt đầu chuyến thăm ba ngày đến Ấn Độ bằng cuộc gặp với lãnh đạo nước chủ nhà ở Dehli hôm thứ Hai. Hai bên đã hội đàm cả về chương trình hạt nhân của Ấn Độ, và tình hình Pakistan, Afghanistan. Theo phóng viên Suvojit Bagchi của BBC News từ Delhi thì Ngoại trưởng Krishna tỏ ý lo ngại với bà Clinton về kế hoạch Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan. Ông nêu lý do chính quyền Karzai sẽ không đủ sức tự vệ trước phe Taliban, và nguy cơ hỗn loạn tại đây có thể lan rộng.

Ngoại trưởng Mỹ sau đó đến Madras (Chennai), nơi có đầu tư nhiều của Mỹ và thăm nhà máy xe hơi của hãng Ford. Ấn Độ hiện là bạn hàng thứ 12 thế giới của Hoa Kỳ với trao đổi thương mại hai bên đạt gần 50 tỷ USD năm ngoái. Hoa Kỳ muốn Ấn Độ vươn lên vị trí một trong 10 nước là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-19-2011, 09:27 PM
Mặt trái cuộc chiến VN

Nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Căn cứ theo trang 3/7 http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman: “Aid to Russia 1941-46” bởi chiến lược gia, George F Kennan, sáng lập chương trình chiến tranh lạnh (Cold War) chia hai quốc gia Đức, Triều-Tiên và VN, rồi tuần tự sẽ thống nhứt sau, đặt biệt VN vì không có quân đội Mỹ ở lại nên theo lộ đồ đúng 50 năm sau (1945-1995) sẽ thống nhứt theo dưới sự bảo trợ gián-tiếp của Mỹ, như trong ống kính của George Kennan là 1995 bằng sự chính thức công nhận trên công hàm ngoại giao; còn hai nước Đức và Triều Tiên theo yêu cầu tình thế vì trọng điểm Eurasian Great Game là phải chia Liên Xô và Trung Quốc ra nhiều tiểu quốc với cái dù “Tối huệ quốc” [Freedom-Support Act] dĩ nhiên mực sống của người dân trong những nước Cộng Hoà mới nầy sẽ cao hơn người dân tại Moscova và Bắc Kinh).

Khi mà Thượng nghị-sĩ Dân-chủ, Idaho Frank F.Church và Thượng nghị-sỉ, Kentucky, Cộng-hoà, John Sherman Cooper, hai ông quyết định tu-chánh án bằng danh xưng của hai ông “Cooper-Church”-1970 ra lệnh cúp mọi chi tiêu về quân sự trên toàn vùng Ðông Nam Á, có nghĩa sẽ mớm những lời lập-lờ ẩn-ý để Kissinger cho Trung Quốc chiếm Hoàng-Sa sau khi Hoa kỳ rút khỏi nơi đây. Lúc nầy Chiến lược gia Harriman lại cho ra đời cuốn sách “Hoa kỳ và Liên Xô cùng thay đổi cục diện thế giới” [America and Russia in a Changing World 1971] có nghĩa nhường ảnh các nước ÐNA cho Liên-Xô (Theo sự nhận xét của cá nhân tôi, chính trị nói một đường nhưng làm thì trái ngược vì 1972 Nixon qua gặp Mao sẽ hứa giúp Trung Quốc về khoa học kỹ thuật để trở thành cường quốc số 2, chiếm ngôi vị của Liên Xô đương-đại).

Thấy Hoa-kỳ lùi bước về Honolulu, sau khi cưỡng chiếm Hoàng-Sa, nhóm trẻ Trung quốc lấy đà chiếm các đảo san-hô (Mischief Reef) của Phi Luật Tân và quần đảo Trường-sa (Spratlys) nhưng Phi Luật Tân vì yếu thế nên cứ la hoảng bằng hình thức ngoại giao. Tổng thống Fidel Ramos: “Tôi sẽ dùng những biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền!” Thế là Mỹ bán cho Phi Luật Tân khoảng 2 tỷ dollars chiến cụ để tự vệ trong khi đó Hoa kỳ được “save money” về chi tiêu, nhờ CIA tạo cảnh rời bỏ hai căn cứ Hải và Không, Clark field và Subic 1992 với lý-do dân Phi biểu tình đuổi Mỹ! cũng như Tổng Thống Minh chỉ nắm quyền trong 72 giờ, vừa đủ để đuổi Mỹ để bàn giao.

Thấy những sự việc khó hiểu về chính sách Mỹ, báo chí có đặt câu hỏi với Ðô-đốc Richard Macke, Tư lệnh Thái bình dương về các biến cố như kể trên, Macke trả lời: “Chúng tôi không ngạc nhiên gì về dữ kiện biến-cố đó đả xảy ra!” Báo chí không hài lòng câu trả lời nầy, nên một tuần sau, họ hỏi Ðô đốc William Owens, Phó Tham mưu trưởng Liên quân một lần nữa và được trả lời: “Hiện đang có quá nhiều biến cố xảy ra tại quần-đảo Trường sa do nhiều nước dính líu tới, nhưng chúng tôi là quân nhân nên không dính líu gì về chính sách, tuy nhiên chúng tôi cũng chia bớt những tin tức tình báo mà chúng tôi biết được cho đồng minh của chúng tôi!” Tuy Hạm đội 7 của Hoa kỳ không có mặt ở biển Ðông nhưng chiến hạm Mỹ với cái gọi là “tìm phi-công Mỹ mất tích” dưới lòng Vịnh Bắc Việt và biển Ðông vẩn tiếp tục đi đi lại lại, đôi khi ghé vào thăm viếng VN và dĩ nhiên phải xuyên qua duyên hải VN cũng thuận theo công pháp quốc tế về biển.

Ðịnh mệnh của VNCH nằm trong tu chánh án “Case-Church”: Ngày 29/6/1973, lại cũng do Thượng nghị sĩ Frank F Church, Dân chủ, Idaho và Thượng nghị sĩ, Công-hòa, New-Jersey Clifford P.Case, lại một lần nữa nhập tên hai ông nầy thành tu chánh án “Case-Church,” ra lệnh nghiêm-cấm mọi hoạt động quân sự của quân đội Mỹ tại Lào, Cambodia, và Việt Nam. Có nghĩa lực lượng Hoa kỳ không còn ở lại Ðông Nam Á. Thế là 700 triệu tấn vũ-khí mới-tinh của Liên Xô trả bằng tín-dụng dollar Mỹ cho giai cấp thợ-thuyền Liên-Xô trong thế “bênh kẻ mạnh”, đem vào Hà Nội cho chiến dịch Hồ Chí Minh và chiếm Cambodia sau nầy. Kết thúc Màn-2 giai-đoạn-2 để qua Màn-3 là Trung-Ðông! có nghĩa bức chắn ngang Âu-Á. Nhưng trọng điểm của vở bi kịch Eurasian lại nhấn mạnh ở hậu quả từ Màn-2, giai đoạn-2 do vệ tinh gián điệp [American spy satellite program] đã khám phá các nguồn tài nguyên dưới thềm lục địa sau thế chiến-2, gây hệ quả: phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur, Trung Hoa Quốc gia buộc phải nhường ghế LHQ cho Trung quốc, giải thể VNCH tại vùng sẽ tranh chấp, sau khi khoan thử vài mũi khoan kiểm chứng có dầu khí tại đây, rồi đóng nút lại chờ phân giải trên bàn mổ LHQ vào đầu thế kỷ 21: Thềm lục địa có trữ lượng dầu khí nầy sẽ đem ra bàn luận tại LHQ vì có nhửng văn bản thành văn và những, chưa thành văn cần tái xác định điều chỉnh lại bằng công pháp quốc tế nhẹ nhàng không cần phải dao to búa lớn!

“Hoa-kỳ muốn bảo đảm rằng các nước có thể có lợi ích trong đó nên hiểu, vùng biển Ðông có những luật lệ thành văn (điều khoảng trong HÐ Genève-1954) và bất thành văn (Hoa kỳ bằng mọi giá phải đưa TQ vào cộng đồng quốc tế để dự phần bảo vệ trật tự thế giới) không ai được quyền ra đó “Xí-được” rồi đấm ngực ầm ầm và tuyên bố Tôi có quyền khai thác mỏ dầu ngay tại chổ nầy!” Hoa kỳ sẽ không quay lưng và cũng đúng vào lúc phải trở lại (overhauling the damage control and roll-back 2010-2020) theo đúng trên trục tiến đồ để giữ lời cam kết với đồng minh của mình, chủ yếu là Việt Nam phải có sự bảo đảm được an toàn cho các công ty khai thác, nếu không thì VN chưa có thể là quốc gia có dầu khí chính thức trong vùng! Vì thế Hoa-kỳ sẽ trang bị tối tân hóa hải quân cho VN để tiếp-tục keo sơn hiệp ước Việt-Phi tháng bảy, 1995 cũng chỉ là để bảo vệ chủ quyền lảnh hải của hai nước nhưng chủ yếu vẩn là quyền lợi Mỹ.

Trong thời gian nầỳ thỉnh thoảng chiến hạm Mỹ tới thăm VN, Ðô-đốc Timothy Keating, Tổng tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái bình dương lại qua thăm VN một lần nữa ngay sau khi Bắc-Kinh công bố sắc lệnh thành lập thành phố Tam-sa bao gồm Hoàng-sa và Trường-sa. Trung Quốc âm thầm xây dựng căn cứ tàu ngầm nguyên tử tại thành phố Sanya cực nam đảo Hải-Nam để chuẩn bị khai triển lực lượng tàu ngầm nguyên tử có khả năng chơi trò đuổi bắt và săn tìm với hạm đội tàu ngầm của Hoa kỳ trên biển cả bao gồm Thái Bình Dương, Ấn Ðộ dương và cả Ðại Tây dương khi cần hộ tống các tàu dầu Trung Quốc chạy qua kinh đào Suez.

Ðể chuẩn bị cho Tổng thống thứ 44 của Hoa kỳ sẽ tái xác định chính sách “tái can dự” của Hoa kỳ ở Á châu và đặc biệt ÐNÁ- TBD. Chính sách chiến lược Eurasian là mục đích chính “bảo vệ VN” trong giai đoạn trở lại [“roll back.”] Tháng Sáu, 2008, TT Bush có mời TT Dũng và TT Phi xác nhận chủ quyền của hai nước, đồng thời khuyên hai nước hợp tác quân sự để bảo vệ lãnh hải của mình, dĩ nhiên Hoa Kỳ sẽ tìm cách bán vũ khí sau, và sẽ có Hiệp ước hợp tác quân sự Việt Mỹ trong nhiệm kỳ Tổng thống thứ 44 . Biết cái thế yếu kém của VN, Hoa kỳ đã từ lâu im lặng trước các động thái khiêu khích của Trung Quốc và âm thầm chuẩn bị đánh những đòn trả lại, Hoa kỳ tìm cách thuyết phục VN về mối nguy hiểm đã kinh qua do Trung Quốc, và hình như đã thành công phần nào. Kết quả Hoa kỳ cam kết ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lảnh thổ VN. Dĩ nhiên phản tình báo CIA sẽ lập lại qua con bài chống tham nhũng để loại ra các phần tử thân Trung Quốc bằng tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh, và thế vào đó thành phàn thân Hoa kỳ, cấu trúc guồng máy lảnh đạo quân đội để sẵn sàng tối tân hóa hỏa lực, và sau nầy thành lập nội các có 8/10 sẽ đào luyện tại Mỹ và do đồng bào ruột thịt sẽ tự nguyện đem chất xám về phục vụ dân tộc, với 10.000 tiến sĩ gương mẫu đào tạo tại Hoa-kỳ. Ðiều nầy người viết chắc chắn sẽ xảy ra 100%, còn những người Việt hải ngoại mang máu hận thù sẽ không thấy có tắm máu trở lại mà Hoa Kỳ có trách nhiệm sẽ giải quyết êm đẹp, khi nhóm người nầy nằm yên dưới ba tất đất không thể đội mồ mà lội ngược dòng lịch sử.

Năm 1947 biến hóa OSS thành CIA, Harriman và Prescott đã chuẩn bị đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á Châu, đồng thời ngay thập niên 60, khi vệ-tinh gián điệp đã phát hiện mỏ dầu dưới thềm lục địa của VN, và đả khoan thử chắc có rồi mới đóng lại để chờ đến ngày hôm nay (Tổng thống 44) TQ nên hiểu rằng Con Ó làm tổ thì nơi đó chỉ nở ra Ó-Con, chớ không thể Le-le hay Vịt trời nở ra nơi đó! Hoa kỳ phải cách chức vị Tướng tài Mac Arthur để đưa Trung Quốc vào trò chơi pháp lý; Còn đối với Hoa kỳ nơi nào có thể làm ăn hợp pháp mới dám bỏ vốn làm ăn, bất chấp sự bất bình của Trung Quốc là một quốc gia đang lớn mạnh và có khả năng làm khó Hoa-kỳ thì Hoa kỳ cũng sẽ làm khó lại. Trung quốc đừng quên rằng 1949 CIA đã hoàn thành cưỡng bức di tản Thống chế Trưởng Giới Thạch qua đảo Ðài-Loan và 1959 đả bí mật giúp bảo-vệ Ðức Ðạt Lại Lama và vận tải cơ C-130A do Ðại-tá Harry Aderbolt, chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập vẫn thường xuyên tiếp tế cho du kích của ngài, Trung Quốc khôn ngoan nên ôn hoà với Mỹ vì nội bộ mới là cái cơ nguy cho Trung Quốc mà CIA đã quậy nát bấy rồi, và hơn nữa TQ bề ngoài xem như mạnh nhưng thật sự rất còn yếu kém nhiều phương diện. Gương trước mắt, Liên Xô là một nước CS chuyên chế mà Hoa kỳ còn làm sụp đổ từng mảnh, Hoa kỳ xem Liên Xô cứng và gai gốc như vỏ trái Soài Riêng, còn Trung Quốc như những múi thơm hay thúi gì đó tùy sự khôn ngoan của đối tượng biết cư xử thế nào cho phải đạo.

Ðã đến lúc Hoa kỳ phải tỏ ra bênh vực VN bằng cách “Tái khẳng định sự ủng hộ của chính quyền Mỹ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN” qua một số ngôn từ làm giới quan sát quốc tế đánh đổi ngạc nhiên: Hoa-kỳ và VN phải trao đổi việc mở rộng và tăng cường đối thoại giữa các quan chức cao cấp của hai nước, sẽ ủng hộ việc lập cơ chế đối thoại mới về chính trị, quốc phòng và chính sách nhằm tăng cường sự trao đổi thường xuyên và sâu hơn nữa về các vấn đề chiến lược và an ninh. Ngay vào lúc nầy, về phía VN, bị dồn vào chân tường, VN khó chọn thái độ đẩy đưa đu-dây như trước mà phải dứt khoát, mạnh mẽ làm bất cứ những gì cần thiết để chứng tỏ chủ quyền lãnh thổ của mình. Theo trong tầm ống kính của Skull and Bones [Harriman] cho biết rằng: “nếu việc tranh chấp chủ quyền trên biển được đưa ra quốc tế thì VN có nhiều điều kiện để thắng” Vì thế cho nên Hoa kỳ chường mặt bằng ExxonMobil không thể đơn giản rút lui như công ty người Anh BP đã phải chùn bước năm vừa qua, mặc dù áp lực của TQ không làm cho Công-ty ExxonMobil ngưng tiến hành các cuộc thảo luận với Petro-VN.

Về chuẩn bị dư luận thế giới là môn tuyệt chiêu của thủ lãnh Skull and Bones [Harrimen, Bushes] lại lấy trung tâm văn hóa thế giới là Thủ đô Paris qua nguồn tài trợ Ngân hàng Thụy-Sỉ như: nữ tiến sĩ Monique Chemillier Gendreau, giáo sư Luật và Khoa học Chính trị đại-học Paris, vì lương tâm khách quan, vì công lý lẽ phải của một luật gia tầm cỡ quốc tế. Giáo sư Monique đả bỏ ra nhiều năm tận tụy sưu khảo và viết bộ sử tựa đề “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” L’Harmattan, Paris 1996, 306 pp (Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) trong đó gần nhứt là Hiệp định Genève 1954 có các Ðại-sứ cường quốc như Liên Xô và Chu An Lai công nhận bằng chử ký, miền Nam VN có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trước khi nhường ghế cho T.Thống thứ 44, George Bush ghé Tổng thư ký khối ASEAN ở Thai Lan tái xác định chính sách “can-dự” của Hoa kỳ ở Á-châu và đặc-biệt ở ÐNA, TBD. Nói tóm lại Bush tuyên bố thẳng thừng là bảo vệ VN để giữ nguồn dầu khí nơi đây không thể rơi vào tay Trung Quốc và sau đó VN sẽ thể hiện đường lối cứng rắn với TQ để đi theo Mỹ đúng như ý đồ cũa Harriman qua chiến lược gia George F Kennan trong thế chiến lược Eurasian 1920-2020.

“Làm gì có sự lạ trên đời khi Con Ó làm ổ, đẻ trứng nơi đó mà lại nở ra con Le-Le Vịt trời” Trung quốc cũng thừa hiểu khi đụng độ với VN và Phi Luật Tân thì có các nước khác nhảy vào như Nhựt, Thái-lan, Ðài-Loan, Mả-Lai, Borneo… Trung quốc không muốn rằng mình trở nên con Heo-rừng bị một bầy chó săn tấn công mọi mặt, đến khi kiệt sức, thì người thợ Chú Sam dứt nộc. Dĩ nhiên Trung quốc không dại gì phải… hơn nữa dù là “Di tản chiến-lược”[theo lộ-đồ Eurasian] về Hawai 1970 ngay sau khi Quốc hội Hoa kỳ ban ra Tu chánh án “Cooper-Church,” nhưng Hoa kỳ ngầm ý để cho Nhựt thay mặt bảo quản an ninh vùng Thái bình dương sau khi Mỹ di tản chiến lược. Ngoài ra từ thập niên 1970, Nhật bản được Mỹ bật đèn xanh bung ra viện trợ cho các nước trên thế giới, đứng vào hàng đầu là ưu tiên cho VN, qua viện trợ để các nước tiêu dùng hàng hóa Nhựt, đồng thời gây ảnh hưởng để mở rộng thị trường. Mỹ và Nhựt sáng lập Ngân hàng phát triển Á-châu ADA để tận tình giúp đỡ VN, cũng như Hoa kỳ lờ luôn cho Việt kiều tuôn về hàng tỷ dollar theo như lộ-đồ chiến lược Eurasian. Hoa kỳ bàn giao lại cho Nhựt những tin tức tình báo gài bẩy sự khao khát dầu khí của TQ qua 1974 cưởng chiếm Hoàng Sa của VNCH, đánh chiếm một số đảo Trường Sa năm 1982, trên biên giới trận đánh cưỡng chiếm đất đai Thanh-Thủy, Lão-Sơn 1984. Thấy TQ với âm mưu Ðại-Hán và chiến lược Hải Dương, Nhựt Bản thay mặt Hoa kỳ đã công bố một bạch thư về “An ninh quốc phòng Nhựt Bản về Á-châu” cho Việt Nam: 1988 hải quân TQ chủ trương chiếm các đảo San-hô của Phi và Trường-Sa và 2008 trong mùa bầu cử tổng thống, hải quân TQ sẽ tiến xuống Trường Sa, đánh bật Mỹ ra khỏi biển Ðông, cô lập vùng biển của Phi Luật Tân và VN. Nhưng Bushes rất bình tỉnh sẽ có một tổng thống da màu biểu tượng 1000 lần dân chủ, sẽ cứng rắn bằng những lời đanh thép với TQ.

Hoa-kỳ muốn Nhựt trở nên một nước hùng mạnh tại Á-châu! Nhưng phải có nanh-vuốt quân sự, thông thường “Ai buộc, người đó gỡ”: Ngày 14/8/1945, Nhựt đầu hàng sau khi lãnh hai trái bom nguyên-tử ở Hiroshima và Nagasaki, Thống tướng Mc Arthur đại diện Ðồng minh, tiếp nhận cuộc đầu hàng của Nhựt trên mẫu hạm Missouri neo ở cảng Tokyo cùng với 11 đại diện các nước Ðồng minh, trong đó có Nga-Sô, Trung-hoa, Canada, Anh, Úc … Tướng Mc Arthur cầm đầu Hội đồng tối cao Ðồng minh quân-quản một nước Nhựt đầu hàng [một Vị Tướng tài ba như vậy mà bị W.A.Harriman áp lực TT Truman phải cách chức, thì chúng ta cũng dể hiểu, Ông Harriman nầy quả là một thế lực ghê-gớm nhứt sau hậu trường nước Mỹ và chính ông nầy là thủ phạm ra lệnh giết chết TT Diệm] Ban Quân pháp Hoa-kỳ được lệnh soạn thảo hiến pháp mới cho Nhựt – Hiến-pháp 1946, có hiệu lực từ 1947 cho đến nay, chưa một lần tu chỉnh. Dù hiến pháp do do Ban Quân pháp của Bộ Tổng Tư Lệnh Mỹ soạn thảo, nước Nhựt trong 60 năm qua vẩn triệt để trung thành và là một trong những nước dân chủ nhứt thế giới.

Vì Trung-Quốc đã vướng vào cái bẫy của Mỹ giăng ra đầu tiên 1/1974 vụ cưởng chiếm Hoàng-sa của miền Nam VN, sau đó quần đảo san-hô và Trường-sa do nhiều nước có chủ quyền nơi đó, nhiều nơi thành-văn còn nơi khác bất thành văn, kể cả đảo Ðiếu-ngư không biết Nhựt hay Trung hoa là chủ quyền; Vì thế Hoa-kỳ phải hy sinh hai nước đồng minh là Trung Hoa Quốc Gia và VNCH để đưa Trung quốc vào trò chơi công pháp quốc tế để yên tâm bỏ vốn khai thác dầu khí đúng theo sự thiết-kế của George Kennan. Trung quốc quá ham dầu hỏa và hơi đốt dưới vùng biển trong hải phận VN, điều nầy quá đúng theo sự dọ thám của vệ-tinh sau thế chiến-2, dầu khí ở thềm lục địa VN dẩn đầu các nước ÐNA. Tổng số dầu khí VN là 1.9 tỷ BOE (1 bbl tương đương 5,300 ft3) Dù rằng Trung quốc có hung hăng công bố bản đồ mới của TQ 2007 với lưỡi-bò từ vùng An-vạn bắc và biển Ðông rộng 5 triệu km2, thêm một thách đố khác đối với Nhựt, Úc mà Úc cũng như Tân Tay Lan đã tự coi thuộc về Á châu và ÐNA. Nhưng Mỹ thì cứ nhởn-nhơ vì biết chắc rằng, ít nhứt cho đến năm 2030, còn như hiện tại kỹ nghệ dầu hỏa TQ chưa có đủ khả năng khai thác dầu khí ở Biển Ðông, nhứt là vùng Trường-Sa và Hoàng-Sa. Nhưng trước 2030 hay trước 2023 kỷ niệm 50 chiến tranh VN thì mọi việc đã dàn-xếp trên bàn họp tại Liên Hiệp Quốc mà chắc chắn Trung quốc sẽ bị thua vì pháp lý, căn cứ những dẩn chứng mà Tôi hiểu được! .

Hoa-kỳ, ngay sau khi Quốc hội cho ra Tu chánh án “Cooper-Church-1970” bèn nói nhỏ Nhựt cứ việc âm thầm sản xuất chiến cụ để thay mặt Mỹ trông coi an ninh trong vùng, Nhựt sẽ đóng Hàng không mẫu hạm và các giàn hỏa tiễn tầm xa; ai cấm Nhựt bí mật chế tạo vũ khí nguyên tử, tàu ngầm nguyên tử với đầu đạn nguyên tử? Sức mạnh quân sự của Nhựt vẩn gắn bó với sức mạnh quân sự Hoa-kỳ, nối kết với Úc-Ðại-Lợi, một thử thách ghê gớm khiến TQ phải suy nghĩ hai lần hoặc nhiều lần! Cho đến khi Bắc-Kinh điên khùng ngang nhiên ra tay cho liên quân tập trận ở Trường Sa và ban hành sắc lệnh thành lập thành phố Tam Sa, huyện đảo Tam Sa, thuộc Tỉnh đảo Hải-Nam. Ðây là lúc mà Hoa-kỳ muốn Nhựt trực tiếp đối đầu [cũng là phương thức gây chiến kiểu đàn anh, bắt mấy thằng em nhập trận trước, cho đến khi địch thủ mệt nhòai, là chọt một cái nhẹ địch thủ cũng sẽ ngã quỵ; Trong thế chiến-2, Ðại sứ W.A Harriman tại Liên Xô chỉ ngồi chờ đợi, cho đến khi Hồng quân tiến vào Bá-Linh, lúc đó Trung-úy OSS William Colby mới cho Harriman biết để thả Sư-đoàn Dù vào phỏng tay trên chụp trước các nhà bác học Ðức].

Sự kiện hung-hăng diễn tập quân sự bắn đạn thật của TQ, khiến Nhựt bản phải tái võ trang theo sự gật đầu của Mỹ. Năm 2008 TQ vươn lên đến đỉnh cao thịnh vượng với Thế vận hội Bắc kinh; thực tế, Nhựt Bản chuẩn bị tái võ trang đã từ lâu, nay vì sự hung-hăng của TQ, nên mới công khai hóa. Ðây cũng là một khúc quanh thách đố lớn đối với TQ, chính phủ Nhựt công bố quyết định tháng 9/2007 nầy, Tự vệ quân Nhựt ra đời sau hiến pháp “chủ-hòa” 1947 sẽ trở thành Quân đội chính qui. Sau khi quốc-hội Nhựt thông qua đạo luật mới cho phép Tổng Nha Tự Vệ (The Agency of Self Defense) trở thành Bộ Quốc Phòng; Thế nên Tổng Giám Ðốc Tự Vệ đã trở thành Tân Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ðương nhiên là một đồng minh son-sắt nhứt của Mỹ, Nhựt sẽ phát triển sức mạnh quân sự thành một cường quốc quân sự số 1 Á-châu chậm nhứt là năm 2010 với 3 quân chủng Hải, Lục, Không quân cùng bảo-trợ quân sự cho VN để cùng chia sẻ trật tự tại vùng ÐNÁ, Việt Nam sẽ được trang bị sơ khởi bằng tàu ngầm Kilo, các diệt lôi hạm có trang bị hỏa tiễn tối tân liền sau đó và các trực thăng võ trang tuần tra UH-1H cải tiến đậu trực alert trên các tuần dương hạm.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-20-2011, 06:00 PM
Sự thật huyền thoại HCM

Để soi sáng những vùng tối của lịch sử, người viết cảm nhận phải đưa ra những sự kiện trung thực về con người và sự nghiệp của Hồ Chí Minh vào khi có quá nhiều thông tin trái ngược nhau về nhân vật lịch sử nấy, không nên mạt sát, không nên đả kích. Đây không phải bài viết tố-cộng, mà là một diễn giải bởi cá nhân người viết, muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía Cộng Sản đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, họ coi như là một vị thánh, vị thần, thậm chí còn thở phượng. Nhưng thật ra có ai biết đâu là do một khối óc tinh-ranh thần sầu quỷ khốc, họ có thể làm đảo lộn cả căn thực chất chân-lý kinh dị mà chúng ta có thể chứng kiến nhãn tiền như tại Mỹ: da đen hạ da trắng, vô danh tiểu tốt hạ nổi tiếng trên chính trường, nhà nghèo thắng nhà giàu, tiểu niên TNS thắng thâm niên TNS, chưa ở Bạch Ốc thắng người đã từng ở 8 năm Bạch-Ốc, tiểu bang nhỏ thắng tiểu bang nổi tiếng New-York… nói tóm lại cái Tập-đoàn War Industries Board ghê-gớm nầy muốn làm gì chả được? Tổng thống Bush-Con đã thua Gore, giờ chót “bồ-nhà” Tối Cao Pháp Viện quyết định cho thắng, nghe lén Watergate bị buộc từ chức, nhưng lừa gạt dân Mỹ và Quốc hội tuyên bố gây chiến vì Iraq có vũ khí nguyên tử… nhưng không có, vẫn ngồi trên chiếc ghế quyền lực đến mãn nhiệm kỳ thì làm gì nhau?

Qua một thời điểm tranh cử ngắn ngũi “chiến-thuật” do chính họ bảo trợ, như vậy thì trong kế hoạch siêu “chiến-lược” toàn cầu, nhóm người nầy muốn Võ Nguyên Giáp hay tướng lãnh Hà Nội dù không học trường lớp nào vẫn nổi tiếng như cồn, chẳng lẽ tất cả đều là thiên tài? Mọi đường lối chính sách thường qua quyết định bởi người thống lãnh thế giới William Averell Harriman (1891-1986) xác quyết cho mục tiêu chiến lược toàn cầu, điển hình như nhân vật Hồ Chí Minh với nhiều huyền thoại trong sự nghiệp bí ẩn đầy gian dối do chính tham mưu chiến lược gia George F Kennan (1904-2005) sáng tạo dựng lên cho chủ đích chính trị trong giai đoạn lấy màu da Vàng làm vật tế thần thay cho người da Trắng, hay nói cách khác đem chiến tranh từ Âu Châu qua Á-Châu bắt đầu từ 1950 …

Nhưng thật sự, sau khi nghiên cứu kỹ, thì HCM cũng chỉ là một con người bình thường, mà là một con người có rất nhiều điều phải nói, một trong những điều phải nói là để lại một di sản rất là tai hại cho dân tộc VN (nhưng không phải do HCM chủ động mà là bị đặt để?) Về một cuốn phim mà tôi cho rằng: “Trình bầy Sự thật HCM đã đến thời điểm phải tuyên bố đâu là sự thật mà người Việt cần phải biết” theo đơn đặt hàng. Để thực hiện cuốn phim này, người ta tìm kiếm, góp nhặt, thẩm định và ghi chụp tài liệu của nhiều sử gia và nhà nghiên cứu, các nhân chứng sống, và nhất là những tài liệu đã được giải mật từ văn khố của nhiều chính quyền, cũng như cơ quan tình báo các nước đã giữ chặt trong tủ sắt, nay mới chịu khui ra cho thế gian biết vào đúng thời điểm decent interval trên trục lộ đồ phải diển tiến. Ngoài ra còn phải kể đến các cuộc gặp gỡ, phỏng vấn 31 nhân chứng sống tại 15 địa điểm khác nhau, như nhà văn Vũ Thư Hiền, nhà nghiên cứu sử Trần Gia Phụng, Vũ Ngự Chiêu, GS Sophia Quinn-Judge, cựu đại tá và nhà báo Bùi Tín, GS Nguyễn Ngọc Bích, GS Lê Hữu Mục, ông Nguyễn Minh Cần, ông Nguyễn Tường Bách, ông Minh Võ, đại sứ Bùi Diễm, nhà báo Oliver Todd và LM Phan Văn Lợi …

Cuốn phim muốn trình bày sự thật về một con người, mà phía ĐCS, nhứt là phía Hà-Nội, tay sai gián tiếp của Mỹ, bằng sự lựa chọn Mafia Lê Đức Thọ. Vì được hưởng lợi khi buộc phải núp dưới bức tường Thép, nên đã cố tình che giấu bằng những huyền thọai, người ta coi như là một vị thánh, vị thần. Hồ Chí Minh lẩn khuất sau những lớp màn che tối tăm hay mờ ảo để cho người ta không nhận diện được ông, cho nên từ đầu chí cuối, tôi thấy từ ngày sanh cho tới ngày chết của cụ Hồ Chí Minh đều dối trá, không thật chỉ vì một lý do chính trị nào đó của thế lực trong bóng tối muốn thế. Vì sự thật OSS cũng như CIA sau nầy không muốn ai hiểu rõ lai lịch của lá bài tẩy đang thế úp như HCM để theo dõi mà chỉ có bọn họ [Permanent Government] độc quyền mà thôi cho mưu đồ chính trị; ngay cái tên đường mòn Hồ Chí Minh, Chiến dịch HCM, thành phố HCM, và nếu Harriman còn sống thì HCM sẽ nằm trong danh sách danh nhân thế giới như Nguyễn Trải qua quỷ tài trợ ngân hàng Thuỵ-Sĩ cũng như đã ban thưởng giải hoà bình Nobel cho Kissinger, còn Lê Đức Thọ không được nhận như lời vàng thước ngọc của Harriman dặn dò Thọ tại Paris Peace Talks: “Phải chiếm miền nam và Cambodia”.

Tôi hết sức tôn trọng, không chỉ trích nặng nề, và cũng không ca tụng cụ Hồ Chí Minh là một hình nộm lịch sử, những gì tôi hiểu được, từ nơi cuốn phim, đó là phim tài liệu. Tôi không thể cả quyết được rằng tất cả đều là sự thật theo nhãn quan của tôi, mà chỉ nói, tôi đang tiến tới sự thật về Hồ Chí Minh theo những chứng cớ thấy rờ được qua những tài liệu đi vào thực tế, như chính HCM cũng thừa nhận cụ là người bình thường như mọi người, dù rằng bị gán ép là học thuyết gia, tác giả … nhưng cụ rất khiêm nhường tự thú cho rằng cụ chỉ là người hành động, mọi người nghe chữ Leninìst, Maoist .. chớ có ai bao giờ nghe Hoist chưa? Ai muốn thần thánh hoá cụ để làm gì?

Di sản Hồ Chí Minh, nội dung tổng quát của phim “Sự Thật về HCM” được trình bày mạch lạc như có chủ đích từ lâu trong 6 lãnh vực: Thân thế, đạo đức, tư tuởng, bản chất, di sản và tội ác của HCM. Trong mỗi lãnh vực, cuốn phim nêu lên những gì đang được rao giảng về HCM ở trong nước và đưa ra những chứng tích lịch sử dưới nhiều hình thức để chứng minh là những gì đang được truyền bá trong nước hầu hết là những điều được thêu dệt lên để thần thánh hóa ông với chủ đích không tốt, là cái dù cho bọn Mafia Lê Đức Thọ và đồng bọn núp dưới mà hưởng thụ cướp bóc đúng nghĩa đảng cướp Mafia.

Có rất nhiều nhà nghiên cứu ngọai quốc về phim đời sống của HCM, về con người của HCM khi họ xin phép để phỏng vấn thì bị từ chối, lý do là nếu họ trả lời, trình bày những sự thật thì CSVN sẽ không cho họ vào VN để mà nghiên cứu nữa. Cho nên phải nói là họ rất là may mắn nhờ CIA giúp đỡ! Phỏng vấn được hai người đó là nhà văn nhà báo Oliver Todd, và GS Sophia Quinn-Judge, là hai nhà nghiên cứu về VN có tăm tiếng quốc tế, và một lần nữa có thể nói đó là cái may mắn nhờ đúng vào thời điểm. Nhưng họ cứ yên tâm, Hoa kỳ sẽ đợi đúng thời điểm 50 sau khi người Lính Mỹ rời khỏi VN (1973-2023) lúc nầy thế hệ dính dấp với chiến tranh đã nằm yên đưới đất thì lúc đó câu nói của Thượng Nghị Sĩ Mc Cain sẽ làm sáng tỏ thêm: Mc Cain bị CS giam cầm hành-hạ đến nỗi hai lần toan tự tử mà không được toại nguyện đã nói, “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” sẽ phong phú hoá câu nói để rồi cùng trùng hợp với câu nói của Donald Rumsfeld, tác giả tháng Tư Đen: “Miền Nam bù nhìn Miền bắc yêu nước” Tại vì vở bi-kịch nầy trả lại lời hứa với cụ Hồ là sẽ giúp cho VN thống nhứt độc lập, nhưng trước tiên phải trả một cái giá là để cho họ khai thác lợi nhuận qua khuấy động chiến tranh, trong lúc chúng ta đang nằm yên dưới ba tấc đất không thể đội mồ lên mà lội ngược dòng lịch sử? Cái giá quá đắt 1945-1975 khói lửa!

Thật ra đối với người quen tìm đọc các tài liệu lịch sử, thì những điều được trình bầy trong cuốn phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” không mang đến cho họ điều gì mới mẻ đáng kinh ngạc, nhưng theo LM Nguyễn Hữu Lễ thì nếu đối tượng là những người ở trong nước thì lại khác. Đó là lý do vào thời điểm thả chiếc bong bóng nhẹ nhàng bay bồng bềnh trên bầu trời Việt Nam là chủ đích. Nếu là người ngọai quốc, thì người ta nói rằng ồ, chẳng có cái gì mới cả, bởi vì dầu sao về HCM thì họ đã biết rồi, có người thì đọc sách, có người thì nghe băng, có người thì coi hình, thì nói ồ dầu sao tôi đã biết rồi, HCM có vợ có con, HCM lấy đàn bà con gái, HCM giết người, HCM v.v…, HCM cũng đặt điều nói dóc về mình khi mà tự lấy tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mà giới trẻ trong nước có biết không? Người dân trong nước không biết gì cả, cho nên mục đích chánh cuốn phim này, là họ làm để phổ biến về trong nước theo đơn đặt hàng có chủ đích như cuốn phim “Chúng tôi muốn sống” qua thâm ý, di cư 1954 và cuộc chạy tán loạn 1975 bởi “Vote On Foot”. Bọn chúng tìm cách chạy trốn tội tàn sát người Việt nhứt là biến Thái Bình Dương thành một nghĩa trang vĩ đại với gần nửa triệu người Việt vô tôi phải làm mồi cho cá, nhưng tuyệt đối không dám dựng một cuốn phim nào cả?

Thành ra cái giá trị việc làm của LM Nguyễn Hữu Lễ là cho thấy được cái sự thật như thế nào, đó là một điều rất là cần thiết cho những thế hệ sau này của chúng ta theo ý đồ của một thế lực Permanent Government. “Đây là một công trình hết sức là công lao, và rất là khó khăn mà quý vị ấy đã bỏ công bỏ sức ra trong vòng hai năm vừa rồi để mà thực hiện. Tôi nghĩ là không cần cả cuốn phim, chỉ cần một phần của cuốn phim này, một phần tư của cuốn phim này thôi, mà về tới cho tất cả những người ở Việt Nam thì chắc chắn là họ biết là từ trứơc đến nay họ bị lường lọc, họ bị nhồi sọ một cách sai lầm.” Vì đã đến thời điểm Hoa Kỳ muốn chứng minh bấy lâu nay họ dựng bức tường Thép HCM cho bọn Mafia-Việt núp mà hưởng lợi thời gian như vậy là đủ rồi, và bắt đầu từ nay sẽ trở thành bức tường bùn đất trộn lẫn rơm rác, có nghĩa chấm dứt chế độ Mafia và đã đến lúc tiền bạc mà Đảng Mafia nầy cướp giựt của dân bấy lâu nay, tiến viện trợ, tiến người Việt gởi về, hùn vốn phải trả lại cho người dân như Marcos ở Phi, Trần Thủy Biền ở Đài Loan… bằng hàng tiêu dùng của Mỹ, dĩ nhiên những tai to mặt lớn vi phạm hiến quyền Mỹ thì đừng hòng đoàn tụ gia đình ở Mỹ khi bị đảo chánh vì đã bị từ chối Visa theo luật-pháp của Mỹ.

Người ta cho rằng sẽ có một cuộc chiến giữa sự thật về Hồ Chí Minh ở hải ngọai và sự thật về Hồ Chí Minh ở trong nước. Giới trẻ trong nước cũng có một số người đã xem phim này và cho rằng DVD “Sự Thật về Hồ Chí Minh” sẽ là một món hàng bị cấm lưu hành tại Việt Nam, nhưng các sử gia hậu cận đại sẽ đồng kết luận: “Hồ Chí Minh được thán phục không phải vì sự thắng lợi mà vì sự bội phản của Mỹ”

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-24-2011, 06:35 PM
Bất đồng về chủ quyền tại Biển Ðông

Những vụ tranh chấp chủ quyền ở biển nam Trung Hoa mà VN gọi là Biển Ðông rất khó giải quyết và tình hình đã trở nên xấu đi vì khả năng chấp hành các đòi hỏi của TQ đang trở nên gia tăng và những mưu toan của nước nầy nhằm ngăn chận những nỗ lực của VN để hình thành một mặt trận Asian thống nhứt. Ðâu ai hiểu được có sự bấm đít VN của phản tình báo Mỹ cho rầng: “Chúng tôi đã ở đây từ cuối thế kỷ 19, chúng tôi vẫn tiếp tục ở đây, hôm nay, ngày mai và mãi-mãi. Còn đối với những nước ở vùng Thái-Bình-Dương nầy, chúng tôi bày tỏ sự cam kết vững chắc keo sơn của Hoa-kỳ đối với họ dưới sức mạnh và quyền lực tuyệt đối của chúng tôi! Trung-Quốc nghe hiểu câu nầy nên tạm thời co mình chùng lại.

Vấn đề đòi hỏi chủ quyền sẽ tiếp tục khó giải quyết, và tính chất thiếu minh bạch của TQ đã tạo ra những nghi vấn chính đáng về ý đồ chiến lược của họ; Trong năm nay, VN đã tăng cường những nỗ lực để đạt được thoả thuận về một quy tắc hành xử có tính cách ràng buộc ở Biển Ðông. Một tuyên bố năm 2002 đã ký giữa TQ và khối Asian kêu gọi các bên liên hệ giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng đường lối hoà bình và tránh thực hiện những hành động có thể gây nên căng thẳng. Trong khi TQ đã tìm cách ngăn chận những nỗ lực của VN, là nước đang giữ chức chủ tịch của khối Asian, nhằm hình thành một mặt trận thống nhứt chống lại TQ ở Biện Ðông.

Tháng 7 vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố tại hội nghị diễn đàn khu vực Asian ở Hà Nội rằng: việc thông qua đường lối ngoại giao đa phương để giải quyết vụ tranh chấp ở Biển Ðông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ, tuyên bố nầy đã gặp phải sự phản bác kịch liệt của ngoại trưởng TQ. Trung Quốc lâu nay vẫn chủ trương là giải quyết vụ tranh chấp nầy bằng đường lối song phương. Thế nên, trong thời gian qua TQ đã liên tục bắt giữ các tàu đánh cá cúa VN và ban hành các luật cấm đánh bắt cá ở biển nam Trung Hoa. Nói nôm na là TQ đã nâng cao vị thế của vùng biển nầy tới mức gọi là “lợi ích cốt lõi” Nhưng TQ có biết chăng Mỹ đã có mưu đồ từ 1959 giải cứu Ðức Ðạt Lai, như các chuyến bay gián điệp từ Tây-Tạng dọc biên giới Miến-Điện của Đại-Tá tình báo Harry- Aderholt từ đầu năm 1960 cho đến nay làm một vòng rào cản ở phía Nam và Tây-Nam của Trung-Quốc, bằng cách tiếp tế cho các kháng chiến quân ủng hộ Đức Đạt Lai, và ngày nay đang hâm nóng lại làm Bắc-Kinh đau đầu! Còn phía Đông thì có đồng minh son sắt của Mỹ, nên mới đây, Hoa-Kỳ cần nghĩ đến hướng Bắc của Trung-Quốc qua sự viếng thăm nước Mông-Cỗ lần đầu tiên cũa một vị Tổng-thống Mỹ (Bush Con) Nước Mỹ thường thích chữ “danh chính ngôn thuận” nên đặt cho cái tên cuộc viếng thăm nầy là: “cám-ơn” Mông-Cỗ đã gởi 160 quân qua Iraq chiến đấu bên cạnh quân đội Mỹ. Lẽ dĩ nhiên cuộc viếng thăm của TT Bush làm cho Bắc-Kinh vô cùng khó chịu nếu không muốn nói đến rất hoảng-hốt cho tương lai nước Tàu sẽ bị chia năm xẻ bẩy đúng theo kế hoạch của Nhóm Học Giả Harriman hồi 1950’ “Rồi đây!…sẽ không có nước nào dân số trên 200 triệu dân, ngoại trừ Mỹ!” với chiêu bài “Dân-quyền, Dân-chủ” rộng khắp Thế-giới, bắt nguồn dùng chiến tranh Việt-Nam làm thí điểm mô-hình kiểu mẫu sẽ lan dần ra khắp Thế-giới như vết dầu loang, để cho Thế-giới sẽ chiêm ngưỡng nước Mỹ như một ngọn hải đăng cần thiết trong đêm tối mờ mịt, hàm ý buộc Miến điện và Bắc Hàn nên noi gương Việt Nam để được tồn tại trong thịnh vượng…

Vì Liên-Xô là Đế-quốc Cộng-Sản sừng-sõ nhứt, theo thế chiến lược Eurasian, Hoa-kỳ phải đặt ưu tiên chia nó trước hết, cũng không khác gì khi ăn Trái ‘Sầu-Riêng’ phải tét vỏ là điều khó nhất mà Hoa-kỳ đã làm xong 1991, qua sách-lược “Bênh Kẻ Mạnh” cùng sự ngụy tạo chiến lược là ‘Tháo-Chạy’ tại Việt-Nam. Nhưng thật ra các kỹ nghệ Tư-bản thuộc bộ máy chiến tranh cần nghĩ qua một chu-kỳ khá dài gọi là Inventory, sau khi thu-nhập quá nhiều lợi nhuận; Nếu như muốn thắng cuộc chiến tại VN, Hoa Kỳ cứ rút bình thường (1973) nhưng giao đầu nổ (warhead) cho KQ Miền Nam thả loại Bom CBU.55 và dùng EC.130B bắn đạn 106 ly tầm nhiệt tiêu diệt chiến xa (xe máy nổ) thì không còn con người và chiến cụ nào chạy vào tới Miền Nam; nhưng đó là không được rồi, vì đi ngược lại với thế siêu chiến lược của Harrimam và Nhóm Học Giả của ông George Kennan. Nhưng, ngạc nhiên thay, 1995 khi thiết lập bang giao với Hà-Nội, phái đoàn Mỹ qua Việt Nam tưng bốc vì VN đã giúp họ thành công trên trục lộ đồ chiến lược toàn cầu, hàm ý gọi là “thán phục cuộc chiến đấu ngoan cường, thần thánh của người Việt!” (Ý muốn tôn vinh Cụ HCM là người quốc gia thực tâm muốn thống nhứt đất nước nhưng bị Mỹ (Permanent Government) phản bội vì cần khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi nên buộc phải cách ly trở ngại chính là HCM; Trục ma-quỷ CIA và KGB phối hợp đưa siêu Mafia bằng công-cụ Lê Ðức Thọ, Mai Chí Thọ, và Lê Duẩn, tam đầu chế nầy nắm chặt guồng máy “Mafia-trị” chuyên chế bằng lớp sơn bên ngoài với danh nghĩa Cộng Sản trị: “The Hanoi leadership was like an Asian version of Skull and Bones (U.S) secretive and select. While US Permanent Government was not exactly in the club, she was generally trusted by its members”.

Sau Việt-Nam, hay sau một chu-kỳ nghỉ ngơi kết toán sổ sách (inventory) mà thế-giới cứ nghĩ rằng Hoa-Kỳ đang yếu thế co cụm. Nhóm Tư-bản của bộ máy chiến tranh tìm cách phát triển lại kỹ nghệ chiến tranh qua chủ đề khác‘Siêu Kỹ-thuật’ trong thập niên 80 mươi, hay nói theo kiểu khác, họ cho rằng: “Tại sao phải chạy đua vũ trang?” Chạy đua thì có lúc người nầy qua mặt người kia hay ngược lại. Tập đoàn tài phiệt Đại Tư-bản do Đại-đế-II giấu mặt George H.W Bush trị vì [dù ở ngôi vị Phó tổng thống] đã đồng lòng đầu tư hết vốn liếng vào cuộc thí nghiệm vũ khí siêu kỹ thuật (hi-tech) mục đích bỏ xa Liên-Xô gần vài thập niên. Trên Thế-giới sẽ không còn nghe lải-nhải danh từ “chạy đua vũ trang” nữa, Họ cũng rất sợ sự hung-ác của Cộng-Sản khi nắm vận mệnh thế-giới, vì “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” nên Tư-bản Mỹ đành phải trút hết hầu-bao ra cho mục tiêu phát triển vũ khí tối-tân bỏ xa đối thủ rồi từ từ hốt lại dollar sau đó. Ðồng Ðôla có chạy lẩn quẩn đâu đó cũng trở về hầu bao của đại cồ tư bản Mỹ.

Năm 1983, sau khi phóng thành công phi thuyền con thoi (Space Shuttle) TT Ronald Reagan tuyên bố: “người Cộng-Sản đang giỡ những trang sử kinh-thánh nhựt tụng cuối cùng của họ” nhưng có ai biết đâu nhờ vào tài-ba của người Phó TT (George H W Bush). Lùi lại năm 1968, sau khi dùng chiến tranh khí tượng (weather-weaponry) phá hoại nông nghiệp chuyên trồng mía làm đường và hoa màu của Cuba, để cho một nước Cộng-Sản của Tây Bán Cầu phải nghèo xơ nghèo xác, hầu dằn mặt các nước theo Cộng-Sản. Rồi tới phiên Liên-Xô, một mặt buộc Nga-Cộng phải leo thang thi đua với Hoa-kỳ trong trò chơi chiến tranh NLF nêu trên, càng tăng thêm việc chế tạo những vũ khí về chiến tranh làm người dân Nga đói khổ và dồn bọn Cộng-Sản Nga buộc phải rời bỏ chính quyền. Nhưng chủ tâm trong bụng dạ của Harriman cũng chỉ muốn, Nga là nước siêu cường hạng-2 nhưng phải dưới cơ của Mỹ, và bị ràng buộc cũng như lệ thuộc vào lúa mì của Mỹ và Canada. Còn Trung-Quốc là kẻ thù tiềm tàng, vì địa lý giống Mỹ mà dân số gấp 6 lần, khó áp đảo và rất nguy hiểm cho ngôi vị thống lãnh toàn cầu của Mỹ. Đặc biệt Hoa-kỳ không dám dùng chiến tranh khí tượng đối với Trung-Quốc, ví không ai dại gì lấy cây tâm xỉa răng soi vào ổ Kiến-Lửa.

Trong ba mùa liên tiếp (1968-1970) dùng chiến tranh khí tượng (weather weaponry) Liên-Xô thường xuyên mất mùa, thiếu lương thực trầm trọng và triền miên vào những năm nầy qua năm khác, phải nhập cảng hằng mấy chục triệu tấn lương thực mễ cốc từ Mỹ và Canada; Mùa Đông ở Liên-Xô khởi đầu từ cuối tháng October, trời bắt đầu trở lạnh, nhưng hạt lúa mì vẫn tăng trưởng cho đến khi chín hẳn vào tháng December; Khi mùa Đông đến, tuyết phủ trắng cả cánh đồng và các bông lúa được mặc một lớp áo tuyết xớp không bao giờ lạnh dưới 0 độC; Trong lớp áo tuyết bông lúa vẫn tăng trưởng rồi chín cho kịp mùa gặt vào tháng December, để kịp thời thu hoạch nuôi sống người dân Nga. Nhưng mùa Đông năm 1970, hoàn toàn giá lạnh và không có tuyết; Độ lạnh mau chống sụt xuống dưới -5 độ hay -10 độ âm (độ C) khiến hạt lúa băng giá rồi đông lạnh (frozen) tê liệt chết cống không tăng trưởng. Khi thời tiết vụt thay đổi hay tuyết rơi, hoặc khí hậu ấm hẳn lên thì bông lúa tan đá và úng-thối. Thành thử người nông dân Nga chỉ cần nhìn tuyết rơi, nếu không có tuyết trắng cánh đồng, thì cầm chắc là mất mùa và chịu đói rét. Cũng vào năm ấy 1970, nước Nga thiếu 20 triệu tấn lúa mì và 20 triệu tấn khoai tây và yêu cầu Mỹ và Canada cấp cứu khẩn cấp. Chính nạn thiếu lương thực nầy đã làm cho người Nga tỉnh mộng “Cộng-Sản hóa toàn cầu bằng chiến tranh giải phóng (NLF) quả thật đã thất bại” Cũng cái mốc từ năm 1970 trở đi, người Nga bắt đầu nhìn thấy một thực tế chiến lược khá phũ phàng. Bọn CS Quốc-tế ở các nước chỉ là một lũ ngu dốt bịp-bợm, khoác lác, dối trá, ăn hại và chỉ bám vào sức mạnh chiến tranh của Liên-Xô để hống hách, dọa nạt và xâm lăng toàn Thế-giới.

Muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đổ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationed spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết có nước…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí của Mỹ (hi-tech) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiểu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiểu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẻ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cở quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới (Cuốn “Peace with Russia 1959” và “America and Russia in a Changing world 1971,”nếu đọc giả nào xem bài tóm gọn nầy mà nghĩ “Biết được là chết liền” thì nên mua trên Internet 2 cuốn sách nêu trên và chêm. thêm một cuốn “The Wise-Men” Six friends and the world they made, do đồng 2 tác giả: Walter Isaacson và Evan Thomas phải để trong tủ sắt đợi ngày Harriman xuống 9 tầng hoả ngục mới cho phát hành 1986).

Khi cần phải giải thể chế độ CS, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiễm họa chiến tranh nguyên tử. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng-Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” mà Mỹ cho là siêu Mafia rất nguy hiểm cho sư bình an của thế giới.

Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (Nhóm Đại Tư-Bản) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ (1920-2020).

Theo sự cố vấn bên trong cũa CIA, cuộc hội thảo ở Saigon do Học viện ngoại giao, và Hội luật gia VN đồng tổ chức trong hai ngày, thứ 5 và thứ 6 quy tụ gần 70 học giả đến từ các nước vùng ÐNÁ, TQ, Australia, Canada, Ấn-độ, Nhựt Bản, Nam Triều tiên, Mỹ, và các nước thuộc liên hiệp Âu Châu. Hội thảo lần nầy là sự tiếp nối Hội thão Quốc tế về Biển Ðông lần thứ nhứt tổ chức ở Hà Nội, 2009; Tất cả đều do Mỹ ở đàng sau thúc đít.

Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điểm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triển thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khủng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2,001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược ‘đánh phủ đầu’ và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình (mà thật đúng như vậy, vì ngôi vị hạng-2 đã đến thời điểm (decent interval) phải bị chính Mỹ hạ bệ) Thêm vào đó Trung-Quốc cũng tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình thế-giới; cũng như VN về mặt ngoại giao Hoa Kỳ lờ lững để cho các lãnh tụ VN phải len-lén đi vào ngã sau, thay vì Mỹ có thể làm rào cản 500 thước là lãnh tụ VN có thể vào ngã trước, cho chúng ta thấy rõ một nước VNCH đang lần lần hiện rõ ra trước 2023 để phục hồi danh dự cho VNCH và rửa mặt 58.000 binh sĩ đã hy sinh cho dân quyền dân chũ VN.

Hiện rõ từ ngày Hoa-kỳ thành lập “Bộ Tư-Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (có sĩ quan Việt Nam tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawai) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: là Quốc-gia họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiểm trong nháy mắt có thể hủy diệt thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó để ngăn chận.

Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyển biến chính trị và quân sự bất thần xảy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới; Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam (CSVN) do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế ‘CIP-1960’bằng định kiến-1 (để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vỉnh viễn miển nhiễm Cộng-Sản, như là mủi thuốc tiêm ngừa, Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy còn quá sớm chưa xảy ra (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ phải đợi 10 năm cuối cùng của 1920-2020 là từ 2010-2020) nên cuốn sách “The New Legion” này đã không chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diễn tiến hòa bình từ từ nhưng khá phức tạp của Hoa-Kỳ, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẫn còn đó chưa giải quyết được”. Nhưng sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào 2.023 (1973-2023) lúc nầy đối với Việt Nam phải mang ơn Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VNCH trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chữ ký, nhưng Mỷ chỉ có duy nhứt nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève-54.

Sĩ-quan VN Mới nầy cũng được gởi sang để thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ để sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM hầu thu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa. PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biển miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nửa diện tích địa cầu và kiểm soát hơn nữa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.

Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thể ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố hù-dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nổ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. Có nghĩa chúng ta sẽ dùng mưu chước mà chỉ cần một chiếc lá Tre để che lấp ngọn núi Thái Sơn. “Sau đại chiến thứ 3…chấp nhận hủy diệt hoàn toàn một nước Tàu Cũ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân (1962-1972) và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy qua kinh nghiệm thương trường thay chiến trường.

Nhìn thấy sự lớn mạnh của PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiễn tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiễn nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường- quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản để âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỹ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định táo-bạo có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “chịu hy sinh hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chớp nhoáng sau nầy mà chỉ có cơ chế độc đảng CS mới bí mật chớp nhoáng hành-động, trước khi nhân loại tỉnh giấc bàng hoàng thì chuyện đã rồi.

Trong khi các nghiên cứu gia Mỹ chủ quan cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cỡ lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triển vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhậy của Harrimans và Bushes trên phương diện địa lý chiến lược.

Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày gần tận thế nào đó Trung-Quốc không cần chạm trán với những nước ‘Cò-con’ như chiến lược gia Mỹ ước tính bao quanh TQ mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ mà thôi để rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cúi đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mãn phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-26-2011, 02:25 PM
(Vì bài nầy quá dài phải qua đến 2012, nên tôi vội xen vào vài tin nóng cần thiết phải viết ra)
Biển Đông, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) – 10 năm sau cùng, Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 cũa T.Q?

Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasia-1 Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ-cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma, vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á (US President Barack Obama has hailed India’s rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a “cornerstone” of US engagement in Asia. Obama said ” my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world”).

Ấn độ hạng nhì sẽ làm cho Mỹ yên tâm hơn, vì là một nước đông dân xứ nóng không có nhiều nhân tài đáng sợ và tham vọng như TQ; Nhưng trong ống kính của Siêu chính phủ Mỹ, Nga là nước đàn em tiềm-tàng của Mỹ và luôn biết ơn đại-sứ Mỹ trong Đệ-2 thế chiến, WA Harriman (1891-1986) thực sự là nước số 2, dĩ nhiên sau Mỹ, Harriman đưa ra những dẫn chứng bảo đảm, kể từ bây giờ Nga nên quên đi sự bị xâm lược của Thành Cát Tư Hãn, Pháp, Đức… xâm lược mà hãy cùng Mỹ chung một lý tưởng lấy xác chết màu da Vàng thay chỗ da Trắng bằng sự bảo đảm thương ước “Aid to Russia 1941-1946 Plan” renewed, reactivated, trang 3/7, http://www.answers.com/topic/w-a-harriman vì thế Việt Nam mới có 700 triệu tấn vũ khí tối tân sau Paris Peace Talks để Hà Nội thống nhứt miền nam, Cambodia, và có hệ thống SAM tối tân nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội, ngày nay có tàu ngầm và hoả tiễn để phòng thủ Biển Đảo.

Về phía Nga, các hợp đồng với Việt Nam không chỉ là cơ hội làm ăn mà còn mang ý nghĩa chính trị to lớn, theo sự đoán chắc của người viết, lâu nay Nga nghe lời khuyên của Mỹ đã tìm cách bán vũ khí tới các nước Đông Nam Á cũng như phát triển quan hệ năng lượng với các nước này, lập lại năm tháng Mỹ rút lui khỏi ĐNÁ nhường ảnh hưởng cho Nga sau 1973.

Nga đã cung cấp khí tài cho Indonesia, thương thuyết hợp đồng với Brunei, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Chính quyền quân phiệt ở Miến Điện hồi cuối 2009 đã mua 20 chiến đấu cơ MiG-29 và từ 6 tới 10 trực thăng Mi-35 của Nga. Trong khi các hợp đồng này phản ánh không khí ngày càng lo lắng tại khu vực trước hiện diện của Trung Quốc, chúng cũng mang lại cho Moscow cơ hội vươn lại vị trí siêu cường quốc tế mà Mỹ muốn Nga hồi sức.

Mỹ đang đưa Nga tìm khách hàng thay thế chỗ Trung Quốc, nước vốn mua nhiều vũ khí nhất từ Nga, vì hai lẽ: nạn làm giả và vì Bắc Kinh nay chỉ muốn mua các mặt hàng công nghệ tân kỳ nhất. Các toan tính của Nga trong việc đối trọng lại quyền lực của Trung Quốc chắc chắn không được Bắc Kinh hoan nghênh và có thể ảnh hưởng quan hệ song phương trong cái thế Mỹ như ngư ông đắt lợi, tuy nhiên, chưa thể phóng đại hiện diện của Nga tại khu vực, vì ngoài vũ khí và dầu lửa cùng năng lượng hạt nhân, Nga không có gi để chào mời các nước Đông Nam Á, trong khi quyền lực kinh tế của Trung Quốc thì quá rõ ràng. Chúng ta phải dõi mắt mới rõ Nga có thể ảnh hưởng các quốc gia Đông Nam Á tới đâu, tôi nghỉ chỉ một giai đoạn thời gian (decent interval) nào đó mà thôi, rồi cũng lập lại những diển biến như giữa thế kỷ hai mươi. Một câu ngạn ngữ của Trung Quốc nói rằng: “Nước xa không cứu được lửa gần”. Có nghĩa Trung Quốc dám làm ẩu trên tuyến lửa chạm tráng đầu tiên Việt Nam và Phi Luật Tân? Đối với Việt Nam, các quốc gia Đông Nam Á, và cả Nga, Trung Quốc là một đám lửa gần trong khi quan hệ giữa các nước này với nhau lại vẫn còn lỏng lẻo như nguồn nước ở xa.

Hoa kỳ xúi dục Nhật Bản, Việt Nam ký biên bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh được Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda tiếp đón tại Tokyo, ngày 24/10/2011. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa và người đồng nhiệm Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh đã ký kết một biên bản ghi nhớ nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Theo báo Kyodo, biên bản ghi nhớ được ký kết trong khuôn khổ cuộc hội đàm giữa ông Ichikawa và ông Thanh tại Tokyo của Nhật Bản ngày hôm qua.

Các giới chức Nhật Bản cho hay trong cuộc hội đàm này hai bên đã đề cập đến việc Trung Quốc nhiều lần cản trở các hoạt động hàng hải của các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, và đồng ý về tầm quan trọng của việc thắt chặt quan hệ song phương trong bối cảnh đó.

Cũng tại cuộc hội đàm Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Ichikawa khẳng định Việt Nam là “đối tác chiến lược vì hòa bình và ổn định” của Nhật Bản ở khu vực châu Á. Trong khi Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cũng nhận định rằng Nhật Bản là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam.

Được biết, biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng kêu gọi hai bên thường xuyên thực hiện các cuộc hội đàm cấp thứ trưởng quốc phòng và các chuyến thăm cấp bộ trưởng cũng như các cuộc trao đổi giữa quân đội Việt Nam và Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản.

Theo Kyodo, ông Thanh là bộ trưởng quốc phòng đầu tiên của Việt Nam tới thăm Nhật Bản trong vòng 13 năm qua.

VN nhờ Mỹ giúp cái gọi là mua vũ khí từ Nga để tự vệ khi khẩn cấp, như trường hợp vừa rồi TQ định làm ẩu đem giàn khoan tối tân khoan sâu dưới 3000 thước. TQ muốn hành động như chuyện đã rồi, nếu Mỹ không bấm đít Nguyễn Chí Vịnh bắn đạn thật vào vùng kinh tế của VN; Hợp đồng mua tàu ngầm được ký kết trong chuyến thăm của ông Dũng tới Moscow hồi tháng Mười Hai. Việt Nam đã trở thành khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga trong năm 2009, trang tin DefenseNews đưa tin theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Công nghệ (CAST) ở Moscow. Hà Nội đã đặt mua sáu tàu ngầm chạy cả điện và diesel và 12 máy bay Su-30 trong 12 tháng qua. Hợp đồng mua tàu ngầm ký với Việt Nam là hợp đồng lớn thứ hai về tàu ngầm tại nước Nga hậu Liên Xô. Trước đó, hồi năm 2002, Trung Quốc đã đặt mua tám tàu ngầm loại tương tự của Nga, CAST cho biết.

Hợp đồng ký năm 2009 cũng khiến Việt Nam trở thành một trong năm nước mua vũ khí hàng đầu của Nga bên cạnh Ấn Độ, Algeria, Venezuela và Trung Quốc. Thương vụ trị giá hai tỷ đôla mua tàu ngầm hạng Kilo theo cách gọi của NATO và hạng Varshavyanka Project 636 được thực hiện trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Moscow hôm 15/12. DefenseNews nói truyền thông Nga đưa tin Việt Nam cũng đang chuẩn bị mua thêm 12 máy bay chiến đấu Su-30MK2. Tháng Một năm ngoái Hà Nội cũng đã bỏ ra nửa tỷ đô la để mua 12 máy bay chiến đấu loại này. Nhà phân tích Konstantin Makiyenko của CAST được trích lời nói hợp đồng mua tàu ngầm cũng sẽ kéo theo việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam bao gồm cả căn cứ hải quân, cơ sở bảo trì và sửa chữa, một trung tâm liên lạc và đào tạo cho các chuyên gia Việt Nam.

Hà Nội sẽ phải chi cho phía Nga thêm hai tỷ đôla nữa cho các khoản này, theo DefenseNews.com. Trang tin này cũng nói tàu ngầm hạng Varshavyanka Project 636 được cho là loại ít gây ồn nhất trên thế giới và có thể hoạt động ở độ sâu 300 mét với tốc độ tối đa đạt 20 hải lý mỗi giờ.

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-28-2011, 01:38 PM
Đài BBC và VOA đưa ra Tranh luận về tài liệu CIA rồi khép lại ngay!!!

Một số tiết lộ về cuộc chiến từ tài liệu CIA để thả bong bóng nhìn xem coi phản ứng của quần chúng ra thế nào, sự phỉnh gạt tinh vi về B-29 (1954) cho loại Lính Lê Dương tạp-chủng và B-52 (1975) cho loại Lính Lê Dương Mới có còn hiệu quả về lừa đảo nữa không? Nhưng bây giờ nhờ phương tiện và khoa hoc kỹ thuật phân tích rất nhậy bén, nên một thế lực trong bóng tối (Permanent Government) đành phải khép kín lại như những biến cố gây tội ác lịch sử như hồi Đệ-1 và -2 thế chiến, hay nói cách khác khó phỉnh gạt vào thời buổi siêu vi tính dù rằng dân tộc chậm tiến như Việt Nam. Thế kỷ vừa qua ta đã lừa được chúng chém giết nhau tận tuyệt để tiêu xài món hàng giết người mà chính họ là real good Costumer cần thiết cho đại công ty WIB (War Industries Board).

Tự nhận thấy những bài phân tích bất lợi như hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam, được gọi là giải mật đầu năm nay, đây là sáu tài liệu, tổng cộng 1600 trang, với tôi là người thật, đọc nhiều tài liệu và là phi công gián-diệp tinh báo, nhân chứng sống viết lại có ngọn ngành cho độc giả, tôi đã đọc hai trong số sáu tài liệu đó và cung cấp nhiều chi tiết mới, dĩ nhiên phải chứng minh với liên hệ thực tế nghe thấy rờ rẫm được cho người đọc, phải được đọc giả cả tâm và khẩu đều phục. Ví dụ, qua đây, người ta biết rằng CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm, nhưng với Ngô Đình Luyện 1953-54 qua CIA từ Bảo Đại chọn cụ Diệm làm thủ tuớng. CIA đã giải thoát cụ Diệm từ tay cụ Hồ đem về tạm trú tại tu viện với mục tiêu sau nầy.

Ở tập tài liệu thứ hai về các tướng lĩnh Sài Gòn sau cuộc đảo chính tháng 11, 1963, mục đích CIA muốn gây chia rẽ thù hận, nghi kỵ để dễ sai khiến nhún sâu vào nội bộ trong Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng lãnh đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chánh, CIA cho là điều kiện cần và có cho ý đồ mưu lược. CIA cũng xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chánh và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967) Giai đoạn thực thi “định kiến-3” (axiom-3: The U.S could not have won the war under any circumstances) sau khi kiểm đủ lợi nhuận, America-first.

Mặt khác, một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, tháng 1-1972, áp-lực VNCH thả rất nhiều cán bộ về Hà-nội R&R để nâng tinh thần sau khi hy sinh 100.000 quân cho Mùa Hè Đỏ Lửa) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Sự thật, hai tên nầy cũng chỉ là con múa rối mà thôi (nhưng người Việt chúng ta lại không hiểu gì cả, mà chỉ tấn công 2 nhân vật “con rối” nầy) Tôi đưa ra bằng chứng cụ-thể, tháng 11, 1972 Kissinger tuyên bố “Hoà bình trong tầm tay” “Peace is at hand”. Nhưng tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld ra lệnh cho Kissinger: Phãi thông báo cho Hà nội biết là vi phạm cái gì cũng được theo tài lẹo-lưởi cũa Kissinger đễ oanh tac 11 ngày đêm, biến miền Bắc trở về thời kỳ ‘đồ-đá’, buộc Hà Nội phải vào ký H.Đ hoà-bình Paris, hợp thức hoá việc Mỹ rút quân (axiom-3) nhưng đặc biệt Hà nội không được đầu hàng mà tuyên bố chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, lập lại lộ-đồ chiến thắng Điện Biên Phủ dưới đất 1954.

Kissinger sẽ được đại đế hoàn-vũ dấu mặt (George H.W.Bush) dùng ngân quỹ ngân hàng Thụy-Sĩ bảo trợ cho Kissinger đoạt giải hoà bình Nobel thế giới, Nhưng Kissinger phải khuyên cáo nhắc-nhở Mafia Lê Đức Thọ không được nhận mà phải cưỡng chiếm miền nam để hoàn thành sách-lược định-kiến-1 (axiom-1) Tôi đưa ra sơ khởi hai dẫn chứng dễ thấy: Quý vị đánh giá thế nào về nội dung tài liệu của CIA, so với những gì đã công bố lâu nay? Liệu kho tài liệu còn bí mật từ phía Việt Nam sẽ cung cấp thêm nhiều nội dung khác? Các tài liều nầy đều được bóp méo rất tinh vi theo mục tiêu chiến lược toàn cầu của Permanent Government. Lại thêm một lần nữa tài liệu được gọi là giải mật rất cần thiết để phỉnh gạt quần chúng Việt Nam của Permanent Government; Có ai nghĩ, ở miền Bắc có bao nhiêu tình báo của Liên Xô và TQ trong thời chiến không? Bao nhiêu ngàn cố vấn của LX và TQ ở VN làm cho ai ? Âm thầm gián tiếp làm cho Mỹ.
Mới đây, Nga cho biết đã đưa lính vào VN, bây giờ người nào nghĩ TQ không có tình báo ở trong bộ chính chính trị VN? Thực ra, nếu đúng như bài trên thì tình hình miền Nam mất nước là đương nhiên vì rắn không đầu và bản thân họ không có tài chính trị vì tất cả đều do CIA nhào nặn ra. Còn Mỹ, bản thân họ thấy chẳng có quyền lợi gì ngoài việc lấy vịnh Cam Ranh đối đầu với Liên xô cũ; lợi dụng Việt Nam có chiến tranh họ thử các loại vũ khí của họ mà thôi qua chương trình CIP (Counter Insurgency Plan).

Chuyện sách lược Mỹ này xưa xa lắc, xa lơ rồi, đọc chơi cho vui, cho biết thêm chút thôi; Bây giờ nên nói về chuyện CIA đang làm gì trong Bộ Chính Trị, Trung Ương Đảng. và Tổng Cục II mới là chuyện đáng nói. CIA là cơ quan tình báo thay mặt Skull and Bones hay nói cách khác là công cụ bén nhọn của Permanent Government trong mọi quyết định, thay mặt họ tự do sáng tạo miễn chu toàn mục tiêu là được! Họ qua mặt Tổng thống, Tổng tư lệnh quân lực, họ gây áp lực cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy có người cho rằng CIA là một cơ quan của chính phủ! Không phải vậy đâu? Nhưng sự thật họ là công cụ bén nhọn chỉ đứng sau công cụ “Truyền Thông Văn Hoá” do một thế lực sau hậu trường lúc đó là Harriman và sau nầy gia đình giòng họ Bush, sử dụng quarterback Kìssinger và Linebacker Richard Helms, còn giòng họ Bushes là Coach, ông Bầu. Bộ tam đầu chế nầy ép-buộc, khũng bố chính quyền đương nhiệm phãi chăm sóc quyền lợi của họ, American First).

Sau khi cứu Cụ Diệm khỏi bàn tay Cụ Hồ qua Mỹ, CIA dự trù đưa Cụ Diệm về nước, sự bất ngờ CIA đi đêm với Cụ Nhu trước 1951, còn về mặt nổi là qua sự khuyến dụ của Bảo-Đại bằng Ngô Đình Luyện 1953-54. CIA đứng đằng sau Cụ Ngô Đình Diệm nên buộc Cụ Diệm đã không tuân theo Hiệp Định Geneve để tổng bầu cử toàn quốc sau hai năm vì Cụ cũng biết chắc Hồ Chí Minh sẽ thắng là đương nhiên theo xu thế thời buổi ấy; Điều nầy chỉ đúng một phần thôi, nếu không muốn nói rằng Mỹ cố tâm muốn khuấy động lại chiến tranh để thủ lợi. Đọc trong sách “The New Legion” của Vinh Trương 2010 thì sẽ rỏ thêm chi tiết và hiện tại tới phiên CIA chơi ĐCS Việt Nam qua con nợ Trung Quốc như thế nào, rút từ kinh nghiệm “đâm sau lưng” VNCH qua con nợ Liên Xô trong cuộc chiến vừa qua: Với sách lược phần mềm (smooth approach) chúng ta có thể dễ dàng chứng kiến bốn Ông cựu Đại Sứ Mỹ vừa qua: Ông thứ Nhứt là một cựu Tù-binh, cưới một bà vợ Việt trẻ đẹp và ngày ngày chở vợ đi ăn Phở và Bánh cuốn Thanh Trì hưởng thụ sau bao năm nằm dài nơi khách sạn Hilton, gọi là giai đoạn bàn tay sắt bọc nhung, còn ông thứ Hai và Ba, và Tổng lãnh sự người Mỹ gốc Việt, học biết chút ít tiếng Tàu, làm việc về phản gián tình báo nội tình nước Tàu một thời gian coi cho được, rồi mới qua VN tăng chức làm đại sứ.

Còn sau khi chiếm miền nam, gọi là giai đoạn “phần mềm” CIA bắt đầu dỡ lại tấn tuồng làm rối loạn ĐCS như hồi VNCH trước đó, ngay sau khi hoàn thành những mục tiêu căn bản như đuổi đại sứ Pháp về nước, bứng gốc mầm mống Trung lập hóa miền nam: CIA nhờ người Việt tự phân loại người Việt từ dân chúng ra, ai theo TQ, LX, MTGPMN, VNCH, riêng sĩ quan VNCH ai có nợ máu! Có nghĩa là ai ở tù lâu năm sẽ được ghi danh đi Mỹ ưu tiên theo “niên trưởng ác-ôn có nợ máu” vì thế tại sao Thiếu- úy ở tù 4 năm đi Mỹ, (còn Đại tá ở tù 6 tháng bị ở lại gọi là thích hợp chế độ) theo thứ tự ưu tiên qua Mỹ không phân biệt cấp bực hay chức vụ mà chính xác là thâm niên tù, tiếp nối theo lộ trình ra đi có trật tự ODP diện ưu tiên qua Mỹ. Kế tiếp đến giai đoạn gây xáo trộn chia rẽ nội bộ ĐCS: (Trích một đoạn CIA gây rối loạn VNCH để người anh em phía bên kia biết mà lo tẩu tán tài sản và bớt đi sự bố láo).

Ngay sau khi TT Diệm ổn định tình hình, nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập “ngay sau lưng ông Nhu,” để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một “hăm dọa” của Hoa Kỳ đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính. Vì TT Kennedy vẩn luôn luôn sau lưng TT Diệm, nên qua William Colby (chính quyền) buộc điệp viên Russell Flynn Miller (Skull and Bones) khuyên đại tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Bác-sĩ Trần Kim Tuyến làm việc mật thiết cho CIA nhóm chống Kennedy) người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp! Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm; Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng bị hủy hoại vì sách lược đâm bị thóc, thọc bị gạo của CIA vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà cũng do CIA đưa Cụ Nhu lên cái gọi là thế Cụ Diệm, lấy địa vị chức quyền ra để làm rối loạn nội bô nhà Ngô. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi; Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà ba ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu “cằn nhằn, to tiếng” cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng, thay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định.

Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung. CIA đã thành công chia rẽ nội bộ một gia đình để có kinh nghiệm trong tương lai chia rẽ một đảng CS trong phần hậu chiến.

Bây giờ tới phiên tướng lãnh, ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, theo sự gợi ý của toà đại-sứ, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa; Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn (đã được Lucien Conein mốc nối khi còn là sĩ quan phòng 2 Pháp và 2 người nầy đều sanh đẻ tại Pháp. Cái đặc sắc của CIA là họ sắp xếp một kế hoạch dài hạn và có thời gian điểm mốc được gọi là decent interval, như họ dùng truyền thông văn hoá làm ồn ào kinh sấm ông trạng nầy ông trạng nọ “Khi nào Lúa mọc trên Chì, Voi đi trên giấy, thầy Tăng lại về” Có nghĩa thằng Tây lại về thì thằng Mỹ thế vào thay đồng Xu bằng Chì có nhánh Luá, và giấy bạc con Voi, 100 piastre) nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính tổng thống Diệm đúng ngay tim đen của CIA; Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu từ đó.

Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và các Tướng lãnh: Những hỗ trợ ngầm cho chính phủ Quân sự Việt Nam Cộng Hòa) cũng tương đối “tối mật” so với những tài liệu được CIA công bố trước đây. Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính 1 tháng 11-1963; Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính. Với gia đình Cụ Diệm CIA len lỏi gây xào-xáo, ĐCS Việt Nam CIA len lỏi một cách thần sầu quỷ khốc, còn nước Việt Nam anh em ruột thịt muốn chia rẽ phải có “căm-thù” quyết không đội trời chung đi vào chém giết nhau đến chỗ tận tuyệt trong cảnh nồi da xáo thịt bằng ý thức hệ: “căm thù Cộng Sản” đối lại “câm thù giai cấp” để rồi xảy ra thảm sát Tết Mậu Thân tội bên phía CS, còn phía VNCH, nếu Mỹ giao hàng trăm hàng ngàn ngòi nổ (warhead) BLU-82S, BLU-82AL, hoặc CBU-55 (CBU-55 có thể thả bằng trực thăng Huey) thì cuộc tắm máu xảy ra như thế nào? Lịch sử Việt Nam rồi đây sẽ phán-quyết một thế hệ quá ngu-muội như tôi đã nói phạm thượng trong sách “The New Legion”, mà không ai hay biết gì cả, cho đến giờ nầy vẩn còn ôm mối hận thù ? Các phi công hiếu chiến của tôi ơi, nếu có hàng ngàn ngòi warhead để lại bạn có thể giết 10 triệu người miền bắc, thì soạn giả của vở bi kịch nầy cũng viết vào đoạn kết, đứa bé 10 tuổi miền bắc vừa đủ sức cầm cây AK lên đạn và biểu các chiến sĩ đầy kinh nghiệm chiến trường VNCH phải dơ tay lên … vì cây M-16 đả hết đạn!!!

Vì chúng ta khờ khạo, cuộc chiến VN là một phần của cuộc Chiến Tranh Lạnh do trục Ma Quỷ chủ đạo vì quyền lợi… mà cho đến giờ nầy người Việt vẫn còn hận thù… thật ngu xuẫn hết chỗ biết… dù sao lịch sử vẫn còn đó!

CIA là cơ quan tình báo mọi quyết định của họ không phải họ muốn làm gì thì làm như tài liệu đã nêu! Họ có Tổng thống, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, họ có cả Hạ viện và Thượng viện giám sát, vì vậy cho rằng tài liệu CIA như đã nêu là tào lao. Chính sách Mỹ nắm chắc trong tay của Permanent Government qua 3 định kiến sau đây vào ngày 21/9/1960 thời TT Eisenhower:

1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon
2) The U.S had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs
3) The U.S could not have won the war under any circumstances

Với tôi CIA nói riêng, Hoa kỳ nói chung đã hoàn toàn thắng lợi ở VN bằng một cuộc chiến gọi là thua trận bỏ chạy. Dù có công bố bao nhiêu tài liệu đi nữa họ cũng chỉ để che dấu tội ác đối với nhân loại để chiếm ngôi vị siêu cường với đô-la đầy túi, ăn hay thua đâu có gì quan trọng? Mỹ không bao giờ có bạn bè, không có đồng minh lâu dài, chỉ có đồng minh tạm thời. Và, Mỹ không vì quyền lợi của ai hết, Mỹ chỉ vì quyền lợi của nước Mỹ, khi đồng minh không còn phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì Mỹ sẵn sàng bán đứng đồng minh. Đúng như ông Thiệu nói, đại ý: Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn của Mỹ thì vô cùng khó khăn. Đó là bài học lịch sử vỡ lòng về mối quan hệ với nước Mỹ; Bây giờ tới phiên Mafia Việt Nam; Vì vậy, Việt Nam ngày nay đang có mối quan hệ với Mỹ “đang ngày càng phát triển tốt đẹp” và họ đang run sợ!!!

CÒN TIẾP
vinhtruong
10-30-2011, 02:40 PM
Nguồn gốc, hệ quả cuộc chiến: Trước khi thực thi Màn-2 Eurasian, có nghĩa là một sự “TẾ-THẦN” lấy màu da VÀNG thế vào chỗ da TRẮNG, trước tiên Harriman chỉ định OSS phải tìm cách móc nối cho bằng được Cụ Hồ Chí Minh trước và CIA phải tống khứ cho bằng được Thống chế Tưởng Giới Thạch và phe nhóm qua Ðài-loan [Formosa] trễ lắm 1949 bằng phương tiện hàng không CAT của CIA.

Bắt đầu năm 1950 Harriman muốn lộ diện là Ðại-đế hay là vị thống lãnh siêu chính phủ: Harriman, Kiến-trúc-sư Chiến-tranh-lạnh đang đổi hướng từ Trung-Âu qua Á-Châu, lấy Triều-Tiên làm “hậu trạm” lâu dài, còn Đông-Dương làm “thí điểm” và cả hai đều bị chia đôi đất nước:

Trước tiên Harriman dàn-xếp nội bộ về sự xung đột giữa Bộ trưởng quốc phòng Louis A.Johnson và ngoại giao Dean G Acheson, ông thuyết phục TT Truman cho ông cùng tháp tùng với Trung-tướng Matthew Ridway đi Tokyo tham dự cuộc họp với Tướng Douglas MacArthur, nhiệm vụ của Harriman là thay mặt TT Truman khuyên Tướng Arthur đừng gây chiến với Trung Cộng và lôi kéo Ðài Loan vào trận đánh giải phóng Lục địa. Ông bảo đảm sự đổ bộ tại Inchon [bờ Tây của bán đảo Triều Tiên] sẽ không có sự can thiệp của Liên Xô, vì những năm vừa qua Harriman đã dâng mời viện trợ cho Liên Xô đến hai lần (Aid to Russia Plan).

Bề ngoài Harriman giả-bộ cùng quan điểm với Louis A.Johnson, nhưng sau lưng Harriman đã buộc TT Truman phải giải nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng Johnson và thay bằng con Gà của Harriman là Tướng Bộ binh George.C Marshall, tiếp đến Harriman triệu tập một cuộc họp quan trọng NSC-68, cho quyền lợi của bộ máy phát triển quốc phòng WIB, e-ép TT Truman phải ký bản “mục tiêu và chương trình cho An ninh quốc gia [United States Objectives and Programs for National Security] có nghĩa chi tiêu quân sự tối đa cho sự tân trang vũ khí cho quân đội.

Nhìn thấy sự hiếu chiến của Tướng Mac Arthur, Harriman cùng với hai Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng làm áp lực với TT Truman ra chỉ thị ngăn cản sự hứa hẹn của Tướng Arthur đối với Ðài-Loan đòi giải phóng lục địa, nhân buổi nói chuyện với Hội cựu chiến binh 8/1950 [the veterans of Foreign Wars] Tướng Mac Arthur coi thường lời đã khuyến-cáo của Harriman đừng đụng đến Mao Trạch Ðông, dù rằng lệnh của Bộ trưởng quốc phòng Johnson điều động Ðệ thất hạm đội kè sát cạnh eo biển Ðài loan để Mao bỏ ý định xua quân cưỡng chiếm. Harriman tức điên người khi nghe Tướng Arthur dám tuyên bố vớ-vẩn chính sách quốc gia, nhưng cũng phải trầm tỉnh đợi tới tháng 10 đổ bộ xong Inchon rồi hất ghế Tư lệnh thái bình dương của Arthur sau đó cũng không muộn.

Lúc nầy chúng ta mới thấy quyền lực của thủ lãnh Skull and Bones, Harriman ra mật lệnh cho cố vấn chính trị Charles Murphy lôi cho được TT Truman bay qua đảo Wake mặt đối mặt với Mac Arthur. Harriman ước tính với Murphy, chỉ cần hơn một tiếng đồng hồ giải nghĩa sự lố bịch vì đi quá xa với trách vụ của mình, để cách chức người chỉ huy trực tiếp, Bộ trưởng quốc phòng Louis A Johnson.

Ở tại phòng điều hành Washington Executive Office, Harriman tác giả soạn thảo văn kiện giải nhiệm Tướng Arthur vì lý do công kích chính sách của Vị Tư lệnh tối cao của quân đội Hoa kỳ. Phản ứng phía Mac Arthur gởi công điện về Quốc hội, cho vị lãnh đạo thiểu số Ðảng Cộng-hòa, Joseph Martin ngày 5/4/1951, nhưng làm sao Tướng Arthur biết được người nắm Quốc hội lúc nầy là viên phụ-tá Skull and Bones, Prescott Bush, hậu quả khiến TT Truman phải triệu tập một cuộc hợp với sự tham dự có ngoại giao: Acheson, quốc phòng: Marshall và tổng tham mưu trưởng Tướng Omar Bradley. Tại đây, Harriman đệ nghị phải giải nhiệm Tướng Mac Arthur liền tức khắc, TT Truman rất bất ngờ, do-dự sau khi tham khảo nhưng rốt cuộc phải nghe theo lời đề nghị của người thật sự nắm chính sách Mỹ, Harriman.

Bộ trưởng quốc phòng Johnson và Tướng Arthur hiểu lầm ý định của Harriman đem hạm đội 7 vào eo biển không nghĩa là tấn công vào lục địa, cũng như tại Việt Nam, khi liên quân Việt Mỹ tấn công Cục R bên Cambodia và tấn công qua Lào có nghĩa là rút lui chiến lược về Honolulu bỏ ÐNÁ và biển Ðông giao Hoàng Sa cho TQ … Làm sao ai biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?… Hoa kỳ giúp Trung Quốc vào LHQ để không còn dùng luật rừng, với thế kỷ 21 nhân loại quá chán ghét cảnh chiến tranh, không quốc gia nào muốn xác người nằm tràn ngập nơi chiến địa, Hoa Kỳ làm ăn theo kiểu khác bằng chêm đệm phù trợ một số lãnh tụ độc tài trên thế giới vơ vét của cải của người dân đến giàu sụ, sau một thời gian Hoa Kỳ ra tay nghĩa hiệp “thế thiên hành đạo” lật đổ lấy lại tài sản trả cho người dân nghèo nàn rất cần nhu yếu phẩm của Mỹ sắp hết hạn …

Đúng 50 năm sau, ngày kỷ niệm chiến tranh Triều-Tiên năm (1953-2003) với huy-hiệu như trên, (hình giải mật trang 41, Volume-1) dù rằng phù-thủy Harriman đã nằm sâu dưới hỏa-ngục, nhưng Nhóm học-giả dân-sự do chính Harriman sáng lập, nuôi dưỡng, và chăm sóc bù đắp thêm nhân tài trẻ cho thế hệ kế tiếp, đã in hình ông trong ngày kỷ niệm mừng 50 năm: “như là Cố-vấn đối ngoại toàn quyền của T.T Truman và thúc-giục hay áp-lực TT Truman ký giấy giải nhiệm chức Tư-lệnh chiến-trường của Tướng Mc Arthur với tội trạng “không được quyền phát ngôn về chính sách quốc-gia” (Unauthorized Policy Statement) W.A.Harriman là Ðại-đế giấu mặt mà cũng chính là người lãnh đạo chính sách (policymaker) nước Mỹ từ Thế-chiến-1, rồi 2 cho tới 1960 (1917-1960).

Còn chiến tranh Việt-Nam thì sao!? (Theo tính nhậy cảm của người viết) Năm 2023 Hoa-kỳ lại kỷ niêm 50 năm chiến tranh Việt-Nam (1973-2023) y-chang như Triều-Tiên ở trên, họ lại để hình TT Nixon bắt tay Mao-Trạch-Đông Febuary, 1972 chứng minh chấm dứt 20 năm thù địch với Trung-Quốc để biến nước nầy lần lần chấp hành một trật tự chung sống phồn vinh theo lối sống Mỹ. Lúc nầy hàng hoá Trung-Quốc rẻ mạt khắp nước Mỹ và thế giới giống y chang như hàng hoá Nhựt sau thế chiến II. Đây là điều đáng mừng hay đáng buồn cho TQ?

Thật mừng cho nhân loại, khi hơn một tỷ người của thế hệ hậu sanh khả quý đã vui lòng chấp nhận là công-nhân “hạng-bét”với giá lương rẻ mạt cho một hãng xưởng độc-nhất trên Thế giới mà người chủ của hãng xưởng duy nhất nầy là “ai bỏ vốn nhiều nhứt vào cổ phần thì người đó làm Chủ,” qua tư-tưởng của Harriman, về thế chiến lược toàn cầu “Eurasian.” Còn trên đất nước Việt-Nam, đường Trường-Sơn Tây là xa lộ Liên-Bang Đông-Dương là huyết mạch cho nền kinh-tế của các nước vùng Đông-Nam-Á, mà đã có một thời người khai phá nó bằng đường bộ phải thường xuyên nghe tiếng dội Bom “tiếng sấm rền” (rolling thunder) phá núi đá với 6 triệu tấn Bom trên 14 tấn cho toàn cõi Đông Dương và Phi-cơ C.123 phun thuốc vẽ đường (tracking) bằng chiến dịch “Hot-Tip” làm vàng lá. Người đặt chân trên mặt đất mới thật sự là Thiên-Thần của sự phóng đường tiện gọn và hữu-hiệu nhất, để tránh khỏi thế đất gồ-ghề, nhiều con suối băng ngang, phải tốn kém để bắt quá nhiều cầu cống hoặc núi non hiểm trở, trong khi người dẫm chân lên mặt đất chỉ cần tìm ra sự xê-chệch qua trái hay phải vài độ dạt. Trục ma quỷ sẽ đặt Thủ đô là Đà Nẳng làm trụ gốc của chiếc quạt cho nền kinh tế mà các thành phố Saigon, Nam Vang, Vientian, và Hà Nội của nước Liên Bang Đông Dương được thế giới ngưỡng mộ, trên gốc độ giao thương tương đối khoảng cách bao vùng bằng nhau?

Sau đó Harriman trong mục tiêu siêu chiến-lược “Eurasian” của nhóm ‘Wise-men’ (6 người nắm vận mệnh thế giới) Duy chiến tranh Việt-Nam, có điều đặc biệt là Hoa-Kỳ sẽ không ký vào hiệp định Genève 1954 để dễ bề thi hành kế hoạch CIP; Nhóm tham-mưu Dân-sự George Kennan của Harriman muốn trả lại khát-vọng cho Cụ Hồ, như trong tuyên ngôn Độc-lập dân quyền tha-thiết của Cụ, nhưng phải để cho họ khai thác lợi nhuận trước đã. [“What you get, what you pay!”] Nước Mỹ giành được độc-lập cũng phải trải qua biết bao cuộc nội chiến thê-lương; Thôi thì “Bánh ít đi bánh quy lại” cho nó công bằng, và SCP sẽ vận động ghi danh Cụ Hồ trong danh sách “Danh-nhân thế-giới,” với tên của một Chiến-dịch, rồi một Thành phố, cùng tên một con đường Mòn đi vào huyền thoại lịch sử VN, phải chăng dầu hỏa dưới biển Ðông sẽ đem lại đại thảm họa cho VN?

Đúng 60 năm sau, trong bóng tối cuối đường hầm lại lú ra: (1945-2005) cũng tại trung tâm văn hóa Ba-lê, tuần báo Paris Match ra ngày 25/4/2005 có đăng bài phỏng vấn Thượng Nghị-sĩ, cựu tù binh bị hành hạ tàn nhẫn nhứt trong cơ-mưu “khổ-nhục-kế,” John Mc.Cain, một con gà Nòi của Siêu-chính-phủ, như muốn chuộc lại sự lỗi lầm của họ đã lường gạt, phản bội cụ Hồ từ 1945 cho đến nay: “Người dân Miền Nam Việt Nam trước đây chưa hề bao giờ cho rằng chính phủ Saigòn là hợp pháp. Họ hiểu rằng Hồ Chí Minh chính là người Quốc-gia muốn thống nhứt đất nước” (một lần nữa để làm rõ nghĩa “định-kiến-1 qua cuộc họp HÐAN 21/9/1960 và xác định Cụ Hồ không phải là Cộng sản và trước đó Cựu Bộ trưởng quốc phòng, Donald Rumsfeld củng là thủ phạm Tháng Tư Ðen-1975 tuyên bố: Miền Nam bù-nhìn, Miền Bắc yêu nước, dựa vào đâu? dựa vào hơn nửa triệu Lính Mỹ vào Miền Nam mà không có ai mời là xâm lược chớ gì?).

Nhưng bánh quy nầy là một thảm kịch dài và dai-dẳng nhất cho dân-tộc Việt-Nam qua hai cuộc phỉnh gạt tinh-vi: Hứa với Pháp, Mỹ sẽ dùng B.29 để tiêu diệt Việt Minh khi họ bu lại tụ điểm Điện-Biên-Phủ như Kiến bu quanh cục đường. Còn VNCH, Mỹ cũng hứa dùng B.52 tiêu diệt, nếu Hà-Nội vi-phạm hiệp định Hòa-bình Paris; Nhưng cả hai đều là một sự lừa gạt lắc-léo đầy trơ-trẻn cho quyền lợi của đảng Công-ty, mà Nhóm tham mưu George Kennan cho rằng: “Pháp là loại lính “Lê Dương tạp chủng” vì nhận 80% vũ khí Mỹ, và miền Nam là lính “Lê Dương Mới” vì nhậm 100% quân viện Mỹ? Vì mục tiêu là công cụ cho America-First.

Nhưng mục tiêu chính cho cái thế “bênh kẻ mạnh” là một môn võ thuật kỳ diệu, dùng sức mạnh tối đa của địch, huyền biến thành sức mạnh quyết định của mình, để đo-ván địch thủ thể hiện qua “bỏ phiếu bằng chân” Hoa-kỳ sẽ tạo ảnh hưởng tạm thời cho “con nợ” Liên Xô tại Đông-Dương là phải sản xuất vũ khí theo sự yêu cầu của “chủ nợ” [đảng Công-ty Mỹ: WIB] dựa vào sau đó, mà dân Việt hai miền là khách hàng tiêu dùng những thứ quỷ nầy. Đây mới thật là một Siêu chiến lược của người Thủ-lãnh Đảng Sọ xương người [Skull and Bones] vượt qua cả Karl Marx và Lênin để nắm gọn sự tự-nguyện (không có ép buộc) của “Giai-cấp Công-nhân” vào một thế giới an-bình và thịnh vượng chung.

Trong Thế chiến-1, W.A.Harriman đã có tham vọng đầu-tư để nắm vửng những lợi nhuận tại hai nước chủ yếu là Ðức quốc xã và Liên Xô vào năm 1920, dòng-tộc Brown-Brothers Harriman lấy Ðại-học Yale làm lò luyện thép, tôi-luyện ra những Skull and Bones. Cũng tại đại-học Yale nầy, mùa Thu, 1913, Prescott- Bush [ông nội của TT George W Bush-43] Theo bước cha-ông ghi danh vào Yale và hai vị Tổng thống Hoa-Kỳ sau nầy cũng noi theo cha ông cùng tốt nghiệp tại Yale. Sự kiện chứng minh những Skull and Bones tốt nghiệp từ Yale đã nắm chặt chính sách Hoa kỳ cho đến ngưới cuối cùng của Yale-Skull là George-W Bush- 2008 – Nói tóm lại, hơn nửa thế kỷ nay, Hoa-kỳ đang trị-vì bởi cái nhóm Yale-Skull như một “Chính phủ vĩnh-cửu” Ðảng Hội Ðầu Lâu nầy chủ trương “đi với Bụt mặc Cà-sa đi với Ma phải mặc áo giấy” dưới ảnh hưởng tuyệt đối của 2 Triều-đại: W.A.Harriman, Dân-chủ và George H.W.Bush, Cộng-hòa.

Hơn ai hết, Harriman hình dung được thế chiến lược Eurasian sẽ đem lại thảm hoạ kinh hoàng cho nhân dân hai nước Việt Nam và Iraq nên ông chỉ lộ-diện vào Thế chiến-2 và chiến tranh Triều Tiên, lý do dễ hiểu vì tại Ðức, Hoa kỳ sẽ để lại 300.000 còn Triều Tiên là 50.000 quân làm tiền trạm. Còn qua Màn-2, giai-đoạn-2 ở Á-châu là Ðông Dương, Harriman núp kín đáo ở ngôi vị thứ-3 của Bộ ngoại giao để không ai biết đến kẻ thủ phạm đem lại một cuộc chiến thắng trầm-lặng (quiet-victory) cho “Hội-đồng Kỷ-nghệ Chiến-tranh”. [War-Industries-Board] Những thảm hại cho quân đội Mỹ qua lá bài “Khổ-nhục-kế”, vài tờ thời báo của thập niên đó đã nhắc tới nhiều lần: “Nước Mỹ từ 1917 đến 1960 xuất hiện một Nhóm 6 Nhà thông-thái [The Wise Men: (1)-W.A.Harriman, (2)- E.R.Harriman, (3)- R.A.Lovett, (4)- James Forrestal, (5)- Artemus Gates, (6)- Prescott Bush] nắm vận mệnh thế giới. Còn hai nhà văn nổi tiếng, Walter Isaacson và Evan Thomas thì cho rằng Nhóm 6 nhà thông thái nầy đã đi săn-lùng tài nguyên từ thượng nguồn Sông Rhine đến hạ nguốn Sông Danube để rồi đưa ra mưu đồ chiến lược “Eurasian Great Game”1920-2020, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có Mỏ manganese và dầu hoả. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng-sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn Tư bản gây ra nhiều tội ác bốc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng Bọn Bolshevik vẩn cần dollar và kỹ thuật Tây-âu để sống còn. Ðặt văn phòng ở Bá-Linh, Harriman dám cùng chung với công-ty Ðức và chính quyền Liên Xô tạo nên một công ty hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ.

Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể; Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà Liên Xô không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường “tình-báo” Ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tín-dụng $1 triệu dollar đặt cọc [deposit] và điều động J.Speed Elliot, Phó Giám đốc Harriman and Company qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolsheviks do Trùm mật-vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký, Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn dặm của Mỹ? Công việc làm ăn với kẻ thù như thế nầy đã bị các nhà lãnh đạo Tây-âu cho rằng: “giúp cho Hùm thêm mống-vuốc!” Thủ tướng Anh MP Winston Churchill cho rằng: những việc làm-ăn thiếu khôn ngoan cũng như đạo đức. Nhưng Bọn Tài phiệt nầy đếch cần!

Vùng nước Cộng-hòa Georgia nằm trên Hắc-Hải, với khối lượng khổng lồ quặng-mỏ Kền để làm vũ khí, chỉ cách Iraq 400 miles, oặn dầu-thô ở Baku cũng khoảng cách không xa lắm. Nhà chiến lược gia kiệt xuất W.A.Harriman bèn nghĩ ra diệu-kế “Eurasian-Great-Game” ngay vào lúc nầy, mãi đến 1959, Ó-Mỹ chọn VN để lót ổ. CIA đã khuyến dụ được KGB để dự trò chơi chiến tranh tại Ðông Dương giữa hai đấu-pháp “Chiến tranh Giải phóng” và “Chiến tranh chống nổi dậy” [gọi theo tiếng Anh là: National Liberation Front (NLF) và Counter Insurgency Plan (CIP)] cũng vào năm nầy, Chiến lược gia Harriman cho ra đời tác phẩm “hoà bình với Liên-Xô” [Peace with Russia-1959]. Ðoạn kết của thế “bênh kẻ mạnh” buộc Hoa-kỳ bỏ vùng biển South China Sea, di tản chiến-lược về Honolulu, qua cuộc giao banh đầu tiên ngoạn mục của Quốc hội Mỹ năm1970, để giăng một cái bẫy cho tham vọng của Trung Quốc vướng-mắc vào vùng có trữ lượng dầu hỏa từ đảo Ðiếu Ngư [Nhựt: Sang-Ka-Xu, Tàu: Diaoyo] xuống Hoàng-Sa, và Trường-Sa.

CÒN TIẾP
vinhtruong
11-03-2011, 12:48 AM
– Là chiến sĩ, chúng ta cho rằng mục tiêu cuộc hành quân Lam Sơn 719 là tiêu hủy kho vũ khí của CSBV trên đường mòn HCM?

– Cuộc hành quân nầy, chúng ta là kẻ chiến thắng?

* Tất cả hai câu trên đều sai bét như tôi sẽ lý giải dưới đây:

…. Nhưng rất tiết nhiều chiếc hình giải mật không được in ra từ hai cuốn sách “The New Legion”, nhứt là chiếc hình đoàn xe thồ (hình phóng viên Đông-Âu chụp) chuyển vận tiếp liệu trên đường mòn HCM, mỗi chiếc thồ hơn 200 kilô tiếp liệu (trang 95, Volume-1 “The New Legion”: Cast your eyes on this picture: If you have a good eye, you can see the words “handle with care”. CIA memorandum, 9/6/1967, Soviet wanted to control the transshipment of Soviet goods from USSR and through China to North Vietnam. However, the Chinese objected and stated that they would assume control at the USSR border. At this point the North Vietnamese officials intervened and said that: “If the USSR and China were going to disagree over this, then North Vietnamese would not continue the war” That made Permanent Government get into a panic ).

Ngay sau khi Lê Đức Thọ nhỏng-nhẻo đòi nghỉ chơi không chịu đánh đấm nữa. (Vì 1967 biến cố xung đột quyết liệt giữa TC/LX) TC đòi kiểm soát những chuyến xe lửa băng qua biên giới đến VN mà LX không chịu, sợ TC “cọp-dê” kỹ thuật quân sự. Permanent Government hết hồn hết-vía vì muốn nuôi dưỡng chiến tranh nên phải dùng C-130 không số, (sơn toàn thân tàu một màu xám-tro lam xậm) thả tiếp liệu quân dụng xuống đường mòn HCM, nhưng kẹt nỗi vì quá vội, trên các thùng gỗ quên bôi chữ “HANDLE WITH CARE” không biết phần đông lính BV nhà quê có hiểu không? Nhứt là các chai thuốc như huyết thanh serum … sợ bị bể.

Trong lăng kính phi công gián điệp, tại sao tôi chỉ nhấn mạnh chiếc hình đoàn xe thồ nầy từ chiến trường qua chính trường?

(1) Để bênh vực lập luận “Trận chiến Lam Sơn 719” là hai bên đều thảm bại nhục nhã nhứt trong lịch sử dân tộc, và nên bỏ đi cái thói cao-ngạo quân ta là kẻ chiến thắng qua quá nhiều chứng liệu hình ảnh chết chóc đau thương cho dân tộc (chứng liệu trên youtube).
(2) Cuộc hành quân nầy quá muộn màng, đáng lẽ phải xảy ra hồi chính quyền Kennedy hay trễ lắm là chính quyền Johnson, như trường hợp tướng Westmoreland nổi hùng khí ra quốc hội đòi đem quân Mỹ hành quân chốt chận trên đường mòn HCM thì bị triệu hồi về Mỹ tức khắc, không khác gì tướng Mc Arthur khi ra quốc hội đòi giải phóng lục địa.

Tại sao phải trễ, ai nắm chính sách ? Đây là vở bi-kịch tuồng cải-lương mà soạn giả Harriman viết đoạn kết cho phe miền Bắc thắng chỉ đơn giản là thế, và chỉ có thế thôi, nên đạo-diễn Donald Rumsfeld nhắc tuồng nói toạc móng heo ra là “Miền Nam bù nhìn, Miền Bắc yêu nước” làm quê cơ miền nam qua sự thật quá phũ phàng, phải không các chiến hữu?

(3) Để người Việt hải ngoại nhìn thấy tài liệu mật trong hai cuốn sách nầy mà hãy quên đi “Chiêu-bài chống cộng”. Nó là “viên-thuốc” tố-cộng mà Harriman đã cho người miền nam uống từ cuốn phim “Chúng tôi muốn sống 1954” nhưng đến giờ nầy nó đả lỗi thời rồi mà trong sách “The New Legion” tôi cho nó là thuốc đã đến thời kỳ hết hiệu-nghiệm “expired” (The old political label “Anti Communist” was already expired in forgetful and nobody buy it).

Nói về hoàn cảnh đau thương thì có lẽ TNS Mc Cain và tôi chịu quá nhiều kinh nghiệm bầm dập với CS. Nhưng đứng trên gốc cạnh phải nói sự thật theo lương tâm và danh dự của mình, tôi và Cain phải thẳng thừng nói rằng: cụ Hồ là người quốc gia, để trả lại tính trung thực cho lịch sử Việt Nam [The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent [ Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…” Nhửng điều nầy đã có đáp số định kiến-1 [Axiom-1: There was never a legitimate non-communist government in Saigon].

Trên diễn đàn nầy sẵn dịp, nếu có thì giờ nghiên cứu trong 2 cuốn sách nầy không có hình ảnh giải mật mà chỉ có một chiếc hình rẻ tiền được phô bày là bản đồ đi vượt biên nhỏ bằng chiếc Tem thư, và cái địa bàn như đồ chơi trẻ con thì bạn cũng nhận ra ngay nỗi kinh hoàng như thế nào khi phải chấp nhận căn cước tỵ nạn? (Hình Chapter-3, trang 249 đến 272; còn như anh muốn đọc tiếng Việt thì nơi diễn đàn hoiquanphidung, Mục 30/4, tựa “Chuyến tàu đầu tiên chở Bò Ngũ ra bắc”, từ bài số 20 đến hết … sẽ biết tại sao tôi phải dành hết thì giờ nhàn rỗi mài đũng quần 20 năm nơi thư viện để nghiên cứu tại sao có ngày 30/4/75 mới hiểu ra soạn giả, và đạo diễn tấn bi thảm kịch nầy đã đưa ra đoạn kết là sau khi kiếm đủ lợi nhuận (America First) VN sẽ được độc lập thống nhứt sau 30 năm (1945-1975), đúng y chang âm-mưu Mỹ không chịu ký chia đôi VN Genève 1954, trong khi các nước khác đều muốn… sự thật quá oan-nghiệt cho dân tộc Việt.

Viết lách trên một diễn đàn dành riêng cho những người tỵ nạn là sống trên môi trường rất nhạy cảm, tuy nhiên cảm nhận để đối phó với vấn đề nầy là một sự quyết định tùy theo cảm quan và chấp nhận những thử thách cũng chỉ là vì muốn trả lại sự thật cho lịch sử. Là một người viết nhưng KHÔNG MUỐN LÁCH mà chỉ dựa trên đạo đức dân tộc, tuổi đời đã trên 7 bó rồi mà còn viết là 1 điều hiếm có vì cần lưu lại cho Quân-Sử, sao lại khó khăn với nhau? Tôi quan niệm sự thật thời-đại là điều tiên quyết do đó đã quyết định chọn cái mũ tác-giả thay vì mũ tố-cộng, sức mạnh của ngòi viết ở Mỹ là sức mạnh được tu chánh án số 1 của Hoa Kỳ bảo vệ đệ 4 quyền là quyến bất khả xâm phạm, miễn sao người viết đừng lợi dụng quyền đặc miễn để sử dụng chúng như một vũ khí tấn công hoặc phỉ báng mạ lị bất cứ một ai.

Phải nhìn nhận sự thật, đây là cơn uất nhưng nếu chúng ta không chịu chấp nhận và lỡ đã binh con bài “mậu thầu mậu dỉ cù lủ” thì cứ tiếp tục binh con bài nầy, cũng chả chết ai … nhưng đường binh nầy là con đường mòn không lối thoát, vì người soạn giả vở bi-kịch nầy cũng đã cho kết quả trong lăng kính với đáp số rõ rệt: “Cứt Trâu để lâu hoá bùn” … Và trái đất vẩn phải quay! Sự thật ai bỏ độc dược thì chỉ người đó có thuốc giải? Ai không biết thì làm cách nào cứu được đây?

Như bài Hành Quân Lam Sơn 719, đọc giả có thừa thãi những hình ảnh chứng liệu để nói lên sự tự mãn càn-bướng của quân đội hai miền nam bắc, tự cho mình là kẻ chiến thắng; nhưng thật ra đây mới là một sự thảm-bại nhục-nhã cho cả hai phía trong lịch sử dân tộc Việt Nam vào thời cận đại vì đã dùng súng người để chém giết đồng chủng.

Riêng về phía quân lực VNCH thì từ người lính đến tướng đều cho rằng cuộc hành quân nầy là “phá hủy kho vũ khí tại đường mòn HCM” nhưng dưới con mắt của phi công gián điệp tình báo thì hoàn toàn sai bét? Hay nói cách khác cuộc hành quân nầy xảy ra đã quá muộn màng!

Thời chính quyền Kennedy thì đã có chiến dịch bí-mật thả Biệt Kích ra ngoài bắc nhắm vào trọng điểm từ Đèo Mụ-Giạ đến ba biên giới, các toán phá hoại nầy đã bắt cóc, phá hủy cầu cống, công sự nhà máy, đặt Mìn … do Trưởng CIA tài ba từ Đệ-II thế chiến William E Colby điều hành, nhưng lại bị điệp-viên phản tình báo ám số 19 Lucius Conein (bắc) Russel Flynn Miller (nam) cho Trinh-Sát Hà Nội biết các toạ độ để chụp bắt làm điệp viên hàng đôi (double cross) và phá hoại chiếc C-47 Cò Trắng của Trung úy Phan Thanh Vân, và chiếc trực thăng H-19 của Trung úy Bùi Quang Các đi thăm viếng các tiền đồn dọc theo hành lang xa lộ Harriman (Đường mòn HCM) vì vi-phạm vùng cấm bay đang khai phá đường mòn HCM cho định kiến-1 (axiom-1’ solution).

Ngay sau khi siêu chính phủ (Permanent Government) triệt hạ được TT Kennedy, thì nhiệm vụ của các toán Biệt Kích nầy trở về cương vị nhàn rỗi là chỉ lấy tin-tức vui chơi thôi, điệp viên 19 bèn đặt cái tên để đời là Toán Easy để đánh dấu “nhàn-rỗi” và cuốn chiếu về nam kết thúc cuối 1968 sẽ không còn Biệt- Hải kích nào ở ngoài vĩ tuyến 17. Chiến hữu nào còn kẹt lại thì rán chịu cảnh đem con bỏ chợ.

Thời đệ 1 Cộng Hoà, Siêu chính phủ (Harriman, Bushes) ra lệnh hành pháp Kennedy phải áp lực chính quyền miền nam bỏ quận Hương-Hoá để cho quân BV khai mở xa lộ Harriman, mà phía Tây-Âu đặt cho cái tên Đường mòn HCM với mục tiêu chính trị vinh danh hậu thế để trả nghĩa sự phản bội của Mỹ; còn triều đại Mafia Lê Đức Thọ thì đặt cho cái tên Đường 559, ám chỉ năm 1959 lật đổ cách ly cụ Hồ, Thọ đưa Lê Duẩn về làm Quyền TBT, còn như Cách Mạng VN đặt cho cái tên Đường Trường Sơn.

Chính quyền Đệ-1 VNCH, qua cụ cố vấn Ngô Đình Nhu thì có một tầm nhìn xa hơn, Khe Sanh (Tchepone) chưa phải là trọng điểm để hủy diệt đường xâm nhập của BV mà Darto-BanHet (Attopeu) mới thật sự là yết hầu của quân BV, Cụ cố-vấn, biết được ý đồ đó của Harriman về trung lập hoá Lào, nhung vì cần viên trợ để chống đỡ, nên cụ Ngô Ðình Nhu âm thầm với mưu lược chốt chận ngay yết hầu của Ðường-559 bằng điều-động Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ tam Quân khu sẽ mở cuộc hành quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với Thiếu tá Dư Quốc Ðống Chiến đoàn trưởng CÐ Dù, Ðại úy Lý Tòng Bá Thiết đoàn trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc SÐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto tiến qua Attopeu, Lào.

Sự việc nầy bị ngay tay phản-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng Cục Tình Báo tại phủ tổng thống tiết-lộ cho CIA của nhóm Russell Flynn Miller (nam) và Lucien Conein (bắc) biết ráo trọi. Ðại tá Lansdale là ân-nhân của TT Diệm đã đề nghị (theo lệnh thượng cấp), Ðại tá Carver là cố vấn TUTB phủ tổng thống, nhưng mà ‘Giòi’ trong ấy ngoi ra làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ, Ðinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai nhân vật chủ chốt cuộc chiến Việt Nam (Harriman và Prescott Bush) đang đặt ống kính phải hủy-diệt hai hòn đá tảng (Kennedy và Diệm) cản đường CIP nầy bằng mọi giá như phải lấy máu giải quyết.

Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn việc làm của CIA tại Việt-Nam phải cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được đường thâm nhập của Bắc-Việt vào Miền-Nam, tăng cưòng nhịp độ đột phá và gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ (NSC) đã có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và Hải-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc: Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp nhưng khổ nỗi tổng thống Mỹ chỉ là một người tổng quản lý nước Mỹ mà ông Chủ là một thế lực sau hậu trường (Permanent Government), mà người sáng lập ra nó từ 1920 cho đến nay là W A Harriman 1920-1960, và từ 1960-1969 là thời gian chuyển tiếp cho George H W Bush, nói cách khác là Bush-Cha học nghề cho đến cuối nhiệm kỳ thứ nhứt của TT Johnson và quan trọng nhứt trước khi rời khỏi chính trường Harriman cần nhắn nhủ lời vàng thước ngọc cho Triều-đại Mafia Lê Đức Thọ tại các cuộc họp mật Paris Peace Talks chỉ có riêng Thọ/Harriman mà thôi. Vì thế khi Kissinger có nhắn nhủ với Thọ: “Khi chiếm miền nam nhớ nhẹ tay với người bạn thân của tôi trong phái đoàn VNCH là Nguyễn Xuân Phong” nhưng Thọ vẩn bắt nhốt như thường, tuy nhiên Phong được thả sớm nhứt là 5 năm sau vừa đủ điều kiện đi diện H.O; duy chỉ có Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì không được đụng đến vì ông có trong danh sách USIS. Vài năm sau ông Bác sĩ Quế bị bắt vì ông muốn hành động như Bác si Mandela ở Phi châu thì phải bị bắt nhốt thôi.

Để kết luận phần nầy: Quân đội của hai bên đều thảm bại vì mục tiêu chính là không tắm máu và bàn giao Saigon cho Hà Nội không thành đống gạch vụn. Những thành phần chủ lực chiến đấu xuất sắc phải bị tiêu diệt trước như: sư đoàn Dù/sư đoàn 2 Sao Vàng – sư đoàn TQLC/sư đoàn Thép 320 – sư đoàn 1 BB/sư doàn 324 – BĐQ/304, 308 …

-Mục tiêu kinh tế: những vũ khí lỗi thời phải được tiêu dùng, như trực thăng, chiến xa, đại pháo, xe vận tải …để thí nghiệm sản xuất loại mới cho chiến trường Trung Đông.

-Mục tiêu chiến lược: tu chính án “Cooper-Church” 1970 chuẩn bị Eagle pull về Hawai, vào thời điểm “Case-Church” 1973, giăng bẫy đồng thời nâng Trung Quốc lên hạng Nhì tạm thời thế Liên Xô (1970-2020).

-Mục tiêu chính trị: Việt Nam Hoá Chiến Tranh để Mỹ rút quân, hoàn thành định kiến 3 (axiom-3) bỏ lại chiến cụ ra đi nhẹ re, thời gian sau thành đống sắt vụn vì thiếu cơ phận, theo cung cách làm ăn của War Industries Board, không bao giờ đem thứ quỷ nầy về Mỹ.

-Mục tiêu chiến thuật: Tất cả tiếp liệu quân dụng đều được di tản đầy ngập trên hành lang Đường 559 do nhị-trùng đại-tá BV Bùi Tín báo cáo cho phóng-viên trá hình Phạm Xuân Ẩn, sau cùng Richard Helms cho tướng Haig biết để khai diển cuộc hành quân ngày 18/Jan/1971 bằng sự quyết định của TT Richard Nixon và HĐANQG (NSC) [ Hình giải mật, trang đầu “The New Legion” Volume-II ].

-Mục tiêu tuyên truyền: Vì Mỹ thua trận, thế giới không bươi móc cuộc chiến “bẩn-thỉu” qua sách lược “Bỏ phiếu bằng chân” như 1954 thì làm rùm beng vì không ai chết với 1 triệu người tỵ nạn … sau tháng tư Đen thì… để người Việt tự hiểu… vì thế “Chiêu bài chống cộng thật sự đã lỗi thời rồi” nhưng đôi khi CIA lại đốc thúc người Việt hải ngoại hung hăng tấn kích là để làm một công cụ cho tư bản Mỹ gây áp lực với phía VN vì quyền lợi thương mãi mà thôi.

QUEENBEE-1
vinhtruong
11-09-2011, 01:08 PM
Luận cổ suy kim
(Người viết muốn thay đổi từ món ăn nóng qua món đồ nguội và cũng muốn độc giả có chút ít căn nguyên để luận cổ suy kim)
Thượng sách phạt giao để thôn tính và làm giàu bằng món hàng giết người

Đầu thế kỷ 19, lợi dụng tình thế khó khăn của Pháp, Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ bằng “ngoại giao điền thổ” Tháng 5-1803, với 15 triệu USD và với giá 3 Cent (1 Cent=1/100 USD) một mẫu đất, chính quyền của ông Jefferson đã mua toàn bộ vùng Louisiana từ tay Pháp vì lúc đó Napoleon rất cần tiền để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Anh. Cuộc mua bán ngoạn mục này đã làm cho diện tích của Hoa Kỳ tăng lên gấp đôi. Tiếp theo là các vụ mua bán khác, gây chiến tranh, sáp nhập nhằm mở rộng lãnh thổ: mua lại Florida từ Tây-Ban-Nha (1819), sáp nhập Texas (1845).

Năm 1846 Mỹ tuyên bố chiến tranh với Mexico và sáp nhập bang California và New Mexico vào Mỹ. Năm 1848 sau khi ký hiệp ước hoà bình Mỹ-Mexico, chấm dứt chiến tranh giữa hai nước, Mexico buộc phải từ bỏ chủ quyền đối với Texas, California, Arizona, New Mexico, Utah, Nevada (1/2 lãnh thổ Mexico) Mỹ và Anh ký hiệp ước phân định đường biên của Oregon dọc vĩ tuyến 49. Năm 1853 Mỹ và Mexico ký hiệp định Gadsdeh và Mỹ chiếm thêm 140.000 km2 lãnh thổ của Mexico.

Năm 1867, tranh thủ cơ hội khi Nga đang gặp khó khăn về tài chính, Mỹ cũng đã nhanh chóng mua lại toàn bộ vùng Alaska rộng lớn từ Nga với cái giá rẻ khó tưởng tượng – 7, 2 triệu USD. Vùng đất này có vị trí hết sức quan trọng trong việc bố trí chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh và cả hiện nay. Như vậy, có thể thấy chỉ trong hơn nửa đầu thế kỷ 19, bằng “ngoại giao điền thổ” và chiến tranh thôn tính, các chính quyền kế tiếp nhau của Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ, tạo cho Mỹ một vị thế địa-chiến lược mới trên bản đồ địa-chính trị quốc tế so với nước Mỹ thuở lập quốc.

Vào đầu thế kỷ 20, Mỹ đã vươn lên vượt xa các nước tư bản khác về sức mạnh kinh tế, dần dần chiếm địa vị bá chủ thế giới; Năm 1900, Mỹ chiếm tới 31% tổng sản lượng thế giới so với con số tương ứng của Anh, Đức, Pháp là: 18%, 16% và 7%. Năm 1913 sản lượng gang và thép của Mỹ vượt Đức 2 lần, vượt Anh 4 lần, than gấp 2 lần Anh và Pháp cộng lại. Trong khoảng từ 1900-1913 số vốn đầu tư vào công nghiệp tăng khoảng 2 lần rưỡi (9 triệu USD-22, 8 triệu USD), và giá trị sản phẩm tăng hơn 2 lần (từ 11,4 triệu USD lên 24,2 triệu USD) Tới năm 1914, GDP của Mỹ đạt 37 tỉ USD, trong khi đó con số tương ứng của Đức và Anh là 12 tỉ USD và 11 tỉ USD.

Cùng với quá trình tăng cường sức mạnh kinh tế, Mỹ cũng đẩy nhanh xây dựng lực lượng quốc phòng, có những hạm đội mạnh hơn hải quân Anh và có đủ khả năng tranh giành quyền-lực trên các đại dương với các đế quốc châu Âu. Trong cơ cấu của nền kinh tế Mỹ, các tổ hợp công nghiệp quân sự có vai trò quan trọng và đằng sau chúng là những nhóm lợi ích luôn theo đuổi các khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa hiện thực mà thực chất là dùng sức mạnh quân sự để đạt bằng được các lợi ích trong đó có lợi ích kinh tế.

Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Mỹ đã vận dụng thuyết “toạ sơn quan hổ đấu”, bây giờ đang lập lại vụ Biển Đông bằng Việt Nam Phi Luật Tân là chạm tuyến đầu tiên, và Mỹ đứng trung lập ngay từ đầu nhưng vẫn hưởng nhiều lợi nhuận từ buôn bán vũ khí qua gián tiếp đầu tư với Liên Xô cho VN. Đến khi kết cục gần ngã ngũ, năm 1917 Mỹ mới tham chiến hùa theo bên thắng để tạo cơ sở dính líu tới châu Âu và Việt Nam cũng vậy qua thế “On the strong man side” (Liên Xô) Thời kỳ giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới, do bị suy thoái kinh tế như các nước tư bản khác, Mỹ điều chỉnh chiến lược, tạm gác mục tiêu bá quyền thế giới, tập trung sức để khôi phục và phát triển kinh tế trong nước. Thí dụ mở hệ thống Highway giao thông toàn nước Mỹ đem gía hàng tiêu dùng xuống thấp.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang được châm ngòi, từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1939, Tổng thống Roosevelt đã hai lần yêu cầu Quốc hội thủ tiêu đạo luật cấm bán vũ khí cho các nước tham chiến nhưng vẫn không được Quốc hội chấp nhận vì buôn bán vũ khí là một nguồn lợi lớn của giới công nghiệp quốc phòng. Lúc đầu Mỹ tuyên bố giữ vai trò “trung lập”, nhưng sau sự kiện Trân Châu Cảng (7-12-1941), Quốc hội Mỹ đã chính thức tuyên chiến. Những mục tiêu cuối cùng của Mỹ ở Thái Bình Dương là đánh chiếm đảo Iwo Jima (tháng 2-3/1945) và đảo Okinawa (25-3-1945) nằm ở cửa ngõ đi vào Nhật Bản. Điều này phù hợp với mục tiêu chiến lược mở cửa thị trường và khống chế Nhật Bản từ giữa thế kỷ 19.

Để chuẩn bị cuộc Chiến tranh lạnh, Harriman cho ra “Aid to Russia 1941-1946 Plan” nền [“War Industries Board”] công nghiệp quân sự của Mỹ phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy để phục vụ cho chiến tranh và chạy đua vũ trang.

Có một sự kiện đáng lưu ý là ngày 23-3-1983, Tổng thống Reagan đưa ra kế hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” (SDI) với chi phí 26 tỉ USD trong 5 năm; Kế hoạch này không chỉ nhằm vào mục tiêu quân sự mà còn tạo đà cho phục hưng kinh tế Mỹ sau một giai đoạn suy thoái.

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ (1989), Chiến tranh lạnh đi vào hồi kết, vào tháng 1 năm 1991, nhân sự kiện Iraq chiếm đóng Kuwait, Mỹ đã tiến hành chinh phạt Iraq lần thứ nhất. Tháng 3/1999, Mỹ tiến hành chiến tranh ở Cosovo (Nam Tư) Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ tiến hành liên tiếp hai cuộc chiến ở Afghanistan (11-2001) và Iraq (3-2003) Ngoài lý do chính trị-an ninh, còn lộ rõ những lợi ích công nghiệp quân sự.

Ở đây cũng có một sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa chiến tranh với tình trạng suy thoái của kinh tế Mỹ vào đầu những năm 90 và khả năng chùn lại của kinh tế Mỹ sau một thời kỳ tăng trưởng kéo dài 113 tháng tính tới đầu năm 2000. Chiến tranh đã trở thành liều thuốc kích thích kinh tế Mỹ vì nó tạo ra những đơn đặt hàng mới cho các tổ hợp công-ty quân sự và mặt khác, nó còn tạo cơ hội cho giới quân sự Mỹ thử nghiệm các loại vũ khí mới và giới buôn bán vũ khí chào hàng. Tờ “New York Time” ngày 25/9/2003 trích dẫn báo cáo của Quốc hội Mỹ cho biết năm 2002, Mỹ vẫn giữ vị trí số một trên thị trường xuất khẩu vũ khí thế giới, đặc biệt là bán vũ khí cho các quốc gia đang phát triển, với tổng giá trị là 13, 3 tỉ USD, chiếm 45% khối lượng hợp đồng bán vũ khí thông thường toàn cầu. Riêng về Á Đông tu chánh án “Case-Church” Mỹ “di tản chiến lược” về Hawai để cho các nước nằm gần TQ mua vũ khí của Mỹ, riêng VN mua của LX mà Mỹ có phần hùn TQ sẽ không có cớ buồn Mỹ?Chính sách thương mại bằng ngoại giao pháo hạm và thể chế kinh tế, tài chính quốc tế.

Cùng với việc mở rộng biên giới lãnh thổ ở các khu vực “cận ngoại biên”, vào đầu thế kỷ 19, Mỹ còn đề xuất Học thuyết Monroe (1823) về “Châu Mỹ của người châu Mỹ” và chủ nghĩa biệt lập. Liệu đây có phải là thực sự tinh thần độc lập và tự trị khu vực hay không ? Như đã biết, vào thời kỳ này, Mỹ còn yếu hơn rất nhiều cả về thế và lực so với các cường quốc khác ở châu Âu mà đặc biệt là so với Anh và Pháp, vì vậy Mỹ chỉ có thể thực hiện chính sách mở rộng lãnh thổ ở “sân nhà” là chủ yếu, chứ chưa thể bành trướng ảnh hưởng ở châu Âu. Do đó, về thực chất, Học thuyết Monroe không phải là một thứ chủ nghĩa biệt lập thuần tuý mà là luận thuyết phân chia khu vực ảnh hưởng, phân chia thị trường. Trong Thông điệp liên bang năm 1823, Tổng thống Monroe nhấn mạnh: “lục địa châu Mỹ, với điều kiện tự do và độc lập đã giành và giữ được, không thể bị coi là đối tượng của việc thực-dân hoá trong tương lai bởi bất kỳ các cường quốc châu Âu nào”, và Mỹ ” coi bất kỳ cố gắng nào nhằm mở rộng hệ thống của họ tới bất kỳ nơi nào của bán cầu này là nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của Mỹ”.

Từ đây có thể thấy là không phải Mỹ muốn biệt lập, không có tham vọng dính líu gì tới bên ngoài mà thực chất Mỹ muốn ngăn cản các cường quốc châu Âu, không cho họ bành trướng ảnh hưởng và buôn bán ở lục địa châu Mỹ vì Mỹ coi đây là “sân sau” tự nhiên, là khu vực ảnh hưởng của riêng Mỹ. Mặt khác, tuy chưa đủ sức tiến vào châu Âu, nhưng sau khi đã xác lập được vị thế khá vững vàng ở lục địa châu Mỹ, Mỹ cũng đã bắt đầu bành trướng sang khu vực Đông Á-Thái Bình Dương theo phương thức “thương mại đi trước, cờ Mỹ đi sau”.

Năm 1853 đô đốc Mỹ Perry đã đưa bốn chiến thuyền đến cảng Uraga (trong vịnh Tokyo) yêu cầu Nhật Bản cứu trợ, bảo vệ thuỷ thủ Mỹ, mở cửa thông thương và tiếp than cho tàu Mỹ từ California đến Trung Quốc. Năm 1854 Perry lại đưa bốn chiến thuyền đến và ký hiệp ước Kanagawa buộc Nhật Bản đồng ý mở cửa Shimoda và Hakodate, theo đó Mỹ có quyền lấy than, lương thực, nước cho các chuyến tàu biển qua đó. Năm 1858 Mỹ ký hiệp ước buôn bán bất bình đẳng với Nhật Bản, mở cửa Edo, Nigata, Kobe, Yokohama, Osaka và Nagasaki, giành được quyền tài phán lãnh sự và tối huệ quốc về quan thuế. Như vậy, về phương diện kinh tế-thương mại, sự có mặt của Mỹ ở Nhật Bản đã được hợp thức hoá một bước.

Nếu từ cách tiếp cận địa-chiến lược, thì để thống trị đại lục Âu-Á, trước hết Mỹ cần phải lôi kéo, khống chế “hai tuần dương hạm nổi tự nhiên” là Anh và Nhật Bản là hai Ốc-đảo dưới ảnh hưởng của Mỹ. Lúc đó Anh đang còn rất mạnh, còn Nhật Bản thì lại chưa tiến hành công nghiệp hoá, cả thế và lực đều yếu, hơn nữa Nhật Bản vẫn còn là thị trường “vô chủ”. Đây là cơ hội lớn cho Mỹ và Mỹ đã thành công; Bằng “ngoại giao pháo hạm”, Mỹ đã buộc Nhật Bản phải mở cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ xác lập thế đứng vững chắc ở khu vực sau này để phát huy ảnh hưởng cả về chính trị-an ninh và giành giật lợi ích kinh tế-thương mại.

Tới cuối thế kỷ 19, Anh đã suy yếu dần, còn Mỹ ngày càng mạnh thêm với lực lượng hải quân hùng hậu; Nắm được quyền lực biển là tiền đề quan trọng để Mỹ giành giật quyền lực thương mại với các cường quốc khác; Mục tiêu tiếp theo của Mỹ ở Đông Á là Trung Quốc. Sau khi gây chiến tranh với Tây Ban Nha và chiếm Philippine (1898) năm 1899 Mỹ đề ra chính sách “mở cửa” để giành giật thị trường ở Trung Quốc với Anh, Pháp, Nga và Nhật. Nội dung của chính sách “mở cửa” gồm có: Bất kỳ hàng của nước nào vào Trung Quốc cũng đều chịu chính sách thuế như nhau và do chính phủ Trung Quốc thu thuế. Không can thiệp vào lợi ích của các nước theo những điều ước đã ký. Không được thu thuế theo khu vực của từng nước quá cao. Với chính sách này, Mỹ muốn xác lập vị thế hợp pháp và bình đẳng của mình ở thị trường Trung Quốc so với các cường quốc khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty Mỹ tiếp cận và cạnh tranh với các công ty nước ngoài ở thị trường to lớn này.

Như vậy, có thể thấy cho tới cuối thế kỷ 19, các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau đã triển khai được một bước quan trọng trong chiến lược toàn cầu: khẳng định châu Mỹ là khu vực ảnh hưởng riêng, là “chợ sau” của Mỹ mà các cường quốc Âu-Á không có quyền dòm ngó, đồng thời đã bắt đầu vươn vòi “bạch tuộc” tới Đông Á-Thái Bình Dương, xác lập quyền tự do thương mại ở khu vực quan trọng này.

Với Chính sách kinh tế mới “New Deal” của Tổng thống F.D. Roosevelt (sự thật là W A Harriman) kéo dài trong 8 năm (1933-1941) nền kinh tế Mỹ đã có một bước phát triển mới cả về mô hình và cơ cấu. Trong những năm cuối của thế chiến thứ hai, cùng với việc tranh giành khu vực ảnh hưởng, Mỹ đã nỗ lực thiết lập luật chơi mới trên thương trường quốc tế thông qua việc xây dựng hệ thống Bretton Woods, IMF và WB vào năm 1944 – một năm trước khi kết thúc chiến tranh. Điều này có ý nghĩa quan trọng cả trên hai phương diện lý thuyết kinh tế và chính trị đối ngoại bằng thiết kế gia George Kennan, cột trụ như quân sư của Harriman.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 cho thấy rõ hơn những khuyết tật của mô hình kinh tế thị trường tự do, cần có những điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý qui mô cả ở tầm quốc gia và quốc tế. Trong khi cả thế giới và đặc biệt là châu Âu bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc và khi mà lãnh đạo các nước lớn chỉ tập trung vào đàm phán kết thúc chiến tranh và phân chia khu vực ảnh hưởng, thì Mỹ không chỉ tranh thủ làm giàu bằng buôn bán vũ khí mà còn nhanh chóng đổi mới tư duy kinh tế đối ngoại và xúc tiến triển khai các hoạt động xây dựng các thể chế kinh tế tài chính quốc tế. Thuyết thể chế đã có ảnh hưởng mạnh hơn cả trên hai phương diện kinh tế và chính trị; Cùng với cạnh tranh tự do, Harriman hoạch định chiến lược của Mỹ cũng đã sớm nhận thấy và tận dụng thời cơ dùng các thể chế kinh tế-tài chính quốc tế nhằm tối đa hoá lợi ích và mở rộng ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới.

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh mà Harriman là kiến trúc sư, Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự, đặc biệt là vũ khí nguyên tử và chạy đua vũ trang, thiết lập các liên minh chính trị-quân sự như NATO, hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ và gây các cuộc chiến tranh cục bộ v.v. để thực hiện mục tiêu bá chủ thế giới. Đó là một phương diện quan trọng, nhưng chưa phải là tất cả; Bên cạnh chủ nghĩa hiện thực chính trị, chủ nghĩa tự do và thuyết thể chế với các mức độ khác nhau cũng có ảnh hưởng lớn tới quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ và qua triển khai trên thực tế vẫn thấy hiển hiện sợi dây hợp lý vì lợi ích kinh tế của Mỹ ở các châu lục.

Sự phát triển kinh tế Mỹ phụ thuộc một phần hết sức quan trọng vào việc mở rộng thị trường, thương mại và đầu tư quốc tế; Chính vì vậy mà trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ không chỉ chú ý tới cuộc đọ sức với Liên Xô mà sự thật cùng Liên Xô thống lảnh thế giới bằng tượng trưng cây AK và M.16, trong khi LX phải chịu lép vế ở hạng đàn em của Mỹ từ khởi nguyên Aid to Russia 1941-1946 Plan, renewed, reactivated nên ngày hôm nay Việt Nam mới có đủ vũ khí tối tân hơn TQ để bảo vệ công ty dầu hoả Exxon của Mỹ và bắn đạn thật không cho giàn khoan tối tân của TQ vào neo trong vùng kinh tế của VN. Còn triển khai nhiều chính sách kinh tế đối ngoại có hiệu quả thiết thực; Ở châu Âu, cùng với việc thành lập NATO (1949) để kiềm chế chủ nghĩa cộng sản, Harriman còn triển khai kế hoạch Mashall nhằm tái thiết Tây Âu, thiết lập Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ GATT, Mỹ lôi kéo và ép buộc các nước khác, đặc biệt là các nước tư bản phát triển ở Tây Âu và Nhật Bản hạ thấp hàng rào thuế quan, chấp nhận các luật chơi chung về tự do hoá thương mại và dịch vụ.

Đầu những năm 70, Tây Âu và Nhật Bản trở thành hai cường quốc kinh tế thế giới và có thể cạnh tranh được với Mỹ. Nhưng con số hơn 70% lợi nhuận Mỹ thu được từ Tây Âu cũng cho thấy lợi ích kinh tế mà Mỹ thu được to lớn như thế nào trong quan hệ với Tây Âu. NATO không đơn thuần chỉ là phương tiện “ngăn chặn cộng sản”, mà còn là công cụ quan trọng bảo đảm cho sự dính líu lâu dài cũng như an ninh kinh tế của Mỹ ở châu Âu. Có một khía cạnh đáng lưu ý nữa là, với sự hậu thuẫn quan trọng của Mỹ, các nước Tây Âu trong khối NATO đã nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế mạnh mẽ, đặc biệt là Cộng hoà Liên bang Đức. Trong khi đó thì các nước XHCN trong khối Warsava trong đó có Cộng hoà dân chủ Đức, lúc đầu cũng duy trì được sự phát triển nhất định, nhưng sau đó lâm dần vào khủng hoảng kinh tế-xã hội ngày càng trầm trọng. Chính vì vậy mà lợi thế cạnh tranh kinh tế đã nghiêng dần về phe TBCN do Mỹ hậu thuẫn. Như vậy, với chiến lược hai gọng kìm cả chính trị-quân sự và kinh tế, Mỹ đã từng bước xác lập được vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng chi phối ở Tây Âu, hình thành khung quan hệ chiến lược châu Âu-Đại Tây Dương trong quan hệ giữa các nước tư bản Âu-Mỹ.

Còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, song song với việc thiết lập các liên minh quân sự song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Australia, Mỹ còn tăng cường các quan hệ kinh tế-thương mại với các nước khác và tạo điều kiện thuận lợi cho một số nền kinh tế khu vực đặc biệt là Hàn Quốc cất cánh trở thành “hổ” và “rồng”. Việc Mỹ chủ động cải thiện quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 70 không chỉ nhằm vào mục tiêu địa-chính trị – thiết lập Tam Quốc Chí tân thời mà Mỹ có quyền chọn bạn một thời gian rồi biến thành thù cho America First. Đó là nguyên lý Mỹ triển khai chiến lược mở cửa thị trường to lớn tới Trung Quốc trong thời gian qua.

Ngay từ thời Tổng thống Lincoln, Bộ trưởng Ngoai giao Mỹ đã khẳng định khu vực châu Á – Thái Bình Dương là “món quà tặng” của tự nhiên cho nước Mỹ. Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, tổng kim ngạch buôn bán của Mỹ với khu vực này đã vượt so với Tây Âu. Với sự hậu thuẫn của Mỹ, năm 1989 APEC được thành lập; Quan hệ kinh tế-thương mại của Mỹ với khu vực cũng đã được thể chế hoá một bước quan trọng.

Từ một phương diện khác, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa 1972-1973, năm 1975, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Mỹ, Nhóm các nước công nghiệp phát triển (G.7) ra đời nhằm phối hợp chính sách thương mại, tài chính, đầu tư để đối phó với những bất trắc kinh tế có thể xảy ra trên toàn cầu. Mặt khác, đây còn là thể chế quan trọng để Mỹ có thêm cơ hội thuyết phục, dàn xếp và giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn với các đồng minh trong sân chơi cạnh tranh kinh tế quốc tế.

Như vậy, có thể thấy, ngay trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, trong chiến lược đối ngoại, với các mức độ và ưu tiên khác nhau, Mỹ luôn phối hợp và triển khai song song cả hai chiến lược có mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau là chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại. Đồng thời, chiến lược kinh tế đối ngoại được hoặch định và triển khai trong mối quan hệ chặt chẽ với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với những đòi hỏi mới của sự phát triển lực lượng sản xuất dưới động lực của biến hoá khoa học-kỹ thuật.

Chính sách kinh tế của Tổng thống Reagan (Reaganomics, nhưng sự thật của Bushes) trong những năm 80 đã tạo dựng cơ sơ hạ tầng thông tin cần thiết cho kinh tế Mỹ nắm bắt kịp những cơ hội mới do xu thế toàn cầu hoá đưa lại và nhanh chóng cất cánh vào thập kỷ sau đó.

Sau khi Liên Xô tan rã, cùng với việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại, Mỹ cũng nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng những lợi thế so sánh tối ưu trong bối cảnh cách mạng tin học và toàn cầu hoá. Cựu Tổng thống Mỹ B. Clinton đã từng tuyên bố “tập trung vào kinh tế như một tia laser” và cho tới đầu năm 2000, nền kinh tế Mỹ đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kéo dài hiếm có do đảng Cộng Hoà làm Dân Chủ hưởng.

Trên bình diện toàn cầu, cùng với việc triển khai chiến lược an ninh theo mô hình “đại bàng” với đầu là Bắc Mỹ và hai cánh là châu Âu-Đại Tây Dương (mở rộng NATO) + châu Á-Thái Bình Dương (củng cố hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ) Mỹ đã xúc tiến thiết lập một thể chế thương mại toàn cầu thông qua quá trình thúc đẩy chuyển hoá GATT thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu năm 1995 nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới về tự do hoá thương mại và đầu tư của xu thế toàn cầu hoá. Đây là một thành công kinh tế đối ngoại của Mỹ theo hướng thể chế hoá quá trình cạnh tranh kinh tế toàn cầu bằng việc xác lập những qui tắc và luật chơi chung có lợi cho Mỹ.

Vai trò và ảnh hưởng của Mỹ trong WTO rất lớn; (cho VN vào gạt LX ra) Các nước còn lại, dù có là nước lớn, nếu muốn trở thành thành viên của tổ chức này đều phải tranh thủ sự hậu thuẫn và “gật đầu” của Mỹ. Trung Quốc cũng đã phải có một số nhân nhượng với Mỹ, đặc biệt là trong vụ sứ quán Trung Quốc ở Belgrade (Nam Tư) bị ném bom khi Mỹ tiến hành không kích Cosovo năm 1999 để tranh thủ sự hậu thuẫn của Mỹ đối với việc gia nhập WTO. Trong sân chơi kinh tế mới này, với thế mạnh về kinh tế-tài chính, Mỹ và một số nước phát triển khác đóng vai trò chủ đạo, nhưng trong cấu trúc phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích, các nước đang phát triển cũng có vai trò nhất định. Tại Hội nghị WTO vừa rồi các nước phát triển đã phải nhượng bộ các nước đang phát triển về vấn đề hàng nông sản.

Còn trên bình diện khu vực, trong hai nhiệm kỳ cầm quyền, chính quyền B. Clintơn cũng đã có những quyết sách phù hợp khi triển khai chiến lược đối ngoại để tối đa hoá lợi ích kinh tế của Mỹ. Nắm vững xu thế khu vực hoá và cũng để tập hợp lực lượng nhằm cạnh tranh với các tổ chức kinh tế khu vực khác, đặc biệt là với khối kinh tế Tây Âu mà sau này là Liên minh châu Âu (EU), năm 1992, Mỹ đã cùng với một số nước khác thành lập khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Tới tháng 12 năm 1994, 34 nhà lãnh đạo của các quốc gia châu Mỹ từ Canada đến Chilê (trừ Cuba) đã có cuộc họp thượng đỉnh tại Miami và cùng nhất trí với Tổng thống Mỹ B. Clintơn về dự án hoàn thành Khu vực thương mại tự do châu Mỹ (FTAA) trước năm 2005.

Ở châu Âu, Mỹ thực hiện chiến lược hàng đôi gắn chính trị-an ninh vào kinh tế-thương mại. Biên giới NATO mở rộng tới đâu thì sân chơi kinh tế của Mỹ cũng mở rộng tới đó; Ngay cả cuộc chiến Cosovo do Mỹ chỉ đạo năm 1999 cũng có mục tiêu kinh tế chứ không phải đơn thuần là một cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực với Nga ở bán đảo Balcan. Mỹ muốn cản trở đồng EURO sắp lưu hành và dọn đường để tiếp cận vào khu vực Trung Á có nhiều dầu lửa.

Vào những năm gần đây, đặc biệt là sau Hội nghị Seattle và sau sự kiện 911, Mỹ đã đẩy mạnh việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương với các nước khác nhau; Trong Chiến lược An ninh quốc gia được công bố ngày 30/9/2002, Tổng thống G.W. Bush đã nhấn mạnh cách tiếp cận ba cấp độ về tự do hoá thương mại mang tính cạnh tranh: “Hoa kỳ sẽ hợp tác với từng quốc gia, từng khu vực và cộng đồng thương mại toàn cầu nhằm xây dựng một thế giới tự do thương mại”.

Việc Mỹ lựa chọn đối tác để đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương xuất phát từ ba mục tiêu có liên quan với nhau phản ánh mối quan hệ tương tác qua lại giữa kinh tế với chính trị quốc tế: cạnh tranh kinh tế khu vực, tập hợp lực lượng và xác lập vai trò lãnh đạo trong đàm phán WTO. Chẳng hạn, Mỹ đã ưu tiên ký FTA với Australia vì nước này vừa là nước đứng đầu Tổ chức các nước xuất khẩu thuần tuý các sản phẩm nông nghiệp, lại vừa là nước rất tích cực ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố và cuộc chiến ở Irắc. Ký FTA với Australia tạo thêm thuận lợi cho Mỹ trong các cuộc đàm phán về nông nghiệp ở WTO và tăng cường hợp tác chống khủng bố, hỗ trợ cho an ninh của Mỹ.

Tháng 5/2003, Mỹ đã ký FTA với Singapore – đối tác đầu tiên ở Đông Á; Đây cũng không phải là hành động ngẫu nhiên; Nó được tính toán phù hợp với nhu cầu và lợi ích của Mỹ cả về chính trị-an ninh và kinh tế. Nước này đã nhiệt thành ủng hộ Mỹ trở lại Đông Nam Á sau các sự kiện Subic và Clark (1992 CIA xúi dân Phi biểu tình đòi đất và 1975 Tổng thống VNCH đuổi Mỹ) có chung quan điểm về tiêu chuẩn môi trường và lao động, hơn nữa lại có ngành dịch vụ tiền tệ rất phát triển. Lôi kéo được Singapore, Mỹ sẽ có thêm điều kiện thuận lợi để tiếp tục mở rộng cửa vào thị trường ASEAN, tăng sức cạnh tranh với cả Trung Quốc và Nhật Bản.

Mỹ đã chọn Chilê là nước đầu tiên ở Nam Mỹ để ký FTA không chỉ vì nước này là một trong những nền kinh tế mạnh nhất Nam Mỹ, sẽ hậu thuẫn tích cực cho Mỹ thúc đẩy khu vực thương mại tự do châu Mỹ, mà còn vì Chilê đã từng có quan hệ gắn bó với Mỹ và hơn nữa, nước này đã ký hiệp định thương mại tự do với Canađa và một số nước khác. Ở châu Phi, Mỹ đã chọn Maroc để ký FTA là muốn tạo dựng lên một tấm gương tín đồ Hồi giáo thân thiện với Mỹ, đồng thời tạo thế đứng vững chắc hơn để mở rộng ảnh hưởng ở châu Phi nơi cũng có nguồn dầu lửa dồi dào.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-12-2011, 01:29 PM
Vì đã đến thời điểm decent interval “roll-back” 2010, nên gần đây trên mạng, vài blogger tự do đưa ra nhận định lạc quan về tình hình trong nước, cho rằng đảng Cộng sản (mà từ lâu tôi cho rằng Mafia) cầm quyền đang điều chỉnh đường lối chính sách đối ngoại, từ chỗ ngả về phía Trung Quốc, phụ thuộc Trung Quốc, chuyển sang thân Hoa Kỳ và phương ây vào thời điểm Hoa Kỳ roll-back 2010 và đặc biệt sức mạnh nuôi sống nhân loại về lúa gạo đã chiếm 20% trên thế giới.

Trên mạng Thế Giới Mới, nhiều bài viết về kinh tế toàn cầu, mang tít lớn VN đã khôn ngoan xoay chiều: “Cao trào thân Âu – Mỹ lan rộng trong đảng Cộng sản VN”, đưa ra nhận định «gió đã xoay chiều, vận nước đã xoay chiều… » Nhưng những điều trên đây đều đi đúng lộ trình Eurasia vào thời điểm decent interval 2010.

Bài viết nhấn mạnh đến sự thay đổi trong hàng ngũ quan chức ngoại giao của Hà Nội, gồm các đại sứ, tham tán, bí thư được đào tạo ở phương Tây, nói thạo tiếng Anh, phong cách linh hoạt kiểu Tây phương, kể cả ngoại trưởng mới Phạm Bình Minh, con cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng ngoại giao phóng khoáng, am hiểu thời đại, từng cảnh báo tai họa Bắc thuộc. Con đang đi theo gót cha mình chăng? Đây là kế hoạch CIA trồng người từ lúc Nguyễn Chí Vinh mới 11 tuổi mà Harriman có lời khuyên Lê Đức Thọ nên nhận đứa con của đại tướng BV làm nghĩa tử giữa cuộc hội đàm bí mật mặt giáp mặt giữa Harriman/Thọ 1968-69.

Một số blogger khác cho rằng việc ông Trương Tấn Sang đi Ấn Độ và Philippines là để cân bằng với Trung Quốc, chứng tỏ Việt Nam không còn phụ thuộc Bắc Kinh như trước đây, (cho thấy TBT đảng đã ra rìa rồi), đang cố duy trì vị trí đứng giữa, thăng bằng giữa các nước, một tư thế độc lập rất đáng hoan nghênh do CIA ngầm cố vấn, sau một thời gian dài Nguyễn Chí Vịnh tạo cơ hội cho TQ trúng thầu, các ĐVCS thân TQ tham nhũng nổi lên để bứng gốc, giờ nầy chỉ còn thân Mỹ và LX tượng trưng Sang, Dũng. Vịnh, trục tam đầu chế lập lại tam đầu chế, Đức- Thọ, Lê Duẩn, Chí Thọ năm 1959.

Đâu là sự thật? Việt Nam đã trở về tư thế độc lập, không ngả về phía nào, về nước nào, ở vị trí thăng bằng giữa các nước ư? Việt Nam đã chuyển từ thân Trung Quốc sang thân Âu – Mỹ ư? Thế thì càng tốt hơn nữa. Theo nghĩa thân Trung Quốc là thân Trung Quốc bành trướng kiểu Đại Hán, và thân Âu – Mỹ là thân những giá trị tự do, dân chủ đa nguyên đa đảng trên cơ sở bầu cử thật sự tự do và định kỳ theo diễn tiến đả có trong lộ đồ.

Nhưng…tôi thiển nghĩ, chưa phải như vậy. Cần tỉnh táo thận trọng trong nhận định. Theo lý luận Mác-Lê-nin, theo phép biện chứng mác-xít, những nhà lãnh đạo CS Việt Nam luôn phân biệt chiến lược với chiến thuật. Chiến lược hay đường lối chiến lược là để áp dụng cho một giai đoạn dài, cần kiên định vững vàng, không thay đổi, không dao động về những mục tiêu chiến lược, những mục tiêu giai đoạn.

Chiến thuật là sách lược, thủ thuật, sáng kiến, mưu mẹo cụ thể, đoản kỳ, phục vụ cho chiến lược, rất linh hoạt, uyển chuyển theo từng thời điểm.
Thường chiến lược và chiến thuật ăn khớp với nhau, thuận chiều nhau, cũng có khi có vẻ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, nhưng chỉ là về suy luận hình thức, còn về thực chất là vẫn khớp nhau, vẫn phục vụ cho mục tiêu chiến lược. Nhiều khi như vậy lại là cao mưu, kín kẽ, lừa được đối phương và người nhẹ dạ. Đó là cứng trong chiến lược, mềm trong chiến thuật, là «dây lạt mềm buộc chặt hơn».

Hiện nay nhóm lãnh đạo qua Đại hội XI vẫn kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kiên trì chủ nghĩa xã hội (mác-xít), kiên trì chế độ một đảng (độc quyền đảng trị), kiên trì kinh tế quốc doanh là chủ đạo (do đó mà trong 10 tháng qua đã bóp chết 5 vạn xí nghệp tư nhân vừa và nhỏ, đồng thời làm cho các tập đoàn quốc doanh thêm hư đốn vì được quá nuông chiều). Họ ngoan cố giữ vững 4 kiên trì hủ lậu, nguy hiểm, mặc cho hàng trăm trí thức cộng sản có trình độ cao nhất bác bỏ bằng lý lẽ chặt chẽ. CIA đưa họ vào một thế phải chọn lựa giữa chén cơm và chén đất cát.

Trong đường lối đối ngoại từ cuối 1991 sau sự kiện Thành Đô, họ theo con đường «Bắc thuộc» (chữ của Nguyễn Cơ Thạch) để tồn tại và kiếm lợi cho phe nhóm. Bọn bành trướng Đại Hán rất thâm, rất ác, tìm mọi cách buộc ngày càng chặt nhóm lãnh đạo vào cỗ xe của chúng, từ mua chuộc tinh vi đến khống chế, đe dọa, làm nhục không thương tiếc, càng nhục càng bám chặt để khỏi đổ.

Gần đây, nhóm lãnh đạo hám lợi gặp tai nạn lớn, ở trong tình trạng trên đe dưới búa. Đe là thế phụ thuộc bọn bành trướng thâm độc, búa là lòng yêu nước truyền thống căm giận kẻ “hèn với giặc, ác với dân”. Họ ngày càng lo, đe thì rất cứng, mà búa thì rất nặng tay. Họ tìm cách thoát hiểm thì có người lặng lẻ đến nhà cho biết con đường tốt nhứt để sau nầy giữ được tài sản và nếu cần qua Mỹ hưởng an nhàn.

Xin nhớ giải pháp của 14 cái đầu trong Bộ Chính trị hiện nay là giải pháp tình thế, là biện pháp đối phó, là biện pháp chiến thuật, kéo dài hiện trạng để thủ lợi. Kiên trì, ù lỳ, lỳ lợm về chiến lược.

Do đó mới có những động thái hơi lạ, khác trước – ông Sang đi Ấn Độ, rồi Philippines, mời công ty Ấn vào vùng biển Đông khoan dầu; bộ trưởng quốc phòng đi Nhật Bản. Họ còn thỉnh thoảng lên tiếng đòi họp đa phương, tuyên bố tăng cường quan hệ chiến lược, kể cả chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh với Hoa Kỳ và vài nước phương Tây… Trong khi đó họ càng xử nhũn, mềm mỏng, khéo léo với Bắc Kinh, chịu nhục cả khi bị báo chí chính thống Bắc Kinh gọi là «đàn muỗi», «đàn gà» và «bầy chó» theo phương thức khổ nhục kế như Mỹ đả làm khi hy sinh gần 60.000 lính Mỹ như món tiền deposit khai thác dầu hoả sau nầy …

Xu thế kết thân với Âu-Mỹ có thể là của một bộ phận không nhỏ đảng viên, nhất là đảng viên trí thức, đảng viên cao tuổi đã về hưu, đảng viên trẻ và đoàn viên cộng sản có lòng yêu nước, thương dân, nhưng quyết không phải là xu thế của Ban Chấp hành Trung ương mới được bầu trong Đại hội XI, càng không phải là xu thế chân thực của nhóm lãnh đạo 14 ủy viên Bộ Chính trị đang toàn quyền lãnh đạo đảng và đất nước.

Đảng Cộng sản luôn chú trọng duy trì cái gọi là đoàn kết thống nhất trong đảng, nhất là trong cơ quan lãnh đạo, trong Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là trong Bộ Chính trị. Đã thành nếp, khi trong cơ quan lãnh đạo có ai có ý kiến tỏ ra đi trệch khỏi đường lối chiến lược chung là lập tức người đó bị cô lập và loại bỏ ngay. Không một ai có ý kiến trái ngược về đường lối chiến lược có thể tồn tại trong cơ quan lãnh đạo. Đó là quy luật thép. Đó là trường hợp Trần Xuân Bách, sau đó là trường hợp Nguyễn Cơ Thạch. Trường hợp từ chối chức bộ trưởng ngoại giao của ông Trần Quang Cơ cũng là do lý do như thế. Ông Cơ hiểu rằng khi đã nhận chức ông sẽ buộc phải theo con đường Bắc thuộc, một điều trái với lẽ phải và lương tâm, dù cho lợi lộc cá nhân rất lớn. Ông Cơ là một nhân cách hiếm có.

Còn ông Phạm Bình Minh, bộ trưởng ngoại giao hiện tại, nhiều người hy vọng ông sẽ theo gót người cha, theo tục ngữ “con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh”, tôi nghĩ nếu được vậy thì còn gì hơn nữa, nhưng có một điều dễ hiểu tại sao các chóp bu của hai miền đều là thành viên đắc lực cho CIA nếu được họ móc nối?

Nhưng…không nên hy vọng dễ dãi để vỡ mộng. Ông Phạm Bình Minh mới được đưa từ ủy viên trung ương dự khuyết lên ủy viên chính thức, chưa có chân trong Bộ Chính trị. Ông Minh cũng chưa phải phó thủ tướng như các bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm. Bộ ngoại giao là một trọng điểm kiểm tra theo dõi của Tổng cục An ninh và Ban bảo vệ Đảng, nhưng CIA đả nằm sẳn ở đây từ lâu rồi. Ở các sứ quán, bí thư đảng ủy thường là người của Tổng cục An ninh, có uy quyền hơn cả viên đại sứ về mọi mặt. Dùng ông Phạm Bình Minh là một thủ đoạn chiến thuật. Xin hãy nghe ông ta biện bạch một cách phi lý, nói lấy được, kiểu lưỡi gỗ về tôn trọng nhân quyền ở Việt Nam thì đủ hiểu con người. Bên cạnh ngạn ngữ “con nhà tông… ”, cũng có ngạn ngữ “cha dựng cơ đồ, cha tạo danh thơm, con cho mồi lửa”.

Vậy thì khi nào thì Gió có thể xoay chiều? khi nào có thể có Cao trào thân Âu-Mỹ?, như mong muốn của luật sư Hà Vũ, người cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại? Hiện nay thì khó, khó lắm. Lãnh đạo đã bỏ qua dịp Đại hội XI, khi đã có cả một xu thế trong đảng cất tiếng mạnh mẽ. Nhưng dân gian có câu châm ngôn: điều phải củ cải cũng phải nghe.

Hãy nghe vang lên khắp nơi từ trong nước tiếng nói của gíớí trí thức thật sự là kẻ sĩ thời đại, của những đảng viên lão thành có tâm huyết và tài năng, từ những văn nghệ sĩ lấy sáng tạo làm lẽ sống, các nhà kinh tế am hiểu thời đại. Tôi chỉ xin kể qua một số tên tiêu biểu (không theo thứ tự nhất định nào) như Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Hồng Hà, Nguyễn Văn An, Trần Quốc Thuận, Nguyễn Nam Khánh, Lê Văn Cương, Nguyễn Tài, Nguyễn Xuân Mậu, Huỳnh Đắc Hương, Tô Thuận, Trần Phương, Vũ Khoan, Lê Hữu Đằng, Trần Trọng Tân, Võ Thị Thắng, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Đình Hương, Nguyễn Trung, Việt Phương, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang A, Phạm Chi Lan, Đào Công Tiến, Phan Văn Tiệm, Đào Xuân Sâm, Hoàng Tụy, Ngô Bảo Châu…

Tất cả đều kêu gọi, với lập luận vững chắc, là phải từ bỏ (mà không cần nguyền rủa) chủ nghĩa Mác – Lê-nin, từ bỏ chế độ độc quyền đảng trị, chế độ “vua tập thể”, chế độ độc quyền kinh tế của các tập đoàn quốc doanh, thực hiện cải cách đợt 2, thay đổi cả hệ thống chính trị và kinh tế, thực hiện một cuộc “canh tân đất nước”, lựa chọn nhân tài đúng nghĩa ra cầm quyền, đồng thòi tiến hành một cuộc vận động văn hóa và giáo dục sâu rộng, vực dậy lương tâm xã hội, nghĩa tình dân tộc, tính cương trực, lòng hảo tâm.

Các nhân vật sáng suốt trên đây có thể họp lại thành một “think-tank”, túi khôn dân tộc, một hội đồng cố vấn đặc biệt, một nguồn kiến giải và cảm hứng cho bộ máy lãnh đạo biết lắng nghe.

Nếu không có những biện pháp cơ bản để thoát khỏi bế tắc hiện nay, tình hình có nguy cơ bùng nổ vì nhân dân lương thiện không thể chịu đựng thêm, bọn tham nhũng – mafia lưu manh mới – sẽ lộng hành, đảng Cộng sản càng tha hóa, đất nước chìm đắm trong hỗn loạn, tang thương.

Đất nước thật sự lâm nguy. Chỉ có một “kịch bản khả dĩ”, là trong bộ máy lãnh đạo, trong Bộ Chính trị, có một người hay một nhóm người có quyền uy, được lương tâm và trí tuệ mách bảo, thức tỉnh, hiểu rõ tình thế thực sự Tổ quốc lâm nguy, quyết tâm cứu nước thật lòng, từ bỏ lợi ích vật chất dù sao đã quá đủ để dốc sức một lòng một dạ cứu dân, để lại tiếng thơm muôn đời.

Đó là cuộc cách mạng ôn hòa mà triệt để, theo kiểu cách Gorbachev, rất độc đáo lại có hiệu quả cao, của một trí thức Nga có tâm lại có tầm.

Tôi mong rằng trong cơ quan lãnh đạo của cái gọi là đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt trong Bộ Chính trị, có người suy ngẫm sâu về khả năng xoay chuyển tình thế của Gorbachev sẻ lập lại.

Tôi vốn là con người lạc quan, do tin ở tính bản thiện ở mọi con người. Mỗi con người dù xấu đến đâu cũng có lúc nghĩ lại, cũng có thể có những cơn chợt tỉnh. Xin chớ bao giờ tuyệt vọng sở dĩ lâu như vậy là vì permanent government không muốn tắm máu mà muốn chuyển tiếp êm- đẹp có các nước trên thế giới hoan nghinh và phù trợ.

Các nhà trí thức kẻ sĩ thời đại, những văn nghệ sĩ chân chính sáng tạo, những quân nhân thật sự mang bản chất nhân dân, những anh chị em dân chủ của những ngày Chủ nhật xuống đường… chính các bạn, những Minh Hằng, Kim Tiến, Trần Thị Hường… góp phần tạo nên gió, gió thời đại càng ngày càng mạnh, làm động lực vô địch cho lịch sử nước ta xoay chiều.

Hãy tạo nên sức ép mạnh hơn, tạo nên công luận xã hội và xã hội công dân đủ lớn để buộc lãnh đạo phải nâng các biện pháp chiến thuật thành đổi mới chiến lược, đổi mới đường lối đối nội và đối ngoại, trở về với dân tộc và đi với thời đại, mở ra sinh lộ mới bền lâu cho đất nước đúng theo những gì mà Harriman đã ước tính cho thế kỷ 21, để tiếp nối 2020-2120 “Eurasia Great Game-II” Vì mọi việc trên thế giới đều do Mỷ áp đặt lấy một thí dụ nhỏ thôi: Việt Nam vào WTO nhờ ai, tại sao Liên Xô chưa vào được?

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-15-2011, 01:01 PM
Theo người viết, nó nằm trong lộ-trình Eurasia: Mỹ phải nhào nặn ra các biến cố xung đột đi đến việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

“Nói tóm lại, sau 2013, người viết nói ra một câu nghe quen lá nhĩ như: Riêng về Hoàng Sa, Việt Nam cứ làm Chủ, TQ quản lý, và Mỹ lãnh đạo” Đó là mô hình mà Mỹ cố nhào nặn ra nhiều biến cố trong thập niên qua, mà họ gọi là Political Affairs phải có trong lộ trình chính trường, ép Trung Quốc vào khuôn-khổ phải tuân hành luật pháp quốc tế, và đây cũng là lý do tại sao 1949 Permanent Government [Harriman+Bushes] phải dùng nguyên phi đội Civil Air Transport Service của CIA, áp buộc Tưởng Giới Thạch và phe nhóm ra Đảo Đài Loan định cư, rồi nhường cái ghế LHQ cho Mao Trạch Đông và xóa bỏ miền nam Việt Nam để cho đến ngày hôm nay Trung Quốc không còn chơi luật rừng nữa, và cũng là điều kiện không thể đảo ngược vì TQ không muốn bị cô lập, đó là cái lưới thiên la địa võng mà Mỹ đã chắc ăn khi giăng ra bởi tu chánh án ”Cooper Church” (di tản chiến lược) Không còn bao lâu nữa độc giả sẽ thấy rõ những lời tiên đoán của người viết vào 2013 là y chang như trên trong trật tự thế giới mới mà Permanent Government gọi là “The New World”.

Nhìn vào các hoạt động ngoại giao của Mỹ trong thời gian vừa qua, có thể thấy trong thời gian tới, dù ai lên nắm quyền thì cũng phải quan tâm tới ưu tiên chiến lược dầu lửa; Một mặt để bảo đảm năng lượng cho sự tăng trưởng ổn định và lâu dài của kinh tế Mỹ và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân chúng Mỹ. Mặt khác, vũ khí dầu lửa được dùng để khống chế các đối thủ đang và sẽ cạnh tranh kinh tế quyết liệt với Mỹ trong tương lai. Tuy nhiên, thế giới hiện nay đang thay đổi theo hướng mà ngay cả cường quốc mạnh nhất cũng không thể đạt được một số mục tiêu quốc tế cơ bản bằng hành động đơn phương. Do đó, sớm muộn thì Mỹ cũng sẽ phải điều chỉnh chính sách cả về chính trị-an ninh và kinh tế đối ngoại cho phù hợp với những chiều hướng và thách thức mới trong đó có hiện tượng đặc biệt là “tư nhân hoá chiến tranh” từ các nước nhỏ trước khi Mỹ thật sự can thiệp, điều nầy lập lại kinh nghiệm từ các thế chiến trước đây.

Trong giai đoạn mới nầy, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam trong cuộc gặp với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Hawai mới đây. Trong cuộc gặp, Ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước hoan nghênh việc Mỹ tăng cường hợp tác với khu vực vì hòa bình, ổn định và phát triển ở châu Á-Thái Bình Dương; có sự chuẩn bị chu đáo cho Hội nghị cấp cao APEC 2011, đúng theo mưu đồ ước tình của Mỹ.

Ông Sang, Chủ tịch nước đồng thời bày tỏ tin tưởng Hội nghị sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy hợp tác, liên kết và phục hồi kinh tế trong khu vực, nâng cao vị thế của APEC. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược; xem như sự đóng góp của Ngoại trưởng Clinton đối với sự phát triển quan hệ Việt-Mỹ thời gian qua là đáng khích lệ.

Chủ tịch nước bày tỏ vui mừng trước sự phát triển sâu rộng của quan hệ hai nước, trên cả bình diện song phương và đa phương, tạo cơ sở quan trọng để đưa quan hệ Việt-Mỹ lên một tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên thế giới. Ông Sang nhờ Ngoại trưởng Clinton chuyển lời mời Tổng thống Barack Obama thăm Việt Nam, đồng thời mời Ngoại trưởng và gia đình sớm thăm lại Việt Nam. Vì đả đến thời điểm roll-back Hoa Kỳ không để VN rơi vào tay Trung Quốc như trước 2010, và VN đã phải khôn ngoan giữ chặt chủ quyền biển đảo nếu không có Mỹ phò trợ?

Ngoại trưởng Clinton chuyển lời cảm ơn của Tổng thống Obama tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về sự ủng hộ, hợp tác và những đóng góp tích cực của Việt Nam trong suốt năm APEC 2011. (Vì VN có số lượng dầu lớn nhứt trong vùng theo như kế hoạch Mỹ phải nắm chắc vòi xăng từ Trung Đông qua Á Châu nên phải hy sinh chiếc ghế LHQ lấy từ THQG cho Trung Cộng và xóa bỏ Việt Nam Cộng Hoà ngay sau khi hệ thống vệ tinh phát hiện tài nguyên dưới lòng đất).

Ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược. Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với tất cả các nước liên quan đóng góp vào tự do và an toàn hàng hải; ủng hộ việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); phản đối việc sử dụng vũ lực; ủng hộ các nước có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình; hoan nghênh các nỗ lực tiến tới hình thành Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Cũng trong dịp nầy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã gặp gỡ Thống đốc Hawaii Neil Abercrombie, lãnh đạo các tập đoàn của Mỹ và người Việt ở Hawaii.

Riêng ông đại sứ Shear cho biết các ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ của ông là gia tăng hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ và thúc đẩy tiến trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Ông bình luận rằng để xây dựng được một mối quan hệ như vậy thì điều quan trọng nhất là phải xây dựng lòng tin. Nhưng có một điều chắc chắn “làm kẻ thù với Mỹ thì dễ, còn làm bạn với Mỹ thì rất khó”

Tân đại sứ Mỹ cũng khẳng định một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ông là phát triển hợp tác kinh tế song phương và nỗ lực để tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam. Tổng kim ngạch hai chiều kể từ khi hai nước ký hiệp định thương mại cách đây 10 năm đã tăng từ 1,5 tỷ lên 18,6 tỷ USD tính đến năm 2010. Nên nhớ rằng kinh-tế là “diện” nhân quyền là” điểm”, đó là cái lưới thiên la điạ vỏng mà một nước nhỏ bé như VN làm sao mà thoát được. Theo quý bạn đó là may hay rủi? Nhưng theo tôi may nhiều rủi ít.

Mối quan hệ quân sự Việt – Mỹ cũng “có cải thiện đáng kể”, theo lời nhận xét của đại sứ Shear. Liên quan đến vấn đề Biển Đông, ông nhắc lại quan điểm ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình của tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền; phản đối sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Ông nhấn mạnh Mỹ chia sẻ lợi ích cùng các nước trong việc bảo đảm tự do hàng hải và ủng hộ giải pháp đa phương đối với vấn đề Biển Đông.

Cũng theo đại sứ Shear, việc hợp tác giáo dục sẽ cho các sinh viên và học sinh hai nước cơ hội học hỏi lẫn nhau. Việt Nam hiện có 13.000 du học sinh đang theo học tại Mỹ, trong đó có nhiều sinh viên và học giả xuất sắc được đưa sang đào tạo qua các chương trình của Bộ Ngoại giao Mỹ, dĩ nhiên là tư tưởng người Mỹ và số người nầy sẽ đặt ngồi vào ngôi vị điều hành chính quyền trong tương lai chiếm 80%, lúc nầy không phải đảng cầm quyền mà là Quốc Hội; dĩ nhiên mọi việc sẽ chuyển tiếp từ từ rất khoa học (art de transition) Hai nước cũng có các chương trình trao đổi giáo dục dành cho bậc phổ thông để gài-trồng nhân lực.

Trước đó, khi được nghị viện Mỹ phê chuẩn làm đại sứ mới tại Việt Nam thay ông Michael Michalak hồi đầu tháng August, ông Shear đã gửi lời chào tới Việt Nam bằng tiếng Việt với chất giọng đầy truyền cảm. Khi được hỏi ông chuẩn bị như thế nào để đảm trách vai trò là đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông cho biết việc đầu tiên sẽ làm là học tiếng Việt.

Sau khi trình quốc thư tại Hà Nội, đại sứ Mỹ tiết lộ đang học tiếng Việt và đã nhận “lời thách” của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về việc ông có thể nói chuyện bằng tiếng Việt vào cuối nhiệm kỳ. Tân đại sứ Mỹ bày tỏ ông cùng vợ và con gái “đã bị Việt Nam quyến rủ” ngay từ lần đầu đến Việt Nam 2007 bởi sự thân thiện của người Việt Nam và thích thú các món ăn Việt. Chúng ta nên nhớ những câu nói ngoại giao bằng cách tiên học lễ hậu học văn như vị đại sứ đầu tiên là một POW [Peterson] để cho biết người Mỹ đả thua trận nên phải dùng bàn tay bọc nhung trong buổi sơ giao vô cùng khiêm tốn, nhưng hảy coi chừng?

Trước khi đến Việt Nam, ông David Shear đã trải qua 30 năm kinh nghiệm trong ngành ngoại giao và giữ chức phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. Ông từng công tác tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Malaysia.

Ông tốt nghiệp ngành Quan hệ quốc tế của Trường nghiên cứu quốc tế cấp cao John’s Hopkins, sau đó có thời gian theo học tại các trường đại học của Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan. Đại sứ Mỹ có thể nói tốt tiếng Nhật cùng tiếng Trung-Hoa và ông có ý định sẽ học thêm tiếng Việt. Sau nầy Bạn có thể đặt các câu hỏi phỏng vấn đại sứ Mỹ David Shear.

Dân quyền cho VN dưới áp lực Mỹ từng bước khá chậm qua phương thức kinh tế là “điểm”, dân quyền là “diện”. Phải nói thẳng sự thật quá phủ phàng cho Miền Nam VN, ngày hôm nay trang sử (thực thể nửa nước VNCH) đã sang trang mà, Siêu Chính Phủ (permanent government) xem những người Việt hải ngoại như đã được đền bù và đang đến điểm mốc thời gian decent interval 2023 biến họ thành “Cứt Trâu để lâu hóa bùn” vì không còn tồn tại; Thế là xong, không còn nhân chứng nào của cuộc chiến đã qua còn nhởn nha trên mặt đất. Chúng ta sẽ chứng kiến các Hội đoàn sẽ tắt lịm theo thời gian, như vài sợi nắng chiều thoi thóp sau rặng núi Trường Sơn trên diễn tiến của trục lộ đồ Eurasia Great Game-1 chậm rãi trôi qua).

Ngày nay, dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ trong cuộc Đối thoại Nhân quyền Mỹ-Việt là Trợ lý Ngoại trưởng đặc trách nhân quyền, dân chủ và lao động Michael Posner, và trưởng phái đoàn Việt Nam, Vụ trưởng Hoàng Chí Trung. Đây là vòng thảo luận thứ 16 trong cuộc đối thoại song phương, mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mô tả trong một thông cáo báo chí hôm 7 tháng 11, là “dựa trên các nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau… nhằm thu hẹp những khác biệt giữa hai bên trong lĩnh vực nhân quyền.”

Tiến sĩ Scott Flipse là một chuyên gia về Việt Nam và là Phó Giám đốc Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ, ông từng nhiều lần tới thăm Việt Nam và đã gặp một số nhân vật bất đồng chính kiến trong các nhà tù, kể cả Linh mục Nguyễn văn Lý và các luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân.

Bất chấp những quan hệ nồng ấm hơn về nhiều phương diện, kể cả kinh tế, thương mại và quân sự, nhân quyền vẫn là lĩnh vực mà Việt Nam và Hoa Kỳ có nhiều khác biệt quan điểm nhất. Trong phúc trình nhân quyền thường niên công bố hồi tháng Tư năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ lưu ý rằng trong năm 2010, nhà nước Việt Nam đã “tăng các biện pháp hạn chế các quyền riêng tư của công dân, và các quyền tự do báo chí, ngôn luận, tụ tập, đi lại và lập hội”.

Hồi tháng 9, hơn 10 nhà lập pháp Mỹ đã gửi thư kêu gọi tân đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam hãy nêu bật các quan tâm về vấn đề pháp quyền, tự do Internet, và chiến dịch đàn áp giới bất đồng chính kiến tại nước cộng sản Việt Nam.

Tiến sĩ Scott Flipse, phó Giám đốc USCIRF, nhận định về cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt: “Tôi tin rằng việc hai nước nói chuyện với nhau rất là quan trọng, nhưng Việt Nam cần nghe rằng các quan hệ tốt đẹp sẽ tùy thuộc vào những cải thiện đạt được trong lĩnh vực nhân quyền. Đó là điều rất quan trọng cho phía Hoa Kỳ, và đó là thông điệp chúng ta nên gửi tới Việt Nam một cách rõ ràng.”

Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ông đã đề cập tới vấn đề nhân quyền tại Việt Nam trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Michael Posner.

Ông nói: “Tôi nói với ông rằng ở Việt Nam có quá nhiều người tù tội, nhiều người bị giam vì các hoạt động tôn giáo, và vẫn có nhiều người bị ép buộc từ bỏ niềm tin tín ngưỡng, có những du đãng đến đánh đập, bắt bớ giáo dân Ky tô tham gia các buổi cầu kinh ban đêm. Có nhiều Phật tử, kể cả những người theo phái Làng Mai, bị chính quyền dùng bạo lực cấm hoạt động, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì không được công khai hoạt động hợp pháp. Đó là chưa kể các chiến dịch đàn áp tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài… Rất nhiều điều tôi muốn ông Posner nêu lên với phía Việt Nam.”

Được hỏi về phản ứng của Trợ lý Ngoại Trưởng Posner về yêu cầu đó, Tiến sĩ Scott Flipse cho biết: “Ông ấy nói tự do tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc đối thoại song phương. Tôi không nghi ngờ gì điều đó, nhưng vấn đề là nếu các cuộc thảo luận ấy diễn ra mà hai bên không tìm cách đạt các mục tiêu cụ thể và khả thi, những cải thiện cụ thể, thì sẽ có tác động ngược, chúng chỉ là những lời nói suông.”

Tiến sĩ Scott Flipse nói cách duy nhất để buộc Việt Nam phải chú ý là liên kết nhân quyền với toàn bộ cấu trúc các quan hệ Mỹ-Việt, từ Tòa Bạch Ốc, tới các cuộc thương thuyết thương mại, và các phái đoàn quân sự vv. Ông nói: “Người Việt Nam cần nghe chúng ta khẳng định nhân quyền là một vấn đề quan trọng và không thể xúc tiến quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ, nếu không có những cải thiện cụ thể về nhân quyền”.

Trong một phúc trình công bố hồi tháng Ba năm nay, Tổ chức Ký giả Không biên giới xếp hạng Việt Nam thứ 165 trong tổng cộng 178 nước về chỉ số tự do báo chí, và mô tả Việt Nam là “kẻ thù của Internet”. Tiến sĩ Scott Flipse cho biết ý kiến của ông về vấn đề này: “Tự do Internet là một vấn đề thiết yếu, không nên coi tự do internet là chỉ liên quan tới nhân quyền, nó còn là một vấn đề thương mại, Việt Nam nên nghe không những ông Posner nói tới tự do internet, mà cả Bộ trưởng Thương Mại và các phái đoàn thương mại Mỹ đi thăm Việt Nam cũng nên nêu lên vấn đề này”.

Tiến sĩ Scott Flipse nhắc tới một số tù nhân lương tâm ở Việt Nam, đặc biệt là Linh mục Nguyễn văn Lý, hiện đã bị đưa trở lại vào tù. Ông nói: “Tôi đã gặp Linh mục Lý 2 lần trong tù trong các chuyến đi thăm Việt Nam. Tôi biết Cha Lý là một người can đảm. Tôi biết Cha Lý tranh đấu ôn hòa cho tự do, và sự kiện Cha Lý vẫn tiếp tục bị cầm tù là một vết nhơ trong các quan hệ Việt-Mỹ”.

Tiến sĩ Scott Flipse nói ông hy vọng Linh mục Nguyễn văn Lý sẽ được trả tự do lập tức, một điều mà ông cho là rất có thể xảy ra sau vòng đối thoại nhân quyền lần này, nhưng ông nói ngoài Cha Lý, còn có nhiều trường hợp khác, những tín hữu đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Ky tô giáo, Tin Lành khác đang bị cầm tù, cùng với các nhà hoạt động nhân quyền, các luật sư bênh vực cho các cộng đồng tôn giáo cũng nên được phóng thích.

Tiến sĩ Scott Flipse nói ông không phải là người duy nhất nêu lên các trường hợp cá biệt vừa kể, mà các tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia về Việt Nam khác cũng nhắc tới các trường hợp này trong cuộc tiếp xúc với Trợ lý Ngoại Trưởng Posner.

Ông nói: “Đã đến lúc nên làm nhiều hơn là chỉ nói suông, phải làm thế nào để Việt Nam phải hành động bằng cách phóng thích những vị này, hơn thế nữa, ngay từ đầu Việt Nam lẽ ra đã không nên bắt giữ họ.”

Tiến sĩ Flipse lặp lại đề nghị của Ủy ban Tự Do Tôn giáo Quốc Tế, là nên liên kết nhân quyền với các quan hệ khác, kể cả trong lĩnh vực chiến lược và an ninh.

Tiến sĩ Flipse nói: “Thông điệp mà chúng ta cần gửi đến người Việt Nam là đây là quyền lợi của người Mỹ, và chúng tôi sẽ không tiến hành các chương trình phục vụ quyền lợi kinh tế và an ninh của Việt Nam, đặc biệt liên quan tới cuộc tranh chấp Biển Đông, cho tới khi nào có tiến bộ về các quyền lợi của Hoa Kỳ như nhân quyền và tự do tôn giáo.”

Mới đây, trong một bài tham luận về quan hệ Mỹ-Á Châu, Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng hơn cả sức mạnh quân sự và quy mô của nền kinh tế Mỹ, tài sản quốc gia quý báu nhất là sức mạnh của các giá trị Mỹ, đặc biệt là lập trường ủng hộ dân chủ và nhân quyền, mà theo bà là trọng điểm của chính sách đối ngoại, kể cả chính sách nhìn về khu vực Châu Á-Thái bình dương hiện nay.

Ngoại trưởng Clinton nói: “Giữa lúc chúng ta thắt chặt hơn các quan hệ với những đối tác mà chúng ta còn nhiều bất đồng về các vấn đề ấy, chúng ta sẽ tiếp tục kêu gọi họ hãy cải cách để nâng cao kỹ năng cai trị, bảo vệ nhân quyền và thăng tiến các quyền tự do chính trị.” Việt Nam lại thêm một lần nữa là chư hầu của Mỹ, nhưng điều quan trọng là vễn giữ được Biển Đảo của cha ông để lại.

Ngoại trưởng Clinton nêu lên trường hợp Việt Nam, nói rằng Washington đã khẳng định rõ ràng với Việt Nam rằng sự phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt-Mỹ đòi hỏi Hà nội phải đề ra những bước để bảo vệ tốt hơn các quyền làm người và thăng tiến các quyền tự do chính trị. Tiến sĩ Scott Flipse kết luận rằng những lời lẽ ấy đã làm ông ấm lòng, mặc dù ông chưa biết ngoài đời thực, chính sách ấy sẽ được áp dụng như thế nào cho có hiệu quả, dĩ nhiên nó phải nằm dưới chiếc đủa thần huyền biến của Bà Phù Thủy!

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-17-2011, 12:42 AM
Những biến chuyển kinh ngạc từ khởi điểm roll-back 2010

Trước đó, theo phúc trình thì mặc dù Canberra và New Delhi đã ký tuyên bố chung về hợp tác an ninh hồi năm 2009, nhưng mức độ thao dượt quân sự đã chậm lại kể từ đó vì chưa đến thời điểm roll-back (Mỹ phải trở lại TBD năm 2010) Tài liệu này theo diễn tiến Eurasia cũng nhấn mạnh đến một loạt dự trù những vụ gây hấn của TQ đối với các nước nhỏ hơn kể từ năm 2009, nhất là ở Biển Đông, và nói thêm rằng sự cạnh tranh Ấn-Trung ở trên Biển-Đông có thể gia tăng.

Một phúc trình chuyên môn cho rằng Úc và Hoa Kỳ nên hình thành kế hoạch đối thoại an-ninh tay ba với Ấn Độ để giúp ngăn chận mọi hành động gây hấn của hải quân Trung Quốc. Bản phúc trình phổ biến của 3 nhóm chuyên gia gồm Viện Lowy của Úc, hội Khảo sát-Quan sát độc lập của Ấn Độ và Hội Heritage ở Hoa Kỳ, kêu gọi Úc và Mỹ gia tăng hợp tác với Ấn Độ: Kế hoạch hợp tác giữa Mỹ-Úc-Ấn tại Ấn Độ-Dương và Thái Bình Dương lưu ý rằng hiện New Delhi vẫn chưa xem Úc là đối tác an ninh ưu tiên nhưng Mỹ sẻ hoà nhập hai nước cùng keo sơn với nhau.

Thế liên hoàn Mỹ-Úc-Ấn-Nhật phải hình thành 2011
Các nước có hợp tác phòng ngừa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc; Nga cũng tiến hành tập trận và tăng cường binh lực đề phòng Trung Quốc.
Cuối năm 2011, Mỹ và Úc sẽ tăng cường đáng kể quan hệ quân sự; Ấn Độ và Mỹ cũng tích cực thúc đẩy một cơ chế đối thoại an ninh tay ba Mỹ-Ấn-Nhật. Thủ tướng Nada dự định thăm New Delhi. Một thế liên hoàn đang dần dần hình thành để đối phó với sự trỗi dậy tham vọng của Trung Quốc; Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông và tăng cường tiềm lực hải quân, không ngần ngại đe dọa, chèn ép hầu hết các nước có tranh chấp với họ, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ. Điều này gây lo âu cho các nước liên quan trong vùng và Mỹ, cường quốc cho đến nay, vẫn đóng vai trò bảo đảm ổn định cho khu vực Thái Bình Dương là nằm trong kế hoặch Eurasia-1 (1920-2020).

Tàu chiến Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ tập trận tại Vịnh Tokyo:
Hợp tác tay ba, tay tư mang tính phòng ngừa. Từ năm 2009, bốn nước này đã khởi động sự hợp tác tay ba, tay tư. Nhưng các hành động gần đây của Trung Quốc đã thúc đẩy bốn nước lớn châu Á-Thái Bình Dương nói trên xích lại gần nhau hơn trong lĩnh vực an-ninh quốc phòng; Hồi giữa năm vừa rồi 2010, decent interval roll-back, hải quân Mỹ, Úc, Nhật Bản lần đầu tiên tập trận chung tại Biển Đông. Tàu chiến Úc cũng đi lại thường xuyên hơn tại Ấn Độ Dương.

Tàu chiến Úc và Ấn Độ tập trận tại Ấn Độ Dương.
Nổi bật nhất là việc củng cố thêm liên minh quân sự Mỹ-Úc; Ngày 15/9/2011 vừa rồi, kỷ niệm 60 năm ngày ký hiệp ước phòng thủ chung giữa hai nước này, Bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao hai nước hội đàm tại San Francisco (Mỹ) đã đạt các thỏa thuận mở đường cho quân đội Mỹ quyền tự do tiếp cận các căn cứ tại Úc, cung cấp cho Mỹ với một chỗ đứng vững chãi nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Đại diện hai nước còn thảo luận các biện pháp thúc đẩy hợp tác song phương trong các dự án về không gian và tên lửa phòng thủ. Tháng 11/2011, Tổng thống Mỹ 7 Barack Obama dự định thăm Úc để tăng cường quan hệ liên minh với nước này; Năm 2010, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã cam kết cùng với Úc chia sẻ quyền sử dụng các hải cảng và căn cứ. Quân đội Mỹ có thể bố trí sẵn thiết bị của mình trên đất Úc để sử dụng dễ dàng hơn các cơ sở và hải cảng của nước này.
Patrick Cronin, chuyên gia quân sự đặc trách vùng Đông Á tại trung tâm nghiên cứu Center for a New American Security của Mỹ, nói trên Thời báo tài chính (Anh), cho rằng: “Úc đóng một vai trò bản lề trong khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương”. Sự hợp tác Mỹ-Úc “làm cho toàn thể khu vực được yên tâm hơn”.
Ngày 12/9, tại Washington, đã mở ra cuộc đối thoại chiến lược Mỹ-Ấn lần thứ tư liên quan Châu Á-Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương và chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới tại Indonesia. Hai bên còn bàn thảo về cuộc họp đầu tiên của cơ chế đối thoại tay ba Mỹ-Nhật-Ấn, sẽ được mở ra từ nay đến cuối năm 2011 tại Nhật Bản.

Nga cũng tham gia nhưng chủ yếu độc diễn
Mạng Sina.com ngày 15/9 bình luận “Nga sẽ không dễ dàng theo Mỹ, Nhật để bao vây Trung Quốc”, đưa lại tin của tạp chí Tin tức kinh tế Nhật Bản, cho biết, bắt đầu từ tháng 9/2011, Hạm đội Thái Bình Dương của Nga sẽ lần lượt cùng với Nhật Bản và Mỹ tiến hành diễn tập quân sự liên hợp. Mạng Sina.com cho rằng “Nếu Nga liên kết cùng Mỹ, Nhật kiềm chế Trung Quốc thì vòng vây đối với Trung Quốc không còn là hình chữ C mà sẽ là khép kín, thành hình chữ 0, điều này có ảnh hưởng to lớn đối với Trung Quốc”. Tuy cho rằng Nga không tham gia vào thế liên hoàn nhằm bao vây Trung Quốc, nhưng nêu lên mấy hiện tượng:

(1) Trung Quốc, Nga và 4 nước thuộc Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) vốn dự định tổ chức diễn tập quân sự liên hợp 2 năm 1 lần, nhưng cuộc diễn tập dự định sẽ tổ chức vào mùa hè năm nay đã bị hoãn lại. Nga chủ trương diễn tập quân sự trên Biển Nhật Bản, Trung Quốc lại tránh khu vực biển này

(2) Nga bằng việc tiếp cận gần hơn với Bắc Triều Tiên và các nước, tăng cường ưu thế đối với châu Á, nhân tố thực chất phía sau của vấn đề này là quan hệ Trung Quốc – Nga đang có những thay đổi không tốt. Quan chức ngoại giao của Nga từng tiết lộ, việc Hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Triều Tiên và Nga thực chất là do phía Bình Nhưỡng đề xuất. Triều Tiên muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc, còn Nga cũng muốn kiềm chế Trung Quốc và tìm kiếm chỗ đứng chân vững chắc tại châu Á

(3) Quan hệ Mỹ-Nga không ngừng được cải thiện dưới chính quyền Obama, trong khi Trung Quốc không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự thời gian qua, Nga đã bắt đầu chú ý đến “mối đe dọa Trung Quốc”. Những năm gần đây vũ khí Nga bán cho Trung Quốc giảm dần, Nga còn thành lập bộ Tư lệnh tác chiến liên hợp Hải Lục Không quân vùng Viễn Đông gần với khu vực biên giới Trung Quốc. Chủ nhiệm Sở nghiên cứu phòng vệ thuộc Phòng vệ tỉnh Nhật Bản nhận xét: “Việc bố trí binh lực của Nga cho thấy Nga đã đưa Trung Quốc vào phạm vi cần nghiên cứu đối phó”.
Theo một số chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quân sự Nga của Trung Quốc, gần đây Nga không có bất kỳ báo cáo nào về vấn đề tổ chức diễn tập quân sự liên hợp với Mỹ và Nhật Bản. Trước một sự kiện quan trọng như vậy mà báo chí Nga không có bất kỳ tin tức nào liên quan là điều rất không bình thường. Điều này có thể có hai nguyên nhân: một là, tin tức từ tạp chí trên của Nhật Bản có thể chỉ là suy đoán, thậm chí là bịa đặt. Hai, có thể là, việc diễn tập quân sự trên là thực tế, nhưng công tác bảo mật của Nga rất tốt, nên báo chí Nga không thể có tin tức gì.
Tuy nhiên Thời báo Moscova của Nga gần đây cho rằng mặc dù Nga cũng có những lo lắng đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng Nga khó liên kết với Mỹ để chống Trung Quốc vì Mỹ nhất định sẽ đưa Nga đi đầu “làm bia đỡ đạn”. Ngoài ra Nga còn có những tính toán chiến lược riêng của mình đối với thế giới, với khu vực châu Á và Trung Quốc.

Mục tiêu kép động thái quân sự của Nga: Lo ngại Trung Quốc
Từ đầu tháng 9 đến nay, Nga liên tục có các động thái quân sự tại các khu vực xung quanh Nhật Bản khiến nước này vô cùng lo ngại.
Hai máy bay ném bom chiến lược TU95 của Không quân Nga hôm 8/9 đã áp sát không phận Nhật Bản, trong khi 24 tàu chiến Nga đã đi ngang qua eo biển Soya của Nhật Bản. Ngay sau đó, Thư ký Hội đồng An ninh Nga Nikolai Patrushev hôm 11/9 đã tới thăm các hòn đảo thuộc vùng Lãnh thổ Phương Bắc (Nga gọi là quần đảo Nam Kurils). Tiếp đó, ngày 13/9, Hạm đội Thái Bình Dương thuộc quân khu Viễn Đông của Nga đã tập trận bắn đạn thật quy mô lớn ở Biển Nhật Bản, Biển Okhod và khu vực Tây-Bắc Thái Bình Dương với sự tham gia của hơn 50 tàu chiến, 35 tàu hộ tống-tiếp ứng, 50 máy bay tiêm kích và lên thẳng cùng 10.000 lính thủy. Trong cuộc điện đàm với người đồng cấp Nga Sergei Lavrov hôm 9/9, Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Genba đã nói rằng động thái và ý đồ của Nga khiến cho người dân Nhật Bản lo ngại, do đó yêu cầu Mátxcơva có các hành động kiềm chế hơn để không gây kích động tâm lý của người dân Nhật Bản.

Tàu chiến Mỹ, Nhật Bản, Úc tập trận tại Biển Đông.
Một điều cũng gây chú ý không kém là việc Nga mới đưa vào chạy thử tàu ngầm nguyên tử đa chức năng lớp Borei mang tên Yuri Dolgoruky, vốn được lên kế hoạch trang bị cho căn cứ Vilyuchinsk ở phía Đông bán đảo Kamchatka ngay trong năm nay. Loại tàu này có thể lắp đặt 10 hoả-tiển đạn đạo Bulava-M có tầm bắn 8.000 km
Máy bay ném bom chiến lược của Nga tham gia tập trận tại biển Okhotsk.
Mục tiêu của loại hoả-tiển này sẽ là nước Mỹ. Tuy nhiên, cũng có nhận định cho rằng việc Nga tăng cường sức mạnh quân sự tại vùng Viễn Đông là nhằm đối phó với Trung Quốc; Trưởng phòng Nghiên cứu Mỹ-châu Âu-Nga thuộc Viện Nghiên cứu Phòng vệ Nhật Bản Hyodo Shinji cho rằng hiện nay quan hệ an ninh giữa Nga-Mỹ và Nga-Châu-Âu tương đối ổn định nên Moscova bắt đầu chuyển hướng quan tâm sang khu vực Đông Á. Mặc dù Nga và Trung Quốc đang muốn xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, song Nga vẫn không thể không đề phòng Trung Quốc trước việc nước này phát triển quá nhanh và ngày càng gia tăng sức mạnh quân sự. Nga lo ngại rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của Hải quân tới tận vùng biển Okhod nên họ đã tiến hành tập trận tại đây như một lời nhắn gửi tới Bắc Kinh rằng đây là vùng biển thuộc phạm vi ảnh hưởng của Moscova

Lộ Trình chiến lược tái cam kết của Mỹ tại châu Á
Sau hai cuộc chiến tranh tại Trung Đông và ĐNÁ, Washington đã bắt đầu chuyển sự chú ý của mình sang nơi khác, đặc biệt là vào một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trong khi ông Obama còn nhiều việc để làm để định hình các thể chế kinh tế và chiến lược như EAS và APEC cho phù hợp với lợi ích của nước mình, chuyến công du sắp tới của ông có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực Châu Á/Thái Bình Dương.
Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ công du Australia và Indonesia vào tháng 11; Và ông vừa chủ trì một hội nghị của Hợp tác Kinh tế Châu Á/ Thái Bình Dương (APEC) hôm 12-13/Nov/2011 tại Honolulu, Hawaii, và dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) lần thứ sáu vào ngày 18-19/Nov/2011 tại Bali (Indonesia) lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ của tổ chức này. Chuyến thăm diễn ra đồng thời với một loạt các chuyến thăm ngoại giao và các phát biểu của các quan chức kinh tế và an ninh của chính quyền Obama nhằm chứng tỏ cam kết trở lại của Mỹ đối với khu vực Châu Á/Thái Bình Dương và gắn khu vực này với các lợi ích quốc gia của Mỹ.
Chiến lược của Mỹ tái cam kết với Đông Á, lần đầu tiên được thông báo vào năm 2009, trong chừng mực nào đó vì chưa tới decent interval roll-back, bởi chắc chắn Mỹ chưa bao giờ bỏ rơi khu vực này. Tuy nhiên, sự tập trung của Washington trong thập kỷ vừa qua đã hướng về Trung Đông để nắm vòi-xăng trước rồi Biển Đông sau; Điều này, cộng với sự ảnh hưởng được mở rộng nhanh chóng về chính trị và kinh tế của Trung Quốc trong khu vực, đã khiến Mỹ nhận ra rằng các lợi ích của Washington tại Đông Á đang suy yếu.
Hiện nay, khi Mỹ đang chuẩn bị rút hết quân đội khỏi Iraq qua Úc Châu và giảm các chiến dịch tại Afghanistan, chính quyền Obama có thể sử dụng nhiều nguồn lực hơn để mở rộng sự can dự của mình vào Đông Á theo lịch trình của Permanent Government. Trong khi Washington còn nhiều việc để làm nhằm định hình các thể chế chiến lược và kinh tế cho phù hợp với lợi ích của mình, chuyến thăm sắp tới của Tổng thống Obama có thể thúc đẩy sự chuyển đổi trong cán cân quyền lực tại Châu Á/Thái Bình Dương.

Hoa Kỳ đang theo dõi về sự trỗi dậy của Trung Quốc
Trong những năm gần đây, quân đội Trung Quốc đã tỏ ra ngày càng xác quyết hơn, với việc Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa đóng một vai trò lớn hơn trong các quyết định chính sách của Trung Quốc. Đặc biệt, chiến lược của quân đội phát triển một lực lượng hải quân “viễn-chinh-biển” xa đã tạo điều kiện thay đổi trọng tâm của lực lượng này, hướng tới khả năng kiểm soát lớn hơn trên các hải trình quốc tế, đặc biệt tại biển Đông.
Trong giai đoạn này, Bắc Kinh đã muốn tạo dựng quan hệ với các nước láng giềng, nhưng những lo ngại về mối đe dọa của “sức mạnh cứng” của Trung Quốc đã khiến các nước ở Châu Á/Thái Bình Dương kêu gọi sự can dự lớn hơn của Mỹ trong khu vực nhằm làm đối trọng với sự ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc. Điều nầy nó đả nằm trong lăng kính của Permanent Government từ lúc Nixon và Mao gặp nhau 1972.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là “chiến lược biển” hiếu chiến của họ, đặt ra một thách thức đối với các lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sức mạnh toàn cầu của Mỹ dựa vào quyền kiểm soát của nước này trên các đại dương, và Mỹ thấy Đông Á là một sân khấu chính cho các quan hệ kinh tế và chính trị trong tương lai gần.
Vì vậy, chính quyền của Tổng thống Obama đã đầu tư đáng kể nguồn vốn chính trị vào Châu Á kể từ sau thông báo tái cam kết của Washington năm 2009, nhưng bắt đầu vào thời điểm 2010 sẽ bọc phát làm kinh ngạc thế giới để kềm hảm cường lực trên biển của TQ. Cùng với đó, Mỹ đã vượt qua các quan hệ với các đồng minh truyền thống ở Thái Bình Dương – như Australia, Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc – để kết nối với các cường quốc khu vực như Indonesia và Ấn Độ. Washington tìm cách thúc đẩy chỗ đứng của mình tại Indonesia, nước vốn là một lãnh đạo khu vực trong một loạt vấn đề, bằng việc tăng cường hợp tác quân sự và thông qua Đối Tác toàn diện Mỹ – Indonesia, cũng như tham dự Hội nghị EAS do Indonesia chủ nhà năm nay. Với Ấn Độ, Mỹ đã đi xa hơn các quan hệ kinh tế, vươn tới hợp tác chiến lược, đặc biệt trong các vấn đề biển, Washington cũng tiến gần hơn tới các đồng minh truyền thống của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Campuchia và cả Miến Điện.
Washington cũng nỗ lực định hình các thể chế đa phương trong khu vực, như một cách để hợp nhất các nước khác chống lại Trung Quốc, đồng thời tránh sự ra đời của một đồng minh mạnh trong khu vực mà không có sự tham gia của Mỹ. Các thể chế có mặt Washington bao gồm ASEAN – mà Ngoại trưởng Mỹ ví là “điểm tựa cho kiến trúc đang nổi của khu vực” – và một số thể chế kinh tế và chiến lược do ASEAN đứng đầu, như EAS và APEC. Mỹ cũng phối hợp với một loạt các khối tiểu khu vực như Diễn đàn Các đảo Thái Bình Dương và Hội nghị thượng đỉnh sông Mekong
Washington đặc biệt quan tâm tới APEC và EAS, các cấu trúc và lịch trình của hai tổ chức này đang trong quá trình định hình lại, cho phép Mỹ có một tiếng nói có trọng lượng hơn trong tương lai; Vì vậy, các cuộc gặp sắp tới của ông Obama sẽ cho thấy hai điểm tựa quan trọng cho chiến lược tái cam kết của Mỹ tại Thái Bình Dương.

Hợp tác kinh tế Châu Á/Thái Bình Dương là quyền lợi sống còn của Mỹ
APEC thành lập năm 1989 tại Canberra, Australia, với mục đích quy tụ các nền kinh tế năng động ở bên bờ Thái Bình Dương lại với nhau. Dần dần, nhóm này đã thu hút 21 quốc gia thành viên, trong đó có Mỹ, và trở thành tổ chức kinh tế hàng đầu khu vực. Các nước thành viên APEC có vai trò rất quan trọng đối với các lợi ích thương mại của Mỹ – cùng nhau, họ chiếm 60% hàng hóa xuất khẩu của Mỹ – cũng như đối với nền kinh tế toàn cầu, và vì vậy, Washinton đã sử dụng khối này để thể hiện sự ảnh hưởng kinh tế lớn hơn trong khu vực. Tuy nhiên, sự nổi lên của một số nhóm kinh tế khu vực trong thập kỷ qua, đứng đầu là các quốc gia Châu Á – hoặc bị chế ngự bởi Trung Quốc – đã làm giảm vai trò của APEC, và vì thế, Mỹ đã phải tìm kiếm các con đường khác để định hình chính sách thương mại châu Á của mình.
Để đạt mục đích này, TT Bush vào cuối nhiệm kỳ năm 2008 sẽ tham gia các cuộc thương lượng về một thỏa thuận tự do thương mại đa phương với tên gọi Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). TPP ban đầu có hiệu lực năm 2006 và bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Sau thông báo của Mỹ năm 2008, Australia, Malaysia, Peru và Việt Nam đều đã tham gia các cuộc đàm phán; Các nền kinh tế như Canada, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc và Đài Loan cũng thấy có lợi.
Cam kết của Mỹ đã thúc đẩy đáng kể các cuộc đàm phán, và Washington đang trong quá trình chốt lại các thỏa thuận tự do thương mại song phương với các nước tham gia. Chính quyền Obama hy vọng có thể thông báo một khuôn khổ cho TPP tại diễn đàn APEC năm nay; Dù khâu Việt Nam và Nhật Bản đang bị đình trệ, nhưng Washington hy vọng thỏa thuận này sẽ cải thiện quan hệ thương mại xuyên Thái Bình Dương, đặt nền mống cho một lịch trình thương mại tự do do Mỹ đứng đầu, và cải thiện nhận thức của các nước châu Á về cam kết của Mỹ trong khu vực.
Nước vắng mặt rõ nhất trong các cuộc thương thảo về TPP là Trung Quốc; Bắc Kinh bày tỏ quan tâm tới việc tham gia đối tác này, vì nó bao gồm rất nhiều đối tác thương mại lớn, nhưng một lịch trình thương mại do Mỹ đứng đầu có thể đồng nghĩa với việc Trung Quốc chỉ có thể tham gia bằng cách mở cửa nền kinh tế theo đường hướng mà Mỹ định ra. Sự “quay lưng” của Trung Quốc khiến một số đối tác đàm phán nhỏ hơn phản đối, vì e rằng động thái này sẽ hủy hoại quan hệ kinh tế giữa họ với Bắc Kinh; Trung Quốc có thể sẽ tham gia TPP trong tương lai, nhưng không tham gia hoạch định chương trình cho thể chế này, Bắc Kinh cho rằng việc đó đi ngược lại lợi ích kinh tế của mình.

Hội nghị thượng đỉnh Đông Á
Mầm mống đầu tiên cho EAS là đề xuất của Malaysia năm 1991 về một khối thương mại đối trọng với phương Tây; Cuộc họp đầu tiên của EAS đã diễn ra năm 2005, hội tụ 16 quốc gia với Nga là quan sát viên, và không bao gồm Mỹ. Washington ban đầu thấy cơ chế này là một âm mưu của các nước thành viên nhằm loại trừ sự ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực; Nhưng như một phần của chiến lược tái cam kết, mới đây họ đã đã thay đổi quan điểm và sẽ tham gia hội nghị thượng đỉnh năm nay, lần đầu tiên trong vai trò một thành viên đầy đủ.
EAS ban đầu là một hội nghị về năng lượng và kinh tế. Các nước thành viên đã bắt đầu định hình lại lịch trình và cấu trúc của EAS và tạo ra một cơ sở mềm dẻo cho Mỹ tham gia nhằm tập trung vào các vấn đề an ninh khu vực và hướng tới trở thành thể chế ưu việt cho các vấn đề an ninh tại Thái Bình Dương. Từ nay tới đó, Washington hy vọng hội nghị sẽ định hình chương trình của các cơ chế khu vực khác, như ASEAN.
Một số đối tác khu vực đã hoan nghênh sự tham gia của Mỹ trong EAS, coi đây là một đối trọng tốt cho sự chế ngự của Trung Quốc, đặc biệt trong các tranh chấp biển, khi thái độ xác quyết ngày càng mạnh của Trung Quốc làm gia tăng cẳng thẳng trên biển Đông. Trong bối cảnh này, những lời đề nghị của Washington trong năm nay có thể giúp đánh giá cam kết của họ đối với an ninh của Châu Á/Thái Bình Dương – đặc biệt đối với quyền tự do hàng hải trên biển Đông. Các nước Đông Nam Á, cũng như các bên liên quan thứ ba như Nhật Bản và Ấn Độ, đã tiến hành một chiến lược ngoại giao tăng cường nhằm thu hút sự chú ý lớn hơn của quốc tế vào vấn đề này. Trong khi các nỗ lực này không chỉ nhằm trực tiếp vào Mỹ, chúng lại giúp thống nhất các nước trong khu vực chống lại Bắc Kinh, điều cũng thể hiện trong chiến lược Eurasia Great Game-1 của Washington.
Trung Quốc theo dõi sát vấn đề biển Đông, và Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến việc Mỹ có thể đưa ra các biện pháp thông qua EAS cho thấy một cam kết mạnh hơn trong vấn đề này. Trong khi một cuộc hội nghị riêng-rẽ khó tạo ra một ảnh hưởng lớn, nó lại có thể ra hiệu cho thấy một sự chuyển đổi trong định hướng của khối này dưới vai trò lãnh đạo của Mỹ trong siêu chiến lược toàn cầu.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-18-2011, 06:19 PM
Theo diễn tiến Eurasia sẽ phải có NATO phương đông
Như nhiều bài trên đây, tôi đã viết về diễn tiến của trục lộ đồ Eurasia vào giai đoạn cuối (1920-2020) sẽ có một liên minh quân sự như theo lý thuyết gia George Kennan (1904-2005) sẽ phải lập lại một khối NATO phương đông để ổn định tình hình dưới sự thống lãnh của Mỹ.

Có giả thuyết cho rằng độ ít năm nữa một liên minh quân sự mới sẽ hình thành tại Thái Bình Dương có tên là Tổ Chức Phòng Thủ Châu Á -Thái Bình Dương gọi tắt là APTO (Asia-Pacific Treaty Organization) Đây là một Liên minh An ninh Quốc phòng Thái Bình Dương. Và theo giả thuyết đó thì chỉ vài ngày trước đây, tranh chấp biên giới trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ nổ ra một cuộc giao tranh quân sự vô tiền khoáng hậu, một trường hợp điển hình. Hiện nay họ đang chơi trò chơi đổ lỗi cho nhau như “Ai đã khai pháo đầu tiên?” Dĩ nhiên bàn tay lông lá sẽ bấm đít Việt Nam chơi ẩu trước trong sự kiểm soát theo dõi bên ngoài của Mỹ, qua đó Mỹ cũng cần để Việt Nam nhân cơ hội thử vài vũ khí bí mật của Mỹ trong vòng an toàn dù rằng Trung Quốc có phản ứng quyết liệt. Đây cũng là cuộc giảo nghiệm thử coi Mỹ có đủ khả năng bảo vệ sự an toàn cho trái đất và đồng thời cần biết gân-cốt của TQ đi tới đâu rồi?

Nhưng vấn đề đã vượt xa hơn việc đi tìm ai có lỗi. Đối với APTO, câu hỏi quan trọng là ai đã khai pháo đầu tiên và lý do tại sao, và những gì xảy ra tiếp theo đó? Cũng giống như NATO, các thành viên của APTO đang bị ràng buộc phải tiếp cứu để bảo vệ đồng minh của họ. Nhưng liệu họ có tới cứu đồng minh của họ không?
Khởi đầu của một liên minh mới APTO (Asia-Pacific-Treaty Organization)

Tương tự khối NATO về phương diện hình thành và hoạt động, APTO được hình thành để đáp ứng các đe dọa khủng bố và hải tặc. Khởi thủy là một liên minh không chính thức giữa các quốc gia đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ như Úc, Nhật, Đại Hàn, Thái Lan và Philippines, nhóm này mau chóng mở rộng bao gồm cả Ấn-độ, Miến Điện, Indonesia, Mã Lai, Tân Tây Lan và Việt Nam. Mục tiêu của liên minh này là thống nhất và tăng cường khả năng phòng thủ, với hy vọng sẽ đem lại ổn định và an ninh cho Thái Bình Dương do trong âm mưu của Mỹ có tính toán trước.

Khối mười quốc gia đó được các quốc gia Brunei, Chile, Ấn Độ, Singapore, và dĩ nhiên cả Hoa Kỳ, tham gia với tư cách thành viên không chính thức, trong khi chính Hoa Kỳ giúp đỡ hình thành APTO theo như ước tính.
Dĩ nhiến, đối chọi lại, Trung Quốc đã bày tỏ không chấp nhận khối APTO, mà Trung Quốc cho là sự nối dài chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, Trung Quốc không dám tấn công các thành viên của APTO, vì biết rõ rằng không bị khiêu khích mà tấn công có thể sẽ đưa tới một cuộc chiến tranh không cần thiết với Hoa Kỳ và điều chắc chắn là TQ đã rơi vào cái bẩy Eagle pull (di tản chiến lược về Hawaìi) của tu chánh áng Cooper-Church 1970 và Case-Church 1973.

Cuộc hội đàm viễn liên giả tưởng hiện nay của các lãnh đạo APTO là một hoạt động tìm hiểu dữ kiện hơn là chuẩn bị chiến tranh. Ngôn từ chuyên môn trong minh ước phòng thủ nói rằng các thành viên không bị đòi hỏi trợ giúp Việt Nam nếu thấy Việt Nam bị tấn công trước? theo người viết không phải TQ mà chính VN sẽ tấn công tự vệ trước? Và họ sẽ có lý do vững chãi để cùng nhau tránh chiến tranh vì Hoa Kỳ không sẵn sàng gửi quân tới như các thành viên chính thức.

Chỉ mới vừa phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế, và với ngân sách quốc phòng bị giảm thiểu một cách đáng kể, nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ ít có ý định tham gia một cuộc chiến khác. Mặc dù Hoa Kỳ thường xuyên tuyên bố rằng tương lai của mình gắn chặt với Thái Bình Dương? Điều nầy khó lường lắm, nhưng có một điều chắc chắn là nếu TQ đụng đến vòi xăng là Hoa Kỳ sẽ phản ứng thích đáng ngay. Nhưng nếu không có Hoa Kỳ tham gia với tư cách thành viên chính thức thì mọi liên minh quân sự đều chỉ là hình thức và sẽ thất bại chăng? dỉ nhiên điều nầy không thể chối cãi được.
Nền tảng của một liên minh APTO thành công
Lý thuyết gia chiến tranh lạnh, George F Kennan có câu hỏi đó không sai. NATO thành công vì Chiến Tranh Lạnh là một cuộc chiến, phần lớn xảy ra giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Và Hoa Kỳ với quyết tâm đánh gục Liên Xô, cùng với chiến lược chạy đua vũ trang làm cho Liên Xô kiệt quệ về kinh tế đã đưa NATO tới thành công. Trái lại APTO sẽ không được hình thành trong cùng một hoàn cảnh. Bất cứ cuộc xung đột nào trong tương lai cũng sẽ không xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang. Đó là cái kiểu trò chơi trật thượng của đàn anh để cho mấy thằng nhóc đánh túi bụi rồi tà tà mới nhảy vào như lịch sử thế chiến đã chứng minh.

Có thể nói Hoa Kỳ láu cá làm bộ theo đuổi một chính sách đối ngoại không can thiệp vào công việc của các lân quốc của Trung Quốc. Biết vậy, thì thử hỏi Hoa Kỳ nên đóng vai trò gì và nên làm gì trong một liên minh quân sự như APTO? Ngư Ông đắc lợi. Rõ ràng là để cho APTO thành công, Hoa Kỳ phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, và Hoa Kỳ chỉ lãnh đạo khi mà sự thành công của liên minh đó là cần thiết cho sự thành công của mục tiêu của Hoa Kỳ. Nói một cách giản dị, APTO phải được cấu trúc quanh nhu cầu của Hoa Kỳ.

Bất hạnh thay, một tổ chức đã tồn tại trong quá khứ và đã thất bại, đó là Liên Phòng Đông Nam Á, SEATO. Nhưng có ai biết được nó nằm trong kế hoặch nhường ảnh hưởng cho Liên Xô ở vùng ĐNÁ mà Việt Nam là tiểu bá của LX nắm giử 3 nước Đông Dương; Do đó APTO không thể chỉ là bản sao chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nó phải được thiết kế nhằm giải quyết những nhu cầu của các quốc gia Thái Bình Dương thành viên, nhưng lần nầy có củng-cố thêm Ấn-độ và quân đội Mỹ ứng chiến đang có đầu cầu tại Úc.

Hoa Kỳ đã phản ánh các quan ngại của một số quốc gia Đông Nam Á về sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách tổ chức để các quốc gia đó tiếp tục tham gia các cuộc tập trận chung và tiếp cận vũ khí của Hoa Kỳ. Vả lại, Hoa Kỳ trong nhiều dịp cả công khai lẫn hội kín đã tuyên bố hy vọng Trung Quốc sẽ trở thành một đối tác chiến lược và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế dưới hình thức đại loại như Hội nghị Thượng đỉnh G-2 Hoa Kỳ-Trung Quốc.

Cho dù trong tương lai Hoa Kỳ có trở thành một thành viên chính thức, thì để thành công, APTO phải hoạt động với Trung Quốc, làm cầu nối giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang. Hoa Kỳ chẳng được lợi gì nếu APTO chỉ đẩy Trung Quốc đi xa; và trong hoàn cảnh như thế, Hoa Kỳ không có lý do để trở thành một thành viên thường trực của tổ chức này. Nếu APTO thành hình trong tương lai thì nó phải được thiết kế để xây dựng mối quan hệ giữa các quốc gia chứ không phải cắt đứt các mối quan hệ đó.
Tóm lại, không đối đầu với Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu của các quốc gia thành viên, đồng thời mang lại quyền lợi cho Hoa Kỳ là ba yếu tố để APTO thành công.
Không lâu sau cuộc gặp hai ngoại trưởng Việt Nam và Trung Quốc bên lề kỳ họp của Liên Hiệp Quốc tại New York để cải thiện quan hệ, báo Trung Quốc lại lên tiếng chỉ trích nặng nề cả Việt Nam và Philipines trong chuyện Biển Đông. Vì theo dự đoán của Mỹ về sự đụng độ sơ khởi phải bắt đầu chạm tuyến là VN và Phi để Mỹ thí nghiệm vài vũ khí mới phát minh

Nhưng hiện nay cũng có tiếng nói trên báo Trung Quốc đề nghị chính Bắc Kinh làm rõ về bằng chứng “vi phạm” của các nước khác trong bối cảnh các bên đều mơ hồ và không công bố bản đồ hay ranh giới gì cho những tuyên bố của họ. Nhằm giải toả căng thẳng sau những bất đồng trong đó có tranh chấp tại Biển Đông, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì đã gặp người tương nhiệm phía Việt Nam, ông Phạm Bình Minh trong khuôn khổ một loạt các cuộc gặp của lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc với một số nước ở Hoa Kỳ. Theo tin Tân Hoa Xã hôm 25/9, hai bộ trưởng đều nói chính phủ hai nước sẵn sàng hợp tác để giải quyết bất đồng. Cuộc nói chuyện tay đôi nầy sẽ không đem đến kết quả nếu không có bàn tay lông lá đứng ra giàn xếp.
Trung Quốc muốn kiếm chuyện gây sự:
Nhưng báo China Daily hôm đầu tuần 26/9 vừa có thêm bài với tựa đề “Manila, Hanoi at it again” (tạm dịch: ‘Manila và Hà Nội lại gây chuyện’) để phê phán hai nước này “lôi kéo Hoa Kỳ và Ấn Độ vào Biển Nam Trung Hoa”. Báo nầy chả biết chính trị chính em gì cả, thủ phạm là Mỹ nhào nặn ra Bài xã luận của báo Đảng Trung Quốc nói hai nước thuộc Asean này gần đây “bận bịu với chuyện gây khó khăn cho Trung Quốc, nuốt lời hứa để giải quyết tranh chấp biển Nam Trung Hoa song phương với Bắc Kinh”.Làm sao song phương được, song phương để bị bắt nạt sao?

Ngoài ra, cây bút Bấm Lý Hồng Mai cũng có bài trong ngày thứ Hai 26/6 trên bằng tiếng Anh của Tân Hoa Xã cảnh báo rằng những nước theo chiến lược ‘kéo bè kéo cánh’ ở Biển Đông ‘sẽ vỡ mộng’. Kéo bè kéo cánh là biện pháp duy nhứt làm TQ e-dè không dám có xuẩn động tự cô lập mình!

Bà Lý Hồng Mai nói thẳng đến Ấn Độ và Nhật Bản đang dính líu vào biển Nam Trung Hoa trong hai động thái cùng liên quan đến ‘chủ quyền của Trung Quốc’. Tác giả nhắc đến kế hoạch của công ty Ấn Độ OVL và Việt Nam tại hai lô khai thác khí đốt ở Biển Đông “hiện được các nước khác theo dõi một cách lo ngại và là chuyện vi phạm chủ quyền trên biển của Trung Quốc”.

“Thay vì phản ứng mơ hồ như thế, các cơ quan của Trung Quốc nêu trình ra các bằng chứng rõ rệt cho thế giới thấy các nước khác vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ra sao” Thậm chí, đây là điều mà đã khiến một số nhà quan sát đem ra so sánh với tranh chấp ảnh hưởng lâu nay của Ấn Độ với Trung Quốc tại vùng Kashmir và Pakistan.

Bà Lý Hồng Mai cũng nói đến chuyện Nhật Bản hội đàm với Philipinnes về vùng biển này trong nỗ lực của Manila muốn ‘cân bằng quan hệ’. Ngoài ra là các hoạt động tăng cường quốc phòng của Philippines như mua sắm phi cơ, chiến hạm từ Mỹ. Nhưng bà Lý Hồng Mai cho rằng kể c̉a khi Philippines vươn tay ra phía Nhật Bản và Việt Nam cố tìm cách kéo Ấn Độ vào phía mình, thì chuyện “đưa bên thứ ba” vào tranh chấp biển “chẳng thể nào xứng lại được với sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc”.

Còn bài trên China Daily của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng nghiêm khắc cảnh báo Việt Nam trong vụ làm ăn với Ấn Độ. Bài xã luận bằng tiếng Anh viết rằng Việt Nam, cũng như Philippines vì “liên tục nuốt lời nên bị mất uy tín và làm suy giảm niềm tin chính trị (political trust) giữa họ v̀a Trung Quốc

Tuy vậy, bên cạnh các bài nặng nề chỉ trích Hà Nội và Manila, hiện trên trang Nhân dân Nhật báo, bản tiếng Anh có đăng bài từ bản tiếng Hoa của báo Hoàn Cầu tại Trung Quốc, có ý kiến nêu ra một cách nhìn khác. Giải thích vì sao giới chức Bắc Kinh không phê Hà Nội nặng lời qua vụ khai thác khí với Ấn Độ, tác giả Ding Gang cho rằng các bên đều cần nêu rõ vấn đề.

Theo tác giả Ding Gang thì sau khi kiểm mọi thông tin do cả Ấn Độ, Việt Nam và Trung Quốc công bố, ông cũng chưa thể tìm thấy bằng chứng rằng vụ khai thác của Việt Nam “vi phạm lãnh hải của Trung Quốc”, vì tất cả còn “rất mù mờ”. Đặc biệt, bài báo cũng kêu gọi chính phủ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ cùng công bố các bản đồ về các khu vực họ nói đến.

Tác giả cũng nói những năm qua, tranh chấp biển Nam Trung Hoa gia tăng, khiến truyền thông Hoa Kỳ và các nước Phương Tây cùng một số quốc gia xung quanh vùng biển này cũng xây dựng thuyết ‘Mối đe dọa từ Trung Quốc’ trên nền tảng đó. Nhưng tác giả viết cần phải cảnh giác trước cái bẫy của việc tạo ra nhãn hiệu ‘bá quyền Trung Quốc”, và truyền thông Trung Quốc cần tránh gọi vùng biển này là “Biển Nam của nước Trung Quốc”, và tránh gọi mọi hành động của các nước ở khu vực này là “vi phạm lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”. Thay vì phản ứng mơ hồ như thế, các cơ quan của Trung Quốc nêu trình ra các bằng chứng rõ rệt cho thế giới thấy các nước khác vi phạm chủ quyền của Trung Quốc ra sao. Tác giả Ding Gang cũng kêu gọi vấn đề ở vùng biển này “phải được giải quyết hòa bình” và Trung Quốc không nên tham gia trò chơi “cút-bắt” mãi mãi với các nước khác.

Thông tin về dự án hợp tác ngoài khơi Biển Đông của hai tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam và Ấn Độ từ khi đưa ra đã thu hút sự chú ý đặc biệt, nhất là trong truyền thông Trung Quốc. Mới đây, tập đoàn ONGC Videsh (OVL) của Ấn Độ loan báo về quá trình thảo luận với đối tác PetroVietnam để thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128 ngoài khơi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, có thể bắt đầu từ năm tới.

Việt Nam nói hai lô 127 – 128 nằm hoàn toàn tại bể trầm tích Phú Khánh trong thềm lục địa của Việt Nam và rất gần bờ biển. Vị trí hai lô này cũng gần với bể Nam Côn Sơn mà Việt Nam và các đối tác nước ngoài đã thăm dò, khai thác nhiều năm nay. Tuy nhiên, giới chức Trung Quốc đã phản ứng gay gắt trước dự án chung Việt-Ấn. Các phát ngôn viên của Trung Quốc, mới nhất là ông Hồng Lỗi vào hôm thứ Hai 19/09, lặp lại khẳng định rằng “Trung Quốc có chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi ở Biển Ðông”.

“Bất cứ nước nào thăm dò dầu khí ở trong vùng này mà không có sự chấp thuận của chính quyền Trung Quốc cũng đều vi phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là bất hợp pháp và vô giá trị.” Một số quan sát viên Trung Quốc nhìn nhận dự án hợp tác dầu khí trên như bước tiến của Ấn Độ vào Biển Đông nhằm đối trọng với Trung Quốc trong việc giành ảnh hưởng ở khu vực.

Đối trọng với Bắc Kinh: Ông Thẩm Đinh Lập, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Mỹ thuộc Viện Quan hệ Quốc tế, Đại học Phúc Đán, nói đây là “hành động khiêu khích cho thấy sự tức giận của Ấn Độ trước việc Bắc Kinh phát triển quan hệ thân cận với các nước như Miến Điện và Pakistan”, nhưng có một điều bất ngờ vào giờ chót Miến điện đi theo Ấn độ có nghĩa là theo Mỹ theo Asian. “Ấn Độ cần nhớ rằng hành động của họ tại Nam Hải (Biển Đông) sẽ đẩy Trung Quốc tới bờ giới hạn. Trung Quốc quý trọng quan hệ hữu nghị Trung-Ấn, nhưng không có nghĩa quý hơn mọi thứ trên đời.”

Hoàn cầu Thời báo: Ông Thẩm nhận định trên tờ Hoàn cầu Thời báo: “Những năm gần đây, Trung Quốc đã xây dựng quan hệ với các nước như Miến điện, Pakistan … cũng cậy nhờ Trung Quốc giúp về an ninh và đề xuất cho hải quân Trung Quốc sử dụng một cảng biển của mình ở Ấn Độ Dương. Tất cả những động thái này khiến cho Ấn Độ cảm thấy lo lắng”. Một giáo sư khác cũng từ trung tâm nghiên cứu trên, ông Ngô Tâm Bá, thì nói việc hai nước Việt Nam và Ấn Độ cùng thăm dò dầu khí không phải là chuyện ngẫu nhiên mà phù hợp với chính sách hướng về phía Đông những năm gần đây của New Delhi. Thêm nữa, ông Ngô cho rằng trong chuyện này có bàn tay của Mỹ.

“Hoa Kỳ lợi dụng mọi cơ hội để đối chọi lại Trung Quốc, như tham gia tập trận với Nhật Bản và các nước khác trong khu vực ngày càng thường xuyên.” Theo vị giáo sư Đại học Phúc Đán, dự án với Việt Nam giúp Delhi “ném một hòn đá giết hai con chim”, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho Ấn Độ, vừa đối trọng chính trị với Trung Quốc. Truyền thông Trung Quốc cũng nhanh chóng vào cuộc, với nhiều bài báo và chương trình truyền hình phân tích việc Việt Nam và Ấn Độ hợp tác dầu khí ở Biển Đông.

Kênh CCTV-4 của Truyền hình Trung ương Trung Quốc có buổi tọa đàm về chủ đề này hôm Chủ nhật 18/09, trong đó các khách mời nhận xét rằng việc này “chắc chắn sẽ tăng căng thẳng trong khu vực”. Ông Vinh Ưng, Phó Chủ tịch Viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc, nói Việt Nam đã tìm cách quốc tế hóa chủ đề Biển Đông bằng cách chịu cho các công ty dầu khí nước ngoài lấy tới 70% lợi nhuận trong tương lai và Ấn Độ có vẻ quyết tâm giơ đầu chịu báng khi tham gia dự án mà ngay cả tập đoàn khổng lồ British Petroleum cũng cho là quá rủi ro.

Ông Vinh Ưng cũng cho hay chính phủ Ấn Độ đã không thông báo qua các kênh chính thức cho Trung Quốc về dự án liên doanh với Việt Nam mà chỉ đề cập việc này sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản ứng mạnh.
“Với tư cách một cường quốc đang lên, Ấn Độ đang trở thành quốc gia ở giữa mà các nước trong khu vực, kể cả Hoa Kỳ, muốn kéo về phía mình. Quyết định của Ấn Độ có khả năng xác lập tình hình an ninh ở châu Á-Thái Bình Dương, cũng như vị thế của chính nước này trong khu vực.”
Khởi đầu của xung đột?
Các kênh thông tin của Trung Quốc, ngoài việc phân tích động thái của Ấn Độ, cũng cảnh báo nước này cân nhắc lại quyết định của mình, nhất là sau khi Bộ Ngoại giao ở Delhi khẳng định họ không rút khỏi dự án đã được lên kế hoạch. Một bài xã luận đăng trên Hoàn cầu Thời báo nói một cách thẳng thừng: “Ấn Độ cần nhớ rằng hành động của họ tại Nam Hải (Biển Đông) sẽ đẩy Trung Quốc tới bờ giới hạn”. “Trung Quốc quý trọng quan hệ hữu nghị Trung-Ấn, nhưng không có nghĩa quý hơn mọi thứ trên đời.”

Xã luận của tờ Hoàn cầu còn kêu gọi: “Trung Quốc đã hòa hoãn quá lâu, khiến nhiều nước nghi ngờ rằng Trung Quốc sẽ thực hiện những gì đã tuyên bố. Trung Quốc cần nhắc lại cho các nước này về quan điểm rõ ràng của mình.” Phản ứng giận dữ của Trung Quốc đang khiến các chuyên gia an ninh khu vực dò đoán về khả năng gia tăng căng thẳng ở khu vực Biển Đông vốn tiềm tàng xung đột.

“Trong khi một cuộc chiến tranh trên đất liền đòi hỏi nhiều cân nhắc tính toán kỹ lưỡng từ các bên trước khi có thể xảy ra… thì trên biển thật dễ bị lâm vào một sự đối đầu quân sự nghiêm trọng mà chẳng bên nào dự định cả.”
Bình luận gia Gwynne Dyer
Tạp chí Time của Hoa Kỳ tuần này đăng bài tựa đề ‘Liệu chiến tranh bắt đầu thế này chăng?’ nhận định rằng bất đồng lãnh thổ thuộc ḷai khó phân giải nhất thế giới “đang trở nên hầm hập” và nếu các quốc gia liên quan không kiềm chế thì nguy cơ xung đột ‘khó mà tính trước được’. Tạp chí này nhắc tới một sự kiện cũng mới xảy ra, là tàu chiến Airavat của Ấn Độ khi thăm Việt Nam đã nhận cảnh báo từ nguồn tự nhận là hải quân Trung Quốc nói tàu này đang ở trong lãnh hải Trung Quốc; và nhận định rằng “nguy cơ xung đột trên biển khó có thể đoán trước” hơn là trên bộ.

Time dẫn lời một nhà quan sát lâu năm ở Á châu, ông Gwynne Dyer, nói trong khi một cuộc chiến tranh trên đất liền đòi hỏi nhiều cân nhắc tính toán kỹ lưỡng từ các bên trước khi có thể xảy ra, thì trên biển “thật dễ bị lâm vào một sự đối đầu quân sự nghiêm trọng mà chẳng bên nào dự định cả”. Bài báo cũng nhấn mạnh rằng một khi Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia hạt nhân với dân số chung chiếm 1/3 dân số trái đất, chạm trán nhau thì hậu quả khôn lường. Chết bớt là vừa vì nạn nhân mãn, nhân loại đang thiếu ăn trầm trọng, làm sao giải quyết?

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-19-2011, 06:48 PM
Nước VNCH hùng mạnh đang từ từ ló dạng

Sách lược áp-đặt mô hình những nước chư-hầu của Mỹ là: “Muốn ăn một chiếc bánh Mì tay phải dính bột” đặc biệt, trong giai đoạn cuối thập niên Eurasia (1920-2020) biến đổi Miến Điện và Việt Nam từ 2 thể chế độc tài quân phiệt và ĐCS, bằng chỉ những người can đảm dấn thân trong tù tội mới đủ tư cách lãnh đạo đất nước, còn như nhửng cái gọi là chính phủ lưu vong như quốc trưởng Nguyễn Khánh, rồi thủ-tướng Lâm Nguơn Tánh chỉ vui chơi hay để thúc dục Việt Nam một điều gì như gấp gấp mua Boeing, sản phẩm, trao đổi kinh tế …

CIA đã huyền biến trong nội bộ của Đảng CSVN, từ những nhân vật mà họ muốn bắt nhốt như Bác sĩ Nguyễn Đan Quế thì bị cú điện thoại từ cấp lãnh đạo Công An bảo phải thả ra ngay. Bác sĩ Quế cũng là người mà sau 30/4 Lê Đức Thọ có lịnh CIA không được nhốt mà phải đợi chương trình ODP sẽ qua Mỹ, nhưng BS Quế lại muốn như bác-sỉ Mandela nên bị bắt nhốt, nhưng con bài nầy hết sáng chói rồi, quay qua một nhóm trí thức gồm phần nhiều là luật sư, mà người được chú tâm là Cù Huy Hà Vũ phải bị bắt nhốt để có một cái resumé tốt, sau nầy soạn thảo một bộ pháp lịnh về kinh tế để Mỹ ồ ạt bỏ vốn đầu tư.

Hoa kỳ xếp đặt, ngày 1-11-2011, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở thành phố New York, Trung tâm Luật bảo vệ môi trường (EDLC – Environmental Defender Law Center) cho phổ biến đến tất cả các đại biểu của 196 nước thành viên một thông cáo báo chí cho biết Ủy ban Giám sát việc bắt giữ vô căn cứ (Working Group on Arbitrary Detention ) của Liên Hiệp Quốc đã phát hiện việc bắt giam nhà hoạt động xã hội: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ là «vô căn cứ» và «vi phạm Điều 9 và Điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một thành viên». Ủy ban yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ và «cho ông quyền được hưởng bồi thường». Đây là phản ứng chính thức của Liên Hiệp Quốc (thời buổi nầy Hoa Kỳ dùng cái bàn LHQ để áp đặt TQ cũng như mọi nước trên thế giới phải tuân thủ – Nếu không chịu ăn củ Cà rốt thì bị Cây-gập đập vào đít. Cái kiểu chơi cha người ta và rất trật thượng của Mỹ như khi gây chiến Iraq lần-2: Các nước cho rằng Mỹ không nên đem quân vào Iraq, 2 nước láng giềng Mexico và Canada cũng bảo rằng không nên, Ông TTK/LHQ Kofi A Annan tuyên bố đem quân vào Iraq là bất hợp pháp, nhưng Mỹ cứ đem quân vào thì ai dám làm gì nhau? Chỉ vì vòi xăng, vì thế tôi dám quả quyết TQ không dám làm gì về nguồn lợi dầu khí trên Biển Đông của VN).

Hoa Kỳ tạo nên một tin mừng cho người dân Mỹ gốc Việt quan tâm đến tình hình đất mẹ, cho tất cả những ai ủng hộ thái độ ngay thẳng yêu nước thương dân của ông Hà Vũ; cho bà Dương Hà, người bạn đời của ông; và cho mọi người thân trong gia đình rộng lớn của ông. Đồng thời, nó cũng là một tin vui cho hàng nghìn trí thức, văn nghệ sỹ, thanh niên ngưỡng mộ, tin yêu ông, đã ký tên đòi nhà nước phải tôn trọng luật pháp và đối xử công bằng với ông, một trí thức yêu nước vừa có tâm lại có tầm, vì họ thấy rằng đất nước đang cần những người như ông. Thật không thể chê được mưu lược có kế hoạch ước tính trước của phản tình báo Mỹ, dù rằng Miến Điện sẽ là nước đàn em của Việt Nam sẽ bảo trợ (sponsor) cho Miến Điện về kinh tế, quân sự… sau nầy, nhưng lại thể hiện hành động thả tù lương tâm trước VN.

Đây quả là một tin mừng cho mọi người Việt Nam quan tâm đến tình hình đất nước, cho tất cả những ai ủng hộ thái độ ngay thẳng yêu nước thương dân của ông Hà Vũ; cho bà Dương Hà, người bạn đời của ông; và cho mọi người thân trong gia đình rộng lớn của ông. Đồng thời, nó cũng là một tin vui cho hàng nghìn trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên ngưỡng mộ, tin yêu ông, đã ký tên đòi nhà nước phải tôn trọng luật pháp và đối xử công bằng với ông, một trí thức yêu nước vừa có tâm lại có tầm, vì họ thấy rằng đất nước đang cần những người như ông.

Ngược lại, đây là một tin buồn rất đáng lo âu cho giới cầm quyền Việt Nam, trước hết cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người mà dư luận đang đặt ra nghi vấn là đã ra lệnh bắt giữ ông Cù Huy Hà Vũ vì ông đã dám nhiều lần lên tiếng báo động về nguy cơ thảm họa chất độc đối với cuộc sống của nhân dân do việc khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên gây ra.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, những người đã hứa hẹn thực hiện một nền pháp chế nghiêm minh lúc nhậm chức, sẽ trả lời ra sao trước cáo buộc và yêu cầu của Liên Hiệp Quốc? Thì từng bước sẽ thi hành như diễn tiến CIA cố vấn. Và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cùng đại diện Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc sẽ chống chế ra sao, sau khi ông Minh vừa lớn tiếng thuyết giảng về tôn trọng nhân quyền tại diễn đàn quốc tế lớn này? Hoa Kỳ đưa vào vị thế gộng kềm bắt buộc Mafia VN phải tuân thủ thi hành.

Đã đến thời điểm Việt Nam từng bước đi vào quỹ-đạo của Mỹ là trở thành một nước VNCH, và đây là những lời mở đầu: Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để cải thiện thành tích nhân quyền nếu muốn tăng cường các mối quan hệ với Washington.

Trong bài diễn văn đọc tại Trung tâm Đông Tây ở Hawaii hôm thứ 5 về chính sách Á châu, nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ nói:

“Chúng tôi đã nói rõ với Việt Nam là nếu muốn chúng tôi phát triển một mối quan hệ đối tác chiến lược, như sự mong muốn của cả hai nước, Việt Nam phải làm nhiều hơn nữa để tôn trọng và bảo vệ các quyền của công dân của mình.”

Theo lịch trình đã được ấn định, bà Clinton hội kiến Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang xế ngày thứ 5 tại Honolulu, trong lúc Hoa Kỳ và Việt Nam kết thúc cuộc đối thoại thường niên về vấn đề nhân quyền.

Theo tin của hãng thông tấn AP, tại cuộc đối thoại trong hai ngày thứ Tư và thứ Năm ở Washington, Hoa Kỳ đã nêu lên những mối quan tâm về sự hạn chế của giới hữu trách Việt Nam đối với quyền tự do truyền thông và những vấn đề nhân quyền khác mà Washington xem là một chướng ngại cho việc xây dựng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước cựu thù.

Một giới chức Mỹ tham gia cuộc đối thoại cho biết cuộc thảo luận đã diễn ra “với tinh thần tôn trọng lẫn nhau nhưng rất thẳng thắn.” Đôi bên đã đề cập tới các vấn đề tù nhân chính trị, tự do tôn giáo của các tín đồ Cơ đốc giáo và Phật giáo, và những sự hạn chế đối với giới luật sư và xã hội dân sự.

Phía Hoa Kỳ cũng nêu lên việc Hà Nội hạn chế truy cập internet và sử dụng mã độc để phá hoại các kho dữ liệu trên máy tính của các nhà hoạt động nhân quyền.

Ngoài ra, phía Hoa Kỳ cũng nêu lên những trường hợp cụ thể của những người bị giam vì lý do chính trị, trong đó có Linh mục Nguyễn Văn Lý, là một nhà tranh đấu kỳ cựu năm nay 65 tuổi và đang thọ án tù 8 năm vì những hoạt động tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

Linh mục Lý được tạm thả hồi năm ngoái sau khi bị đột quị ba lần, nhưng lại bị đưa vào nhà tù trở lại hồi tháng 7. Giới chức Mỹ tham dự cuộc họp ở Washington nói rằng phía Việt Nam đã không trả lời thỏa đáng về những câu hỏi mà phía Hoa Kỳ đã nêu ra về trường hợp của linh mục Lý.

Cho đến ngày thứ Năm, các giới chức trong phái đoàn Việt Nam vẫn chưa bình luận gì với các cơ quan truyền thông Tây phương, nhưng trước đây chính phủ Việt Nam vẫn thường nói rằng họ không hề bỏ tù hay sách nhiễu người dân vì quan điểm chính trị mà chỉ giam cầm những ai vi phạm pháp luật.

Một ngày trước đó, một liên minh quốc tế của các tổ chức nhân quyền cho biết năm nay Việt Nam đã siết chặt hơn nữa những biện pháp hạn chế đối với báo giới và những người sử dụng internet.

Liên minh, trong đó có Hội nhà báo không biên giới, cho biết 20 nhà báo, blogger và những người hoạt động tích cực đang bị cầm tù ở Việt Nam vì đã nói về tình trạng nhân quyền bị chà đạp.

Tổ chức Human Rights Watch nói rằng gần 500 tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam ở Việt Nam.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-21-2011, 01:51 AM
Tại sao Obama cảnh báo Ôn Gia Bảo về Biển Đông ?

Siêu chính phủ (Permanent Government) là nhóm người điều khiển chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Người viết thiết tưởng phải nói lên những chứng liệu lịch sử đả xảy ra trên lục lộ đồ Eurasia: Cái thế lực nầy như bà phù thủy dư thừa khả năng làm đảo lộn ngay cả chân lý để hoàn thành một mục tiêu như: Khi cần lần đầu tiên trong lịch sử, một tổng thống da màu biểu-tượng là nền dân chủ tuyệt vời của nước Mỹ để có sức nặng khi đến thời điểm (decent interval) phải hù-doạ răn-đe Trung Quốc.

Làm sao trong mùa tranh cử Obama phải phải hạ trước tiên là Mc Cain và Bà Hillary đang nổi tiếng hơn Obama về mọi mặt, như phải đảo lộn chân lý: (1) da Đen thắng da Trắng – (2) nhà nghèo thắng nhà giàu – (3) vô danh tiểu tốt thắng nổi danh – (4) tiểu bang nhỏ thắng TB New York – (5) thiếu niên TNS thắng thâm niên TNS – (6) chưa từng ở Bạch Ốc thắng người 8 năm đả ở Bạch Ốc… Nhưng điều cốt yếu quan trọng là phải tiếp tục giữ Robert Gate là Bộ trưởng QP, vì có nguy cơ phải đụng độ chiến tranh thứ 3 tại Biển Hoàng Hải khi HKMH Washington tập trận ngay ao nhà của Trung Quốc, sẽ xảy ra vào thời điểm roll-back 2010? Việc nầy không xẩy ra vì chỉ có một tổng thống 1000 lần dân chủ da màu Obama cương quyết …

Tháng rồi, ngày cuối cùng của hội nghị thượng đỉnh Đông Á ở Bali, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã gặp riêng Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Một giới chức cao cấp Hoa Kỳ cho biết hai ông đã thảo luận căng thẳng khu vực liên quan đến Biển Đông như hàm ý theo quỹ-đạo của Mỹ, đúng lịch trình của Siêu chính phủ 10 năm sau cùng (Eurasia 1920-2020) để đi đến hậu quả: Các nước có chủ quyền thềm lục địa được LHQ phán quyết “làm-chủ” Trung Quốc “quản-lý” khai thác với giá công nhân rẻ mạt, và Mỹ “lảnh-đạo” độc quyền lo việc buôn bán sản phẩm bằng dollar Xanh.

Cuộc gặp mặt vừa qua chỉ được loan báo vào giờ chót, trước khi hội nghị thượng đỉnh Đông Á bắt đầu phiên khoáng đại và bữa ăn trưa có làm việc. Cả hai nhà lãnh đạo đều không tuyên bố gì trước và sau khi họp. Nhưng Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Tom Donilon cho biết họ nói trong vòng thời gian ngắn về vấn đề Biển Đông nhằm tiếp tục cuộc trao đổi ngày hôm trước, và sắp tới sẽ có thảo luận thêm giữa cấp lãnh đạo. Dĩ nhiên TQ có quá nhiều rắc rối ngay chính nội bộ, không kể Mỹ có kế hoạch từ thế kỷ trước bao vây TQ tứ phía không thể cựa quậy nổi.

Cũng vừa rồi, phát biểu trước lãnh đạo ASEAN, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói các giải pháp không nên có sự can dự của “các thế lực bên ngoài dưới bất kỳ chiêu bài nào.” Đó chỉ là những câu nói để nói mà thôi, không có một chút trọng lượng nào; Phát biểu này được nhiều người cho là muốn nhắm vào thỏa thuận quân sự mới đây giữa Hoa Kỳ và Australia, qua đó sẽ có 2.500 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đóng tại phía bắc chạm tuyến Australia, sau khi Mỹ đem quân vào Iraq để nắm giữ vòi xăng ở Trung Đông bây giờ rút quân về làm tiền trạm tại Úc Châu để giữ vòi xăng ĐNÁ, cho nên Việt Nam mới có những hành động ngang ngược với TQ bắt đầu 2010 Roll-back.

Nói chuyện với báo chí hôm thứ Bảy, Cố vấn Donilon tái xác nhận Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong tranh chấp Biển Đông, và tin rằng vấn đề cần phải được giải quyết một cách ôn hòa là theo trục lộ đồ đã ước tính từ thế kỷ 20: Vì “Hoa Kỳ có lợi ích về tự do hàng hải, luồng thương mại tự do, và giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Hoa Kỳ không đòi chủ quyền, không đứng về bên nào trong các nước đòi chủ quyền, nhưng với tư cách là một cường quốc hải dương toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích khi thấy các nguyên tắc này được áp dụng một cách rộng khắp.”

Ông nói ông không muốn bàn cụ thể việc đòi chủ quyền của bất kỳ nước nào, nhưng lưu ý rằng vấn đề Biển Đông đã được các nước ASEAN nêu lên trong cuộc họp vừa qua.

Một nhà báo hỏi Cố vấn Donilon liệu “lời lẽ gay gắt” mà Tổng thống Obama đưa ra trong chuyến đi châu Á Thái Bình Dương lần này có làm một số người trong giới quân sự Trung Quốc cho là Hoa Kỳ có ý định cô lập hay ngăn chận Trung Quốc hay không, đây là câu nói rất lý thú mà siêu chính phủ đả lường trước và TQ cũng thừa hiểu sẽ giải đáp ra sao cho đở quê dạng vì ương ngạnh sẽ bị cô lập ngay.

Ông Donilon trả lời rằng Tổng thống Obama vẫn nhắc đi nhắc lại ông hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình và thành tựu kinh tế của Trung Quốc, và những gì tổng thống nói trong chuyến đi này “không liên quan gì đến cô lập hay ngăn chận bất cứ ai.” Vì thế giới cần một nền văn minh như TQ, mà TQ có trách nhiệm phải chia xẻ như sự nóng dần của trái đất, bịnh hoạn bằng những siêu vi khuẩn cần giải quyết, thiên tai, nhân mản vì thiếu thực phẫm, hạn hán …

Phản ứng của ASEAN về việc Mỹ đóng quân tại Australia.

Loan báo của Tổng thống Barack Obama về chương trình đóng quân tại Australia đã gây nên nhiều phản ứng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Indonesia, nơi những tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông đang là một vấn đề lớn. Bộ trưởng Thông tin Philippines, ông Ricky Carandang, hoan nghênh nguồn tin theo đó Mỹ sẽ bố trí 2.500 nhân viên quân sự tại Australia trong mấy năm sắp tới:

“Nếu quí vị hỏi tôi một cách tổng quát, rằng tôi nghĩ sao về việc gia tăng tham gia của Hoa Kỳ tại Australia và khu vực này, thì câu đáp sẽ là chúng tôi xem hiện diện của người Mỹ và việc tham gia trở lại của họ tại nơi này rút cục là một sức mạnh giúp ổn định.”

Philippines từ lâu cổ súy việc tăng thêm hiện diện quân sự của Mỹ, như một đối trọng với sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc và tình trạng đụng độ nhiều hơn trong vùng tranh chấp tại Biển Đông.

Chủ tịch ASEAN và cũng là Ngoại trưởng Indonesia, ông Marty Natalegawa, nói Indonesia không muốn thấy vùng Đông Nam Á bị tổn hại giữa sự cạnh tranh của các nước lớn.

Ông nói, ông muốn triển khai một quy tắc hành xử quân sự, phù hợp với thỏa ước Thân Hữu và Hợp Tác, gọi tắt là TAC, kêu gọi tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào những vấn đề nội bộ của các thành viên khác:

“Chẳng hạn, quy tắc này bao gồm chuyện từ bỏ sử dụng vũ lực và ưu tiên cho việc dàn xếp hòa hoãn các vụ tranh chấp, chính xác hơn là những chuẩn mực của TAC, lâu nay vẫn điều hành việc bang giao giữa các nước ASEAN”.

Hôm thứ Tư, các giới chức Trung Quốc đã đặt câu hỏi là liệu việc đóng quân của Hoa Kỳ có nằm trong lợi ích tốt nhất của các nước trong khu vực hay không. Tuy nhiên, tại Bắc Kinh hôm thứ Năm, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vị Dân đã có một đáp ứng mực thước hơn khi được hỏi về liên hệ quân sự Mỹ-Úc:

“Liên quan đến bang giao diễn ra giữa các nước khác, Trung Quốc không can thiệp. Nhưng Trung Quốc mong rằng trong lúc triển khai các mối quan hệ với nhau, các nước cũng nên quan tâm đến các nước khác, những lợi ích, hòa bình và ổn định của khu vực”.

TT Obama đưa Australia keo sơn vào cuộc họp thượng đỉnh Đông Á. Nâng cấp liên minh Úc-Mỹ đã có từ 60 năm nay được vùng này cho là một thông điệp rõ ràng của Washington gửi cho Bắc Kinh.

Sự chuyển hướng chính sách ngoại giao của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tái khẳng định “liên minh không thể phá vỡ được” của Washington với Australia trong một bài phát biểu trước Quốc hội Australia tại Canberra hồi hôm qua. Ông Obama tuyên bố trọng điểm ngoại giao của Hoa Kỳ nay sẽ chuyển từ cuộc chiến chống khủng bố qua các thách thức về kinh tế và an ninh trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Ông là vị tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ nói chuyện với các nhà lập pháp tại thủ đô của Australia. Trong lời giới thiệu Tổng thống Obama trước phòng họp Quốc Hội Australia, Chủ tịch Quốc Hội Australia nói bài diễn văn hôm nay là một dịp quan trọng trong lịch sử Quốc hội Australia.

Tổng thống Obama đã được các nhà lập pháp Australia đón tiếp một cách nồng nhiệt. Ông nói rằng liên minh an ninh song phương là “không thể phá vỡ” được và những mối liên kết giữa Hoa Kỳ và Australia rất sâu xa.

Nhà lãnh đạo Hoa Kỳ nói: “Từ những đường hào của Thế chiến thứ nhất cho đến những đồi núi ở Afghanistan, người Australia và người Mỹ đã sát cánh bên nhau. Chúng ta đã cùng chiến đấu, chúng ta đã cùng dâng hiến mạng sống trong mỗi một cuộc xung đột từ 100 năm qua, từng cuộc xung đột một. Tình đoàn kết đã chống đỡ cho chúng ta vượt qua một thập niên khó khăn. Chúng ta sẽ không bao giờ quên được các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 đã cướp đi sinh mạng không những của người Mỹ, mà cả những người từ các quốc gia khác trong đó có Australia”.

Ông Obama đọc bài diễn văn trước Quốc Hội ở Canberra 1 ngày sau khi loan báo Hoa Kỳ sẽ bố trí máy bay quân sự và 2 ngàn 500 binh sĩ thủy quân lục chiến ở bắc bộ Australia, một quyết định được nhiều chuyên gia trong vùng coi như là gửi một thông điệp rõ ràng cho Trung Quốc.

Bắc Kinh đã đáp lại một cách lạnh lùng, và nhấn mạnh rằng việc điều quân này “có thể không thích hợp cho lắm”.

Tổng thống Obama hoan nghênh sự kiện Trung Quốc nổi lên như một cường quốc kinh tế và quân sự, nhưng nói rằng ông muốn có thêm sự giao tiếp giữa các lực lượng Hoa Kỳ và Trung Quốc “để ngăn tránh những vụ hiểu lầm.”

Tuy nhiên, ông hứa sẽ mở rộng tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong vùng châu Á Thái Bình Dương và “phô bầy lực lượng và ngăn cản những mối đe dọa hòa bình” ở khu vực này của thế giới.

Tổng thống Hoa Kỳ nói: “Trong tư cách là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới và là nơi tập trung hơn phân nửa nền kinh tế toàn cầu, khu vực châu Á Thái Bình Dương là cấp thiết cho việc đạt được ưu tiên cao nhất của tôi và đó là tạo dựng công ăn việc làm và cơ hội cho dân chúng Mỹ. Với phần lớn lực lượng hạt nhân của thế giới và khoảng phân nửa nhân loại, châu Á sẽ góp phần lớn trong việc xác định liệu thế kỷ sắp tới được đánh dấu bởi xung đột hay là hợp tác”.

Tổng thống Obama cũng nói các vụ vi phạm nhân quyền tiếp tục ở Miến Điện, và ông kêu gọi các quốc gia xây dựng sự hỗ trợ dành cho các quyền cơ bản của tất cả công dân.

Ông nêu ra rằng mặc dầu lãnh tụ dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi hiện không còn bị quản thúc tại gia nữa và một số tù nhân chính trị đã được phóng thích, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục lên tiếng chống lại những vụ vi phạm nhân quyền.

Washington đã chuyển trọng tâm chú ý về mặt ngoại giao từ Trung Đông và cuộc chiến chống khủng bố qua các thách thức về an ninh và vận hội kinh tế trong vùng châu Á Thái Bình Dương.

Tổng thống Hoa Kỳ nói vào lúc Hoa Kỳ chấm dứt sự can dự quân sự ở Iraq và kết thúc dần các hoạt động ở Afghanistan, sẽ có một số cắt giảm về chi phí quốc phòng, nhưng ông hứa sẽ duy trì ảnh hưởng của nước Mỹ trong vùng châu Á Thái Bình Dương.

Tiếp theo bài diễn văn trước Quốc hội Australia ở Canberra, tổng thống sẽ đáp máy bay đến thành phố Darwin miền bắc trước khi tham dự hội nghị thượng đỉnh 18 nước Đông Á ở đảo Bali của Indonesia.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-23-2011, 03:29 PM
Mỹ kích động hận thù dân tộc giữa VN, TQ

Hoa Kỳ có mưu lược gây hận thù giữa các dân tộc láng giềng với nhau để thủ lợi, bài nầy viết về khơi tại mối hiềm khích truyền thống giữa hai dân tộc Việt Tàu do 2 tu- chánh áng “Cooper-Church 1970” và “Case-Church 1973” Hoa Kỳ di tản chiến lược về Hawaii, bằng biến cố đầu tiên xúi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng-Sa đầu năm 1974.
1) Cooper-Church Amendment From Wikipedia, the free encyclopedia
The Cooper-Church Amendment was introduced in the United States Senate during the Vietnam War. The proposal of the amendment was the first time that Congress had restricted the deployment of troops during a war against the wishes of the president.[1]
The amendment sought to:
1. End funding to retain U.S. ground troops and military advisors in Cambodia and Laos after 30 June 1970
2. Bar air operations in Cambodian airspace in direct support of Cambodian forces without congressional approval
3. End American support for Republic of Vietnam forces outside territorial South Vietnam.
The amendment was presented by Senators John Sherman Cooper and Frank Church and attached to a major bill, the Foreign Military Sales Act (HR 15628). After a seven week filibuster and six months of debate, the amendment was approved by the Senate by a vote of 58 to 37 on 30 June 1970. The bill failed in the House of Representatives, which opposed inclusion of the amendment by a vote of 237 to 153. President Richard M. Nixon threatened to veto the bill if it contained the Cooper-Church provisions, and the foreign assistance bill was subsequently passed without it.
A revised Cooper-Church amendment, Public Law 91-652, passed both houses of Congress on 22 December 1970, and was enacted on 5 January 1971, although this version had limited restrictions on air operations and was attached to the Supplementary Foreign Assistance Act of 1970. By that time, U.S. ground forces had already officially withdrawn from Cambodia, while U.S. bombing missions in Cambodia (Operation Freedom Deal) continued until 1973. The Nixon administration denounced all versions of the amendment, claiming that they harmed the military effort and weakened the American bargaining position at the Paris peace talks.
Author David F. Schmitz stated that the amendment was a landmark in the history of opposition to the war, congressional initiatives to bring the fighting to an end, and efforts to control executive power in foreign policy

(2)Case–Church Amendment From Wikipedia, the free encyclopedia
The Case-Church Amendment was legislation approved by the U.S. Congress in 1973 that prohibited further U.S. military activity in Vietnam, Laos and Cambodia. This ended direct U.S. military involvement in the Vietnam War, although the U.S. continued to provide military equipment and economic support to the South Vietnamese government. It is named for its principal co-sponsors, Senators Clifford P. Case (R-NJ) and Frank Church (D-ID). The Amendment was defeated 48-42 in the U.S. Senate in August 1972, but revived after the 1972 election. It was reintroduced on January 26, 1973 and approved by the Senate Foreign Relations Committee on May 13.[1] When it became apparent that the Amendment would pass, President Richard Nixon and Secretary of State Henry Kissinger, acting on a suggestion by California Senator Alexander Ware,[2] lobbied frantically to have the deadline extended.[3] It passed the United States Congress in June by a margin of 278-124 in the House, and 64-26 in the Senate.[4] Although U.S. ground forces had been withdrawn earlier under a policy called Vietnamization, bombing continued until August 15, 1973, the deadline set by the Amendment.

Mối đe dọa mang tên Trung Cộng
Những biến cố du côn nầy đều nằm trong ống kính của một siêu thế lực Mỹ gọi là Permanent Government dàn dựng ngay sau khi Nixon và Mao gặp nhau 1972 đi đến kế tiếp là TQ xua quân xâm chiếm Hoàng Sa dưới sự chứng kiến kiến của Hạm đội Mỹ cho đến cao điểm … Vào cuối năm 2007, Trung Quốc thành lập một đơn vị hành chính là huyện Tam Sa để quản lý Trường Sa: Vào lúc thời điểm nầy Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí “di tản chiến lược” for overhauling the damage control và ngầm giao cho Nhựt trông coi, đây là giai đoạn trước thời điểm Mỹ roll-back 2010.

Bản chất chính quyền Đại Hán
Chưa bao giờ bằng lúc này người Việt ta trong và ngoài nước cần tìm hiểu sâu sắc bản chất của chính quyền Đại Hán: Thời gian 1970-2010 là thời điểm Hoa Kỳ giăng bẩy lòng tham khao khát dầu khí của Trung Quốc nhưng chẳng bao giờ Mỹ để cho TQ nắm chặc vòi xăng, đó là lý do Hoa Kỳ phải tách rời 8 nước Cộng Hoà Liên Xô vì nơi đó có vô vàng dầu khí đang ẩn mình nằm sâu dưới lớp tuyết, nắm chặc Trung Ðông dù số lượng dầu xắp cạn và đời nào Hoa Kỳ để cho TQ tung hoành trên Biển Ðông TBD, để nắm độc quyền về xăng dầu trên thế giới qua bửu-bối tối huệ quốc Freedom Support Act cho những nước mà Mỹ để cặp mắt phù thủy vì America-first
Báo Trung Quốc cảnh báo Việt Nam không nên khiêu khích nước họ, Truyền thông nhà nước Trung Quốc cáo buộc Việt Nam ngày càng tỏ ra quyết liệt và táo bạo hơn bởi có sự ủng hộ từ Hoa Kỳ: Dỉ nhiên bắt đầu 2010 đến 2020, 10 năm trù dập TQ, đây cũng là kế hoặch nằm trong lộ trình roll-back của Mỹ để đưa Ấn Độ thế vị trí TQ mặc dầu Úc là nước đồng minh keo sơn với Mỹ, nhưng kẹt nước Úc tuy to lớn nhưng rất yếu đuối.

TT Obama hứa Mỹ giữ vai trò mạnh trong các vấn đề châu Á
Tổng thống Obama nói ông đã nói rõ trong suốt thời gian ông nhậm chức vừa qua là Hoa Kỳ có ý định giữ một vai trò lãnh đạo ở châu Á: Ðúng vào thời điểm decent interval “Roll-Back” bất cứ tổng thống nào cũng phải tỏ ra cứng cựa với TQ và buộc TQ phải vào khuôn khổ là nhượng bộ tại LHQ bằng tuân thủ những điệu lệ COC triệt để áp dụng tại Biển Ðông. Vì thế mà Mỹ đành phản bội đồng minh là VNCH và Ðài Loan cho quyền lợi tối thượng của Mỹ. TQ nên hiểu rỏ mà nên tuân thủ những quy tắc ứng sử COC do các nthành viên LHQ soạn thảo ra.
Wall Street Journal: Mỹ cứng rắn trước thái độ bắt nạt của TQ
Bài bình luận đăng trên tờ Wall Street Journal có đề cập đến thông điệp mạnh của Hoa Kỳ đối với cuộc tranh chấp biển Đông: Tiếng nói chính thức của một thế lực ghê gớm sau hậu trường qua sự tỏ bày bằng tờ báo Wall Street, TQ nên khôn ngoan để khỏi bị chia năm xẻ bảy.
Hoa Kỳ vẫn xem Biển Đông thuộc về quyền lợi quốc gia.
Hoa Kỳ mong giải quyết các tranh chấp tại châu Á Thái Bình Dương trên cơ sở đa phương: Bằng lời tuyên bố chính thức của Bà BTNG Hillary Clinton đúng vào năm 2010 “trù dập TQ” từ chính trị, kinh tế đến quân sự nếu cần để cô lập TQ.

Từ biển Tây Hàn Quốc đến biển Đông Việt Nam.
Cuộc tập trận Mỹ – Nam Triều Tiên đã gặp phải sự chống đối của chính phủ ở Bắc Kinh: Hoa Kỳ thực sự muốn dập TQ sau khi TQ chơi bắn đạn thật bằng sẳn sàng ứng chiến, 3 chiếc tìm thủy đĩnh tối tân nhứt sẽ bình địa TQ trong chốc lát nếu TQ cả gan đánh chìm HKMH của Mỹ. Ðó là nguy cơ lần thứ nhứt, nhưng TQ đã khôn ngoan tự kềm chế? Nguy cơ lần thứ hai, TQ toan đem giàn khoan tối tân có thể khoan dưới độ sâu 3000 thước, Hoa Kỳ ra lịnh cho tướng Nguyễn Chí Vịnh bắn đạn thật không cho TQ đem giàn khoan đóng cộc trong 200 hải lý trong thềm lục địa VN, và TQ biết sợ nên co rút lại. Theo ước tính Hoa Kỳ đả cà Credit Card cho công nhân Liên Xô sản xuất vũ khí tối tân cho VN vừa đủ để làm thất bại âm mưu TQ dám gây chiến.
TQ tiếp tục đả kích ‘âm mưu can thiệp của Hoa Kỳ’ ở Biển Ðông.
Ngoại trưởng Clinton tuyên bố rằng việc giải quyết một cách hòa bình vụ tranh chấp chủ quyền ở biển Ðông là cần thiết: TQ không còn con đường nào khác phải mềm nhủn như Bún nếu không muốn thế giới cô lập mình.
TQ cảnh cáo Mỹ không nên can thiệp vào vấn đề Biển Ðông.
Trung Quốc tố cáo Hoa Kỳ tìm cách “khơi lại hận thù” về chủ quyền các hòn đảo ở Biển Đông: Không khơi sao được! đây là cái bẫy đã giăng ra hơn ba thập niên qua, bây giờ mới xập để bắt con Heo-rừng đần-độn!

Việt Nam mạnh mẽ ủng hộ Hoa Kỳ quay lại Đông Nam Á
Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, cho biết rằng Việt Nam ủng hộ việc Hoa Kỳ quyết định quay lại Đông Nam Á và Đông-Á: Hoa Kỳ xem VN như một nước nhược tiểu, làm con nuôi như con Ó-Con đã được nuôi dưỡng đúng cách của loài Ó-Mẹ là hành hạ con mình trong 20 năm gọi là thù địch (hostility 1975-1995 – đau đớn trong nghèo khó, phải ăn Bo Bo trong khi có một vựa lúa phi nhiêu, giống như con Ó-Mẹ phải mổ những lông chim, cỏ rơm mềm bỏ xuống đất cho Ó-Con rên la vì da thịt non nớt phải va chạm hằng ngày vào những viên đá nhỏ chêm-đệm chung quanh ổ, cho đến khi đủ lông đủ cánh rồi mới quăng Ó-Con xuống đất để mưu sinh) phải nhờ Mỹ để lấy lại biển đảo đã mất và quyết theo Mỹ để phát triển một nước VNCH thống nhứt trong thịnh vượng dưới cái Dù của Mỹ.
Tướng Nguyễn Chí Vịnh: VN đủ khả năng ngăn chặn bất kỳ thế lực nào.
Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cảnh báo rằng Việt Nam có “đủ mọi khả năng” để ngăn chặn bất kỳ thế lực nào chống lại nước mình: Dĩ nhiên VN có vũ khí đặc biệt mà chỉ có tướng Vịnh và CIA biết.
Việt Nam giữ nguyên kế hoạch khai thác dầu khí ở Biển Đông.
Hoạt động khai thác-thăm dò dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông nằm trong khu vực chủ quyền của VN chiếu theo Công ước LHQ về Luật Biển: VN cứng cựa nhờ Mỹ bảo đảm vùng nầy là của VN gần bờ biển Nha Trang Tuy Hoà.
Đảng Việt Tân bênh vực vai trò trong các cuộc biểu tình chống TQ.
Giáo sư Thayer cho rằng tinh thần chống TQ trong nhân dân không phải là mối đe dọa mà còn có lợi cho công tác đối ngoại của Hà Nội: Ông Thayer nầy được đặt mở-hàng cho chính sách Mỹ về phần mềm.
Philippines chỉ trích TQ không đưa vấn đề Biển Đông ra Tòa án Quốc tế.
Philippines nói quyết định của Trung Quốc có thể khiến người ta nghi ngờ về tính hợp lệ của các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh: TQ rất sợ đưa ra LHQ sẽ bị thua kiện.
Philippines đề nghị để LHQ làm trọng tài giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Trung Quốc khăng khăng muốn giải quyết các tranh chấp chủ quyền với từng nước riêng rẽ, theo chiến lược ‘chia để trị’: Dĩ nhên chia bó đũa ra từng chiếc thì dể bẻ gãy hơn.
Philippines, Trung Quốc cam kết duy trì ổn định ở Biển Đông.
Vụ tranh chấp chủ quyền giờ đây đã trở thành quan trọng hơn vì có sự gia tăng của những hoạt động thăm dò dầu khí dưới đáy biển: Thế giới cần nhu cầu xăng dầu, nên đang hối thúc giải quyết biển đông gấp hơn dự trù.
Philippin tỏ ra thân thiện nhưng kiên quyết trong vụ giằng co với TQ về tranh chấp lãnh thổ
Tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường ‘những gì của chúng ta là của chúng ta’: Khác VN, Philippine dựa vào sự cam kêt của Mỹ nên rung đùi hưởng lợi.
Bà Clinton tái khẳng định sự cam kết của Mỹ đối với Philippines giữa vụ tranh chấp hải đảo
Ngoại trưởng Clinton nói Hoa Kỳ và Philippin sẽ tổ chức thao diễn hải quân chung vào cuối tháng này trong vùng biển phía tây Manila: Hoa Kỳ quyết bảo vệ Philippine là vì quyền lợi của Mỹ trước hết.
Hoa Kỳ cam kết bảo vệ Philippines trong vụ tranh chấp với Trung Quốc.
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nói nước ông sẵn sàng đứng dậy đối phó với những ‘hành động hiếu chiến’ trong vùng: Dĩ nhiên TQ sẽ rút cổ lại, từ bỏ hành động côn đồ.
Philippines mưu tìm hậu thuẫn của Mỹ để đối chọi với Trung Quốc.
Philippines muốn Hoa Kỳ cam kết hỗ trợ trong trường hợp xảy ra chiến sự với Trung Quốc: Philippine đả có sự bảo đảm hơn VN còn gì mà phải lo.

TQ kêu gọi Việt Nam xoa dịu dư luận về vụ tranh chấp Biển Ðông
Một giới chức quân sự cao cấp của Trung Quốc hối thúc Việt Nam xoa dịu dư luận trong nước và tránh làm gia tăng căng thẳng: Bây giờ TQ mới thắm nên đổi thái độ hoà hoản và chính quyền VN mới trấn áp biểu tình trong những tuần qua.
Viện Lowy: Biển Ðông là điểm nóng chiến lược tại Đông Á.
Viện Lowy khuyến cáo rằng tinh thần quốc gia và những tranh giành tài-nguyên đang đổ thêm dầu vào lửa trong tranh chấp Biển Ðông: Không phải vậy mà vì khan hiếm dầu nên muốn giải quyết sớm hơn, nhưng chỉ có nhửng nước lớn mới có kỷ thuật khai thác dầu mà thôi.
Tranh chấp Biển Đông: TNS McCain đả kích đòi hỏi chủ quyền ‘vô căn cứ’ của TQ.
Thượng nghị sĩ John McCain trở thành người mới nhất kêu gọi Mỹ hỗ trợ các nước Đông Nam Á trong vụ tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông: Sự thật TQ vô cùng thất thế, vì chỉ đơn giản TQ rơi vào cái bẫy của Mỹ đả giăng ra từ bấy lâu nay.

TNS McCain kêu gọi Mỹ đóng vai trò lớn hơn trong vụ tranh chấp Biển Ðông.
Ông McCain nói rằng ông bất bình trước những hành động ngày càng hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông: Dĩ nhiên TNS nào của Mỹ cũng phải nói như vậy vì đó là lời phát ngôn có trong lộ trình đã thiết kế.

Trung Quốc khuyên Hoa Kỳ đứng ngoài trong tranh chấp Biển Đông
Thứ trưởng Ngoại giao TQ nói các nước trong cuộc tranh chấp biển Đông đang ‘đùa với lửa’ và hy vọng ‘lửa này sẽ không dây dưa’ sang Mỹ: Nhóm trẻ làm bộ hù doạ Mỹ nhưng trong bụng rất run-sợ
Trung Quốc chỉ trích thời biểu các cuộc diễn tập quân sự của Hoa Kỳ tại Biển Đông.
Trung Quốc nói thời biểu các cuộc diễn tập của hải quân Hoa Kỳ tại khu vực nhạy cảm Biển Đông là không … Hoa Kỳ chỉ thao dượt vào thời điểm cần thiết để ngăn chận những âm mưu của TQ
Hoa Kỳ-Trung Quốc thảo luận về các tranh chấp ở Biển Đông.
Đô đốc Mullen nói ông quan ngại về tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines trong tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông: Hai nước nầy nếu có xảy ra chiến tranh hay xung đột, nơi đây là chạm tuyến đầu tiên của ngòi nổ chiến tranh.
Hoa Kỳ-Trung Quốc thảo luận các vụ tranh chấp lãnh hải và các vấn đề khác.
Trung Quốc đã đưa ra những lời cảnh báo gay gắt, kể cả việc đe dọa có hành động quân sự để thực thi lời tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông: Dù Hoa Kỳ có những trở ngại nội bộ về kinh tế và Trung Ðông, nhưng TQ cũng không dễ gì ở vị thế thượng phong nên đừng tưởng bở mà bị chia năm xẻ bảy.
Hoa Kỳ sẽ không đứng ngoài lề trong tranh chấp ở Biển Đông.
Chính quyền của Obama nói Hoa Kỳ coi việc giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp ở Biển Đông là mối quan tâm quốc gia: Nhưng nước nào đụng đến quyền lợi America-first thì biết ngay hậu quả!
Tranh chấp Biển Đông: Lập trường đàm phán song phương của Trung Quốc có thể thay đổi?
Trung Quốc mạnh mẽ chỉ trích việc thượng nghị sĩ Jim Webb của Mỹ kêu gọi tiến hành đàm phán đa phương để giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Thượng nghị sĩ Jim Webb là người bảo trợ một nghị quyết được đồng nhất thông qua tại Thượng viện Hoa Kỳ hồi tháng 6 vừa rồi, lên án việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, và kêu gọi một giải pháp đa phương để giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tại Đông Nam Á. Văn phòng Thượng nghị sĩ Jim Webb chiều thứ Tư ra thông cáo báo chí cho hay ông sẽ đi thăm Thái Lan, Singapore, Indonesia và Việt Nam từ ngày 12 tới ngày 25 tháng Tám.
Tại Việt Nam, Thượng nghị sĩ Jim Webb sẽ thảo luận về nỗ lực thăng tiến các quan hệ kinh tế, và cuộc tranh chấp ở Biển Đông, sau khi ông rời VN có thể vụ án Cù Huy Hà Vũ sẽ có nhiều thay đổi để còn nhờ Mỹ giãi bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương và tăng trưởng kinh tế, dù rằng có một trường phái ngoan cố không cần bỏ lịnh bán vũ khí sát thương; nhưng họ có hiểu rằng tàu lặn Kilo và phi cơ tối tân là tiền của Mỹ cà Credit Card cho công nhân LX làm ra hay không? Coi chừng Mỹ mà giận thì ốc vịt không có máy bay tàu lặn đâu nhé? Ðồng thời Mỹ cũng xúi TQ hù doạ VN buộc VN phải nghe theo lời Mỹ (chính trị mà) cho sớm hơn vì tình hình Biển Ðông đang có nhiều biến cố phức tạp có thể xảy ra đụng độ không thể kiểm soát được vì thời điểm decent interval quá gấp rút.
Ðó thấy chưa, Trung Quốc đang triển khai quân lực gần biên giới, thử nghiệm hàng không mẫu hạm đầu tiên, gia tăng hoạt động quân sự Biển Đông (biết đâu CIA Mỹ thúc TQ?) Theo tôi nghĩ Việt Nam nên lợi dụng chuyến viếng thăm của TNS Webb để khẳng định sự độc lập và toàn vẹn của lãnh thổ. Được sự ủng hộ của lập pháp Mỹ sẽ dễ dàng hơn cho chính quyền Hoa Thịnh Đốn hỗ trợ Việt Nam trong việc chống lại bá quyền. Hãy thực tế và dứt khoát với thái độ “đu-dây” hay “đi hàng hai” để dân tộc có được “vận hội mới” với hy vọng theo kịp sự phát triển trong vùng ÐNÁ và trở thành nước lảnh đạo NATO phương đông.
Ông JIM WEBB là một nghị viên HK có dường lối đối ngoại khôn khéo trong vấn đề Biển Đông. Theo tôi nghĩ, lần này Ông ghé thăm VN là một dịp tốt để hai nước Việt-Mỹ tìm biện pháp làm thế nào để vừa bảo vệ đường hàng hải ở khu vực vừa có kế sách cân bằng quyền lực với TQ ở BĐ.
Nhà lãnh đạo thượng viện Mỹ ông Jim Webb Thứ Năm, 11 tháng 8 2011. Là người Việt, nên yêu cầu ông Jim Webb đặt vấn đề với VN, Dân làm chủ, Dân tự do, Dân cần có công ăn việc làm.
Theo chương trình, Thượng nghị sĩ Jim Webb, Chủ Tịch tiểu ban Đông Nam Á-Thái bình dương của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, sẽ gặp các vị nguyên thủ quốc gia và các quan chức đặc trách chính sách đối ngoại, thương mại và quốc phòng của mỗi nước, cùng các nhà ngoại giao Mỹ, các học giả và doanh gia hàng đầu.

Được biết tại Thái Lan, ông Webb sẽ trở thành một trong các giới chức Mỹ đầu tiên gặp các lãnh đạo của chính quyền tân cử dưới quyền Thủ tướng Yingluck Shinawat.

Tại Singapore, ông sẽ thảo luận về các quan hệ song phương, vấn đề chủ quyền biển và các nỗ lực khu vực chống nạn buôn người.

Tại Indonesia và Việt Nam, Thượng nghị sĩ Jim Webb sẽ thảo luận về nỗ lực thăng tiến các quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và hai nước này, ông cũng sẽ thảo luận về các cuộc tranh chấp lãnh hải trong Biển Đông, và các vấn đề an ninh khu vực khác.

Thượng nghị sĩ Jim Webb là người bảo trợ một nghị quyết được nhất trí thông qua tại Thượng viện Hoa Kỳ hồi tháng 6 vừa rồi, lên án việc Trung Quốc sử dụng vũ lực trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông, và kêu gọi một giải pháp đa phương để giải quyết các cuộc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải tại Đông Nam Á.
.
QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-25-2011, 02:49 AM
Thời điểm 1979, Trung Quốc đem quân đánh Việt Nam ở miền Bắc với ý định của họ là đỡ đòn cho Pol Pot của Campuchia, nhưng thực tề do tình báo Mỹ là để cho TQ có cơ hội thí nghiệm sự hiệu quả vũ khí do TQ làm ra để đấu với vũ khí Liên Xô, theo sự gật đầu trên trục lộ trình sách lược của Mỹ, nhưng trong phạm vi sáu tỉnh biên giới mà thôi, trong khi đó B-52 trang bị Bom nguyên tử bay ứng trực để ngăn ngừa TQ làm ẩu. Trong khi hỏa tiễn SAM tối tân bậc nhứt của LX đang bố trí phòng thủ Hà Nội dĩ nhiên là TQ không dám làm phiền Hoa Kỳ để hưởng được viện trợ khoa học kỹ thuật, trở thành siêu cường hạng nhì, tước đoạt từ tay LX như Mỹ đã hứa với Mao 1972, nên khi quân BV vào hết trong nam, bỏ trống miền Bắc, nhưng TQ không được lấy danh nghĩa đem quân TQ vào để giữ sân nhà cho Hà Nội theo như cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ.
Đánh sáu tỉnh miền bắc được gọi là dạy cho VN một bài học, cũng một cách nữa là họ trả thù cho Pol Pot. Nhưng Mỹ chỉ cho phép làm VN chảy máu tay chớ không mất mạng. Đồng thời lúc bấy giờ ông Đặng Tiểu Bình cũng muốn quan hệ với Mỹ cho nên đánh VN để cho Mỹ thấy rằng là giữa Trung Quốc và Việt Nam không phải là đồng minh, không phải là cùng nhau Cộng sản nữa. (Nhưng sự thật TQ và VN không phải là Cộng Sản mà chế độ Mafia toàn trị theo sự thú nhận trong sách “The bushes” 2004, Peter Schweizer…).
Đặng Tiểu Bình qua Mỹ xin phép, tin để phát triển quan hệ với Trung Quốc theo ý của Mỹ, vì Trung Quốc lúc bấy giờ muốn phát triển quan hệ với Mỹ. Đánh Việt Nam là một món quà tặng cho Mỹ bề ngoài là theo Mỹ đánh đàn em của LX, đánh đàn em của kẻ thù là bạn của Mỹ (Nhưng sự thật W A Harriman đang áp dụng Tam Quốc Chí trên thế giới) Nhưng sự thật nằm trong sách lược Mỹ/Xô nhân cơ hội gài Mìn các hải cảng Bắc Việt 1972, phi cơ hạng nặng AN-12 của LX chở các hoả tiển SAM đời mới nhứt thời đó để phòng thủ Hà Nội cho ngày mà Mỹ gọi là TQ có cơ hội thí nghiệm hiệu quả vũ khí do TQ làm ra trên 6 Tĩnh giáp ranh TQ (dĩ nhiên là vũ khí thua xa LX).
Gần đây có thông tin nói rằng 1979 hồi đó chiến dịch của Trung Quốc không chỉ là để dạy cho Việt Nam một bài học ở mấy tỉnh biên giới mà thật ra là họ đã có kế hoạch vào cả nước Việt Nam, nhưng rất sợ lời cảnh cáo nghiêm trọng của Mỹ và TQ cũng ước mong trở thành cường quốc hạng-2 với sự giúp đở khoa học của Mỹ. Dĩ nhiên Thầy dạy võ cho học trò thì phải giữ những đòn bí ẩn để phòng khi học trò phản trắc chớ? Thế là nhân viên tình báo CIA thâm nhập một cách tinh vi vào TQ. Ta thử nghiệm các đại sứ Mỹ tại VN cũng như Ông Tổng Lãnh Sự người Mỹ gốc Việt, có phải những vị nầy trước khi qua VN lãnh chức vụ quan trọng phải làm việc một thời gian cần và đủ về am-tường nội tình TQ trước khi được bổ nhiệm chức vụ quan trọng tại VN?
Nhưng mà đánh biên giới Việt Nam thì lúc bấy giờ đường sá biên giới giữa TQ và VN khó khăn lắm; Chưa có mở được đường sá ở các tỉnh biên giới; Toàn là đường hẹp, đường núi; Cho nên Trung Quốc hành quân rất khó; Mà Trung Quốc tiếp tế cũng khó, tải thương cũng khó, vì thiếu kinh nghiệm làm sao bằng VN đã trưởng thành trong kháng chiến gian-khổ, cho nên Trung Quốc cũng chỉ đánh VN ở mấy tỉnh biên giới chứ không đánh sâu xuống được nữa đâu. Ngày nay, không ai xác định là bao nhiêu nhưng mà vì đánh nhau trong hoàn cảnh rừng núi của bắc VN như thế, đường sá hẹp hòi như thế cho nên Trung Quốc thương vong cũng nhiều; Vì Mỹ khi hấp tấp tháo chạy lỡ dại bỏ lại vài ngòi nổ (war-head) của Bom CBU-55? Mà xui cho TQ Hà Nội lượm được! Cho nên TQ phải rút thôi vì bị thiệt hại nặng, kể từ lúc đó, TQ chuẩn bị sau 15 ngày họ phải rút theo đúng lời cảnh báo của Mỹ.
Với tinh thần Việt Nam cùng Trung Quốc bình thường hóa quan hệ như hiện nay thì liệu khả năng xảy ra chiến sự trong tương lai, theo như chúng ta ước đoán, có nhiều biến cố xảy ra? Trong thế kỷ 21, W A Harriman sẽ không thể để xảy ra vì mọi việc sẽ phải được giải quyết trên bàn mổ LHQ, như chuyện Biển Đông, TQ phải triệt để nghiêm chỉnh nghe lời cảnh báo của Mỹ DOC để tuân thủ luật quốc tế.
Nhưng lỡ đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay Việt Nam có thua trước rồi cũng tìm cách thắng lại; Về phía VN chúng ta chẳng nghĩ đánh Trung Quốc; Nhưng về phía Trung Quốc làm sao mà biết được trong tư tưởng, trong ý đồ của họ là muốn bành trướng xuống phía nam mà VN là cửa ngỏ; Nhưng có một điều rằng, trong tình hình hiện nay thì Trung Quốc cũng không dễ dàng gây một cuộc chiến tranh lớn đâu. Bởi vì Trung Quốc họ còn phải thể hiện mặt đẹp với thế giới nữa; Cho nên là cũng khó; Hai nữa là họ cũng phải dè chừng dư luận thế giới; Chứ trong thời đại thế kỷ 21 hiện nay đâu phải dễ dàng phát động chiến tranh; Mà phát động một cuộc chiến tranh thì dù Trung Quốc lớn, VN nhỏ, nhưng đã là chiến tranh thì bên này sứt đầu, bên kia cũng mẻ trán. Và từ xưa đến nay, VN vẫn giử được mảnh đất cha ông để lại mà …

Cách nhìn cuộc chiến 1979 từ hai phía, tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow; Vừa qua BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc, nhưng lại nằm chình ình trong lịch trình Eurasia là TQ được Mỹ cho phép có cơ hội thí nghiệm vũ khí do mình làm ra để tự lượng giá tầm cỡ.
Vì ‘Hoa Kỳ không tha-thiết tán thành’ – Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam ‘một bài học’ trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược liên kết với chính quyền Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội để nịnh Hoa Kỳ vì TQ là kẻ thù của kẻ thù là bạn với Mỹ. Ông Đặng giả-vờ nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo, sự thật Hoa Kỳ đã thẳng thắng nghiêm cấm Bắc Kinh tấn công vào Hà Nội, vì quân lực Hoa Kỳ đã trực báo động nếu TQ làm ẩu thì hoa lục sẽ bị bình địa ngay tức khắc vì đã đi chệch lộ đồ chiến lược Eurasia của Mỹ.
Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam nó nằm trong kế hoạch renewed Aid to Russia 1941-1946 Plan với 700 triệu tấn vũ khí hiện đại của Liên Xô cho Hà-Nội với ba mục tiêu (1) cưỡng chiếm miền nam, (2) tấn công Cambodia, (3) phòng thủ Hà Nội bằng hệ thống phòng không tối tân nhứt hồi thời đó. Ngay sau khi tướng LX qua Hànội đầu tháng March 1972 gọi là Inventory, ngày 23/12/1972, tám chiếc AN-12 chở vào Hà Nội 80 tấn hệ thống phòng không SAM tối tân nhứt thời đó.
Ngày 8/1/1975 Lê Đức Thọ được sự bảo đảm của Kissinger là chiếm miền nam, có mặt người cùng vị trí với Kissinger về phía LX, Nicolai Firyunbin, và tướng LX JCS V, A Jukilov ngang hang với tướng Haig phía Mỹ để bảo đảm sự giao hàng sớm nhứt tại hải cảng Hải Phòng. Khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để ‘dạy cho VN một bài học’ vì ‘xâm lăng Campuchia’, trước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh theo ý đồ mong ước của TQ, nhưng sự thật VN buộc phải đu dây qua lại LX rồi TQ qua sự xúi bẩy của Mỹ bằng công cụ tam trùng Nguyễn Chí Vịnh (đả được Harriman trồng người từ lúc Nguyễn Chí Vinh 11 tuổi với cha đở đầu, Lê Đức Thọ 1968 nơi cuộc hợp mặt tay đôi tại Paris, trước năm 2010 ai ai cũng tin Vịnh là người của TQ nhào nặn ra, nhưng thời điểm roll back thì Vịnh là tam trùng, người của Mỹ)

Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy đăng tại một số trang mạng cá nhân ở Việt Nam như Nguyễn Xuân Điền, blog nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới: – Đặng Tiểu Bình tiết lộ: “Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới, (có ý cảnh báo TQ phải kềm chế không được làm lớn chuyện vì biên giới Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số”
Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là ‘Đối Việt tự vệ phản kích chiến’ nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về:
“Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài.”
Trong bài nói chuyện đó, ông Đặng Tiểu Bình cũng gọi Việt Nam là ‘Cuba Phương Đông’, hàm ý nước này là ‘tay sai Liên Xô’, và gọi các lãnh đạo Hà Nội là ‘điên cuồng’. Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế, chỉ đánh với một nước nhỏ như VN mà TQ đã bị thiệt hại đáng kể (sự thật tình báo Mỹ đã nghiên cứu trận mạt rừng núi hiễm trở khó chuyễn quân rầm rộ nên sơ ý bỏ quên vài đầu nổ (warhead) cho VN tự vệ.

Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam nhưng tuyệt đối nghe lời Mỹ là đúng nghĩa dạy cho VN một bài học không đi xa hơn, hay nói cách ngầm ý của Mỹ là lấy cơ hội nầy mà trắc nghiệm vũ khí chính do TQ làm ra. Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi; Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN do CIA ngầm yểm trợ ngôi vị cho Đặng. Việc làm nầy CIA lập lại hồi 1959, trục ma quỹ CIA/KGB triệu hồi Lê Duẩn từ miền nam về làm Quyền TBT và Lê Dức Thọ vào nam lãnh đạo MTGPMN khởi nguyên triều đại Mafia toàn trị (không phải Cộng Sản trong lăng kính Permanent Government) P.G bảo vệ cho Lê Đức Thọ trị vì cho đến khi Thọ chết …
Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường, dĩ nhiên hai ca-sĩ [Thọ/Đặng] có thương yêu nhau bao giờ? Nhưng Mỹ không cho phép Đặng làm quá đáng; Trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói: “Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng (điều dể hiểu vì Hà Nội là tiền đồn của TC nơi nút-chận hơn nửa triệu Lính Mỹ), có công sự đã xây bảy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế.” Tạo ra tình trạng nầy, Mỹ như một ngư ông ngồi rung đùi hưởng lợi.

Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ – Việt nên cảm thấy bị ‘phản bội’ bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh. Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ: “Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tương đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta hạ quyết tâm này đúng là đã tỉnh táo đánh giá phản ứng của phía bắc lớn đến đâu”
Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979, điều dễ hiếu là Lê Đức Thọ nghe lời Mỹ từ chấm đến phết để bảo vệ ngôi vị thủ lảnh đảng Mafia toàn trị của ông cho đến chết.
Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội. Bằng chứng suốt Hoà đàm Paris, TQ luôn luôn hậu thuẩn Bà Nguyễn Thị Bình; Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa nhưng mà lại bị xập bẩy của Mỹ trong chiến dịch di tản chiến thuật, lùi một bước tiến lên ba bước mà Mỹ cho rằng: Overhauling the damage control and roll-back 1970-2010. Trung Quốc làm sao biết được lý do Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève-54 chia đôi VN là để sau khi kiếm đủ lợi nhuận sẽ để cho VN thống nhứt và cũng đáp lễ 8 bức văn thư thỉnh cầu của HCM về thống nhứt độc lập cho VN giống y chang Philippine do Hoa Kỳ bảo trợ. Ngày 30/4/75 là được thống nhứt sau 30 năm chinh chiến và Hoa Kỳ đả nhờ Pháp rồi VNCH giải toả một số vũ khí thặng dư còn tồn kho và đồng thời thí nghiệm một số vũ khí mới cho mặt trận Trung Đông.

Hệ quả lâu dài: – Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương sau nầy vào diển tiến hoà bình trong phần mềm. Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông để bảo vệ cho một trật tự thế giới mới. Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ; Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến theo như Eurasian Great Game-1 là mọi xung đột đều phải nghiêm chỉnh giải quyết tại bàn mổ LHQ mà Hoa Kỳ tin chắc là TQ sẻ tuân thủ.
Tóm lại, chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam – Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ là do tài ba ưu việc của W A Harriman (1891-1986) qua lý thuyết gia George F Kennan.

Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự. Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa; Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng Không quân, Hải quân và hoả tiển nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay ước ao trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu nhưng khó mà qua mặt Mỹ hay LX. Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế; Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế đối với nước ngoài; Tới khi bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã quay trở lại làm thân với Bắc Kinh qua khuyến khích của tình báo Mỹ, cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay, nhưng đối với Mỹ là thời gian dài cần thiết cho sách lược Mỹ ở Á-Châu trước 2010 rồi sẽ ám hại TQ lại làm cho TQ phải bị nội thương kể cả ngủ tạng lục phủ. Vì Biễn Đông mỗi buổi sáng chúng ta không bao giờ thấy hai mặt trời cùng mọc một lược?

Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước Việt Trung; Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử nầy, tại sao? Vì quá tế nhị nhạy cảm!

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-28-2011, 01:33 PM
Trung Quốc bị kèm kẹp vào quỹ đạo của Mỹ bằng COC

An-ninh Biển Đông có vai trò then chốt với Châu Á /TBD:
Như tôi đã viết theo diễn tiến trên trục lộ đồ Eurasia, thì ngày nay (decent interval roll-back 2010) đã đến thời điểm phải giữ An ninh biển, với vai trò then chốt đối với an ninh toàn bộ khu vực, do vậy khu vực cần một bộ Quy tắc ứng xử có tính “ràng buộc” nhằm bảo đảm an ninh biển chung cho toàn bộ khu vực, không chỉ cho Biển Đông. Đây là nhận định chung của đa số đại biểu dự Cuộc họp Đại hội đồng Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 8 diễn ra trong hai ngày 21 và 22/11 tại Hà Nội với hơn 300 học giả trong nước và quốc tế. Cuộc họp lần này có chủ đề – Những nguy cơ và thách thức: “Liệu phải có cấu trúc an-ninh khu vực mới có hiệu lực?” Theo mưu đồ lịch trình đã thiết kế của Mỹ của lý thuyết gia George F Kennan từ 1950 (ngay sau khi 1949 một phi đội CAT (Civil Air Transport) của CIA cưởng bức áp tải Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm ra định cư tại đảo Đài Loan giúp Mao thống nhứt lục địa với điều kiện tiếp nối chia đôi Triều Tiên và VN y chang như Đông Đức và Tây Đức để Mỹ tiêu thụ cho hết hàng tiêu dùng [hàng giết người] nên chúng ta đừng ngạc nhiên tại sao Hà Nội xài AK.47 tự động mà Sàigòn xài Garant, Carbin M-1 bắn từng viên cho đến 1968 thay vì 1964 như Hà Nội).

Tại Quốc hội vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dám làm ngạc nhiên bằng nhấn mạnh, Việt Nam phải giải quyết và khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa – đã bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm năm 1974 từ tay của chính quyền VNCH (cái bẫy bày ra do Kissinger lập lờ nói ngoài hành lang “cái gì của South China Sea hay “Mer de Chine” đều thuộc của China, liền sau 1975 CIA xúi Lê Đức Thọ đem người dân ra “Xí”, và an cư lạc nghiệp tại các đảo kế cận Trường Sa vì spy satellite system đả chụp được có dầu khí dưới thềm lục địa tại nơi đó, riêng Hoàng Sa thì chắc ăn là của VNCH với chứng liệu khá rõ ràng. Nói nôm na Mỹ là người cầm cây gậy trưởng ban nhạc, và những biến-cố Biển Đông là do Mỹ nhào nặn theo dự mưu đã thiết kế political affairs để buộc TQ vào thế kềm kẹp của Mỹ, là một thành viên LHQ vì thế Harriman đã phải hy sinh VNCH và THQG, lấy chiếc ghế LHQ từ THQG… Nói tóm lại ngày nay nếu không có Mỹ thì Việt Nam mất tất cả, nhưng cũng không phải Mỹ thương yêu gì VN mà vì “America-first”.

Thảo luận về vấn đề bảo đảm an ninh hàng hải, các đại biểu hoan nghênh việc Hội nghị Cấp cao ASEAN vừa qua tại Bali đã quyết tâm thúc đẩy thực hiện đẩy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và khởi động tiến trình đàm phán bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC), và việc Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo thông báo sẵn sàng đối thoại với ASEAN về vấn đề này.
Nhiều đại biểu cho rằng, COC tập trung vào mục tiêu phòng ngừa, kiềm chế xung đột, thúc đẩy hợp tác khu vực bảo đảm an ninh biển khu vực. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng cần làm rõ các lĩnh vực liên quan tới an ninh biển, vì các nước có các quan tâm khác nhau. Việc tham gia đàm phán và ký kết COC là một nghĩa vụ của các bên có liên quan đã được nêu tại DOC.

Để đạt được COC, các học giả đều cho rằng, ASEAN cần đóng vai trò trung tâm, tạo diễn đàn để các bên đàm phán và thảo luận. Các bên cần lập cơ chế giám sát việc thực hiện DOC.
Một COC trong tương lai cần đề cập các cơ chế kiểm soát các mối đe doạ đến an ninh hàng hải. COC cũng cần tái khẳng định sự cam kết của các bên đối với luật pháp quốc tế và Công ước luật biển 1982 của Liên Hợp quốc, COC cũng cần tính đến quyền lợi của các quốc gia sử dụng Biển Đông – “Trung Quốc kẹt cứng làm tan rã mộng bành trướng”.

Bên cạnh vấn đề an ninh hàng hải, trong những ngày họp vừa qua, các đại biểu tham dự hội thảo cũng đã thảo luận các vấn đề quan trọng hàng đầu đối với an ninh khu vực, như các biện pháp ứng phó với nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình trên thế giới đang gia tăng, vấn đề quan hệ ASEAN-Trung Quốc, trách nhiệm bảo vệ người dân, vấn đề an ninh nguồn nước, như khu vực hạ lưu Sông Cửu Long, an ninh mạng, tình hình bán đảo Triều Tiên và đánh giá hiệu quả của cấu trúc an ninh khu vực.

Về chủ đề an ninh hạt nhân, các đại biểu cho rằng thế giới đang phải đối mặt ngày càng nhiều nguy cơ như khủng bố hạt nhân, tái chạy đua vũ trang hạt nhân, nguy cơ tai nạn hạt nhân xuất phát từ việc vận hành và sử dụng không an toàn nguyên liệu hạt nhân hoặc các nhà máy điện hạt nhân v.v…

Các đại biểu cho rằng các nước có vũ khí hạt nhân có trách nhiệm chủ đạo trong việc thúc đẩy một thế giới phi vũ khí hạt nhân; tìm biện pháp hợp tác và xây dựng lòng tin giữa các nước này với nhau nhằm tìm ra các giải pháp chuyển tiếp để tiến tới một thế giới phi hạt nhân.

Các đại biểu cũng cho rằng cần tăng cường hợp tác giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển có nhu cầu phát triển hạt nhân vì mục đích hòa bình để tăng cường năng lực và chuyển giao kinh nghiệm cho các nước này, bảo đảm các chuẩn mực khu vực và quốc tế về an ninh và an toàn hạt nhân.

Vấn đề an ninh nguồn nước cũng được các học giả đặc biệt chú ý, cho rằng đây là một trong những thách thức lớn nhất của khu vực châu Á thời gian tới do đây là khu vực đông dân nhất, trữ lượng nước đầu người thấp nhất nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa cao nhất trên thế giới, khiến nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh chóng. Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực lại chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả trong việc chia sẻ nguồn nước các con sông trong khu vực, làm gia tăng căng thẳng giữa các quốc gia.

Các học giả khẳng định cần tiếp cận vấn đề an ninh nguồn nước một cách tổng hợp, do có liên quan tới nhiều loại vấn đề an ninh khác nhau, nhiều loại đối tượng khác nhau, và nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội như giao thông vận tải, môi trường, văn hóa…

Nhiều học giả cho rằng việc xây dựng các con đập trên thượng nguồn các con sông lớn đe dọa đến an ninh nguồn nước của các nước hạ nguồn. Tuy nhiên, cũng có học giả cho rằng việc hợp tác và quản lý vận hành các con đập chưa hiệu quả mới là nguyên nhân cơ bản gây ra tranh chấp giữa các nước hạ nguồn và thượng nguồn.

Một số ý kiến cho rằng việc sử dụng nước thiếu trách nhiệm cũng là nguyên nhân gây suy giảm chất lượng nguồn nước, do đó các nước cần hợp tác xây dựng các chuẩn mực chung về sử dụng nguồn nước trong khu vực, thậm chí cần hướng tới xây dựng một “văn hóa an ninh nguồn nước” chung. Một số ý kiến đề xuất thiết lập mạng lưới các viện nghiên cứu về an ninh nguồn nước trong khu vực, có thể dựa trên nền tảng mạng lưới các Trường Đại học ASEAN.

Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN, bà Đồng Hiểu Linh, trong bài phát biểu về 20 năm quan hệ ASEAN-Trung Quốc, cho rằng quan hệ ASEAN-Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng trong những năm qua trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, tài chính, văn hóa, giao thông vận tải.

Nhìn nhận về tương lai phát triển của quan hệ, bà Linh cho rằng Trung Quốc sẽ luôn phát triển quan hệ hòa bình với các nước ASEAN, luôn tôn trọng các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ trên tinh thần của Hiệp định Thân thiện và Hợp tác (TAC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký, khẳng định Trung Quốc sẽ giải quyết các tranh chấp với ASEAN thông qua các biện pháp hòa bình, tái khẳng định quyết tâm thực hiện đầy đủ DOC và khởi động đàm phán với ASEAN về COC trước thời điểm 2013.

Trong phiên đặc biệt chiều 22/11, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Sheer đã có bài phát biểu về chính sách của Mỹ trong bối cảnh khu vực đang thay đổi, theo đó khẳng định cam kết của Chính phủ Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và sự can dự của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương là vì an ninh và phát triển chung của tất cả các quốc gia trong khu vực.

Mỹ mong muốn xây dựng một trật tự khu vực dựa trên luật pháp quốc tế và các thể chế khu vực hiện hành, sự hiện diện của Mỹ ở khu vực không nhằm kiềm chế quốc gia nào; Về quan hệ song phương với Việt Nam, ông David Shear cho rằng quan hệ Việt-Mỹ đang phát triển nhanh chóng và tốt đẹp, khẳng định mong muốn của Chính phủ Mỹ thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Nhận xét về hiệu quả của cấu trúc an ninh khu vực, Thứ trưởng Ngoại giao và Thương mại Australia đánh giá cao vai trò của Cấp cao Đông Á (EAS), nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN không chỉ trong EAS mà còn trong các cơ chế hợp tác hiện có khác như ASEAN+1, ASEAN+3. Bà Thứ trưởng cũng cho rằng EAS vẫn còn là một vấn đề mới và cần thêm thời gian để có thể đóng vai trò hiệu quả hơn; Cấp cao Đông Á có thể không trực tiếp giải quyết các bất đồng trong khu vực nhưng sẽ đóng góp vào giải quyết các vấn đề này.

Về cấu trúc an ninh khu vực đang hình thành, các diễn giả đã nêu ra 4 đặc điểm lớn đó là: 1. các liên minh do Mỹ đứng đầu, 2. các cơ chế đa phương với trung tâm là ASEAN, 3. các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương, 4. sự nổi lên của Trung Quốc, trong đó đặc điểm thứ nhất và thứ tư là đặc biệt nổi bật. Chính vì vậy, ASEAN cần tránh sự đối đầu Trung-Mỹ tại khu vực và cần phát huy vai trò là nơi các bên có thể thảo luận các vấn đề an ninh khu vực, nhằm giúp xây dựng lòng tin giữa các bên. Điều quan trọng là các cơ chế hiện tại cần có sự gắn kết, bổ trợ cho nhau như ADMM, ARF, EAS.

Phát biểu kết thúc cuộc họp, Giám đốc Học viện Ngoại giao, ông Đặng Đình Quý cho rằng các nguy cơ và thách thức mà các đại biểu đã thảo luận trong 2 ngày của cuộc họp không phải là vấn đề mới nhưng những thay đổi trong môi trường khu vực và quốc tế đã làm cho những vấn đề này mang những tính chất mới, vừa đưa đến những thách thức và cả những cơ hội mới cho khu vực. Chính vì vậy mà các cơ chế đối thoại và hợp tác như CSCAP đóng vai trò quan trọng để giúp các chính phủ, các học giả, chuyên gia trong khu vực phản ánh tình hình khu vực một cách tốt hơn, đóng góp có hiệu quả hơn vào thúc đẩy hợp tác và đề xuất các chính sách và hành động đối với tất cả các bên liên quan.

Ông Quý cho rằng, cuộc họp này cho thấy những nguy cơ và thách thức mà khu vực đang đối mặt rất lớn; Nhưng cơ hội hợp tác cũng nhiều và hoàn toàn khả thi; Từ vũ khí hủy diệt hàng loạt, an ninh hàng hải, đến an ninh nguồn nước và an ninh mạng, các quốc gia trong khu vực đều có thể xây dựng được các cơ chế đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác. Điều cần thiết là các quốc gia cần có thái độ cởi mở, cầu thị, linh hoạt và một chút sáng tạo.
Những phát triển gần đây ở Bali, từ việc chấp nhận Nhóm các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an P5 tham gia Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANFWZ), đến thỏa thuận của các bên đồng lòng thực hiện tốt Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và bắt đầu việc đối thoại xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) đều là những minh chứng rằng việc hợp tác là khả thi và ASEAN vẫn đang hoạt động rất hiệu quả, tiếp tục đóng trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng cấu trúc an ninh khu vực đang định hình. Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN không phải là một điều ảo tưởng, mà là nỗ lực của ASEAN được các nước trong và ngoài khu vực thừa nhận và ủng hộ rộng rãi hơn.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
11-30-2011, 01:33 PM
Hoa kỳ xác quyết không ký chia đôi VN

Căn-cứ vào Hiệp định Genève 1954, Hoa Kỳ hàm ý sẽ thống nhứt Việt Nam vào ngày 30/4 /1975 nên trước khi đem quân Mỹ qua tham chiến với 3 đáp số định kiến (axiom) rõ rệt dưới đây:

-1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon [dissolution GVN]

-2) The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs [Tonkin Accident]

-3) The US could not have won the war under any circumstances [US troops honorable withdraw 1973]

Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa [axiom-1], để cho Hà Nội chiếm cả nước, nhưng thật ra Hoa Kỳ đả tạo nên “sự thống nhứt Việt Nam” như lời chống quyết-liệt chia đôi VN của hầu hết các thành viên ký vào Hiệp định Genève 1954 chia đôi VN; Nhưng đây là những việc Mỹ nhúng sâu không tốt gì cho hành động đẩm máu trong cuộc chiến nầy, cứ để cho lịch sử VN ngầm cám ơn Hoa Kỳ trong sự thống nhứt, vì “Sự tự do nào cũng phải trả giá” Thế nên chúng ta đừng ngạc nhiền gì báo chí Mỹ bươi móc nói xấu VNCH, WIB đả bỏ ra số tiền khổng lồ để đả phá VNCH qua phong trào phản chiến, nhưng trong tài liệu mật thì cho là Liên Xô tạo dựng phong trào phản chiến khắp thế giới

Đầu mùa hè năm 2011, thế chiến lược 10 năm sau cùng (2010-2020) “trù dập TQ” hiện lộ ra dưới cuối đường hầm tăm tối của sách lược Eurasian đã gây cho thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng (trong lăng kính dàn-dựng các biến cố nầy sẽ xảy ra trong khi Harriman đã nằm sâu dưới chín tầng hoả ngục. W A Harriman (1981-1986) người đại đế giấu mặt thế hệ thứ-1 thuộc triều đại Skull and Bones; nhưng chuyện phải đến, ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của đồng minh nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng, mục tiêu của đại đế giấu mặt thế hệ thứ-2 George H W Bush là tìm ngay nguồn nhân công khổng lồ và rẻ mạt, đồng thời đưa TQ lên hạng-2 cường quốc, tạm thời thế ngôi vi Liên Xô theo đúng trục lộ-đồ 1970-2010; và bắt đầu chuyển tiếp qua cho Ấn Ðộ 2020, một nước mà Hoa Kỳ tin chắc rằng sẽ không có tham vọng trồi lên giành ngôi hạng-1 của Mỹ như TQ.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân vì Kissinger là kẻ có tài được Thống đốc TB New York là Harriman thuê mướn và tài trợ để làm công cụ cho War Industries Board sau nầy, nhưng thực chất của nó là đánh hoả mù và bóp méo sự thật tội lỗi của triều đại Skull and Bones; Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng (America First) cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ như vụ Iraq có vũ khí nguyên tử, do một thế lực ghê-gớm trong ban Hội đồng kỹ nghệ quốc phòng (WIB)

Đầu thập niên 1970s chiếu theo tu chánh án “Cooper-Church” Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt; Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, nhưng với điều kiện phải thay đổi quốc kỳ như Việt Nam, và Triều Tiên sau khi thống nhứt!
Phải thống nhứt trong một trật tự an toàn thế giới (The New World) thông thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng, như vừa rồi con cò mồi Luât sư Cù Huy Hà Vủ: “không chống đảng, nhưng phải có đa đảng vì ích lợi cho nền “dân chủ pháp trị” Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Mafia Việt Nam (đội lốt Cộng Sản) chiếm cả nước, nhưng thật ra Hoa Kỳ đả tạo nên sự thống nhứt Việt Nam như lời chống mãnh liệt chia đôi VN của hầu hết các thành viên ký vào Hiệp định Genève-54 chia đôi VN giữa đại tướng Pháp Deltheil và Thủ tướng Việt Minh, Tạ Quang Bửu đồng ký; Nhưng đây là những việc làm không tốt gì cho hành động đẩm máu của Mỹ trong cuộc chiến, cứ để cho lịch sử VN ngầm cám ơn Hoa Kỳ trong sự thống nhứt nầy, vì “Freedom is not for free”.

Và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Quốc tạo ảnh hưởng với tham vọng vào cái bẫy “dầu-khí”. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nhóm phản tình báo Mỹ như Jane Fonda, trung úy phản chiến John F Kerry quyết liệt thuyết phục Hà Nội nên qua Paris nhận sự đầu hàng của Mỹ về trận Ðiện Biên Phủ trên không, vì đã bắn hết trên 1.300 hoả tiễn SAM và không còn gì trong tay. Nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay; Nhưng thật ra trên 14 triệu tấn Bom đạn cũng vừa đủ để tái thiết hậu chiến theo định luật Malthus, như hiện nay nhà cao từng mọc lởm chởm khắp nước, đường xá cầu cống được mở mang, Hoa Kỳ áp dụng Tam Quốc Chí và Lưu Bình Dương Lễ tân thời cho TQ và VN
Cũng vì chính sách gài bẩy nầy và để hợp thức hoá phương thức COC trên thềm lục địa đang bị tranh chấp và buộc TQ phải thi hành đứng đắn những điều khoản mà một thành viên LHQ phải nghiêm chỉnh tuân thủ, nên tháng Giêng năm 1974, như vào cái bẫy, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu (chỉ vì nhân đạo thôi) thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông? Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này với mục đích gì ? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?
Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì Theo hiền-triết W. Brayant đã nói: “Sự thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng sẽ trồi dậy!” Những bí mật lịch-sử mà họ cố tình che giấu hay bóp méo, rồi sẽ xuất hiện nguyên hình khi thế hệ liên quan đến cuộc chiến 50 năm trước đây không còn nữa; Vì chẳng có gì che dấu mà không được tỏ lộ, cũng chẳng có gì bí-ẩn mà không được đưa ra ánh-sáng; ai làm đều ác thì ghét ánh-sáng, để các việc họ làm khỏi bị nguyền rủa. Chúng ta, những kẻ sống với sự thật, thì hãy đến cùng ánh-sáng, để thiên-hạ thấy rõ các việc làm của họ đã bị đưa ra dưới ánh-sáng. Nhưng tôi cũng nhận ra một điều: không một ai có thể giải thích cuộc chiến ấy! Ðối với cá nhân tôi, đó là một bí ẩn và chắc hẳn, đó cũng là bí ẩn trung tâm của thế hệ chúng ta: Và tôi quyết định đi tìm câu trả lời! Vì tôi thuộc vào thế hệ chiến tranh, và tôi không thể lấy cuộc chiến ấy ra khỏi đầu tôi, rỏ ràng là như vậy “Đây là một chiến thắng thầm lặng hay một sự thất bại nhục-nhã?” Đồng thời tôi tin tưởng mãnh liệt vào thế hệ thứ Ba, sẽ xuất hiện nhiều sử gia đồng nhứt cho lịch sử; “Không có Sử gia, sự thật sẽ vĩnh viễn nằm trong bóng tối”.

Trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ. Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, hai cuốn “The New Legion” Vinh Truong cùng Văn-Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác có thật thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa. Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội, Ông từng là nhân viên của RAND Corporation; Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand Hanch cho 36 công ty sản xuất chất độc màu da cam, Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ. Họ viết vì lương tâm tôn trọng tính trung thực lịch sử.
Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ, Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng; Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự; Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin, axiom-2: ngụy tạo Hà Nội khiêu khích để trả đũa) .
Năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam thì Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ Đà-Nẳng. Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng; Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944) một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008).
Làm việc ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copies) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết; Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers; Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam. Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers.
Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ, Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần; Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.
Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett; Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.

Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Vì lợi ích lịch sử, Permanent Government phải che dấu thế chiến lược toàn cầu Eurasian trong lăng kính, riêng về vụ Watergate: “Nixon biết rằng khi điều trần trước một Bồi thẩm đoàn, ông sẽ đối diện với việc khai man hay không, vì vậy người viết đoán rằng ông ấy đã nói sự thật” đây là hình thức PG hù doạ, khủng bố một vị tổng thống có danh dự tự buộc mình phải từ chức trong khi Thái-tử George W Bush thì sẽ buộc phải “chai mặt” để làm việc lớn cho ngôi vị cần có chiếc ghế quyền lực, và áp đặt cho bằng được “PATRIOT-ACT” trong nhiệm kỳ của Thái tử và Bush Con đã đạt được (The USA PATRIOT Act (commonly known as the “Patriot Act”) is an Act of the U.S. Congress that was signed into law by President George W. Bush on October 26, 2001. The title of the Act is a contrived three letter initialism (USA) preceding a seven letter acronym (PATRIOT), which in combination stand for Uniting and Strengthening America by Providing Appropriate Tools Required to Intercept and Obstruct) với 2 mục tiêu:
– (1) Bảo vệ danh dự cho Bush Ông Nội, Prescott Bush, chủ tịch WIB: vì tình yêu tổ quốc (Patriot Act) có nghĩa là làm cách nào đưa nước Mỹ lên đến “đỉnh cao chót vót” dù phải hy sinh triệt tiêu các lảnh tụ ngoài hay trong nước để đạt mục đích
– (2) Bênh vực sách lược của Bush-Cha, George H W Bush thực thi axiom-1, bức tử miền nam nên phải tuyên bố: “Người dân miền nam không chịu đấu tranh cho sự tự do. Nên….!”

Sử gia Kutler muốn đóng kín hồ sơ do đơn đặt hàng: (họ cần nhửng sử gia, học giả, ký giả … để bóp méo mọi sự thật hồng làm chệch đi sự thật của sự việc đen tối vì quyền lợi hẹp hòi của họ) Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất như TT Nguyễn Văn Thiệu đả nói: “Làm kẻ thù với Mỹ thì dễ, nhưng làm bạn với Mỹ thì khó”

Để kết luận: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.
Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ, TQ bị dụ hay buộc phải làm như vậy vì không còn con đường nào khác? Tôi đưa ra ý kiến như vậy không biết trúng hay trật vì có nhiều trường phái yếu bóng vía cho rằng: Việt Nam xắp có Pass Port bằng tiếng Tàu … Nói tóm lại, chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hoa Kỳ đang thực thi để chuộc lại tội lổi đối với Việt Nam, đồng thời cũng phải keo sơn với VN vì muốn độc quyền nguồn dầu hoả – Biển Đông sẽ giải quyết trước 2013 “VN làm chủ, TQ khai thác, Mỹ độc quyền bán sản phẩm”

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
12-02-2011, 11:30 PM
Việt Nam sẽ là nước bảo trợ cho Miến Điện và Bắc Hàn

Theo lịch trình Eurasia, qua giai đoạn giải quyết Biển Đông xong, Việt Nam sẽ là nước bảo trợ cho Miến Điện và Bắc Hàn dưới cái dù của Mỹ, y chang Nhựt đã bảo trợ cho VN mấy thập niên qua. Ngày nay, sau khi giải quyết xong vụ Biển Đông tại LHQ, khác trước kia khi Miến Điện là một trong vài nước khép kín và cô lập trên thế giới, thì Trung Quốc lại là một trong những nước ủng hộ quyết liệt nhất như hơn nửa thế kỷ nay với âm mưu mở con đường xuyên suốt từ Côn Minh đến tận bờ biển Ấn Độ Dương để thôn tính Úc Châu và các nước Đông Nam Á bằng cách lén lút di-dân gần 2 triệu người cùng gia đình lập nghiệp dọc theo xa lộ mà TQ sẽ khai phá đến tận bờ biển. Thế nên Harriman qua CIA phải sử dụng thành viên OSS 1945 là tướng Võ Nguyên Giáp mở Trường Sơn Tây, tức Xa lộ Liên Bang Đông Dương để đối chọi lại với xa lộ xuyên Miến Điện đến bờ biển của TQ lén lút xây dựng hơn nửa thế kỷ qua.

Chính phủ Trung Quốc tự kềm chế cho rằng họ không lo ngại về một cuộc gặp gỡ lịch sử sắp diễn ra giữa các giới chức Miến Điện và Hoa Kỳ, mặc dù các bản tin của giới truyền thông Trung Quốc lên án Washington là dùng Miến Điện trong khuôn khổ một sách lược để kiềm chế Trung Quốc. Từ Bắc Kinh, thông tín viên VOA Stephanie Ho gửi về bài tường thuật sau đây. Mà đúng thật như vậy, Hoa Kỳ đã thiết kế thật tỉ mỉ lộ-đồ trù dập TQ qua lý thuyết, sử gia George Frost Kennan (1904-2005) khi Miến Điện là một trong vài nước khép kín và cô lập trên thế giới, thì Trung Quốc lại là một trong những nước ủng hộ quyết liệt nhất trên toàn cầu. Nay vào lúc Ngoại trưởng Hillary Clinton chuẩn bị cho một cuộc họp lịch sử với các nhà lãnh đạo ở Miến Điện, giới truyền thông Trung Quốc mô tả động thái này nằm trong các nỗ lực của Washington nhằm “cô lập và bao vây Trung Quốc.” Trong một bài xã luận đăng trên báo Global Times hôm nay, giáo sư về truyền thông của trường Đại học Thanh Hoa Lý Hy Quang nói rằng chuyến thăm của Ngoại trưởng Clinton sẽ làm cho Trung Quốc “mất tinh thần.” Nó cũng không khác gì TT Bush và Phó TT Biden qua TQ nhưng mục đích là thăm Mông Cổ.

Ông Lý nêu thắc mắc về điều ông gọi là một “chính sách mới về châu Á của Hoa Kỳ” mà ông cho là nhắm chống lại Trung Quốc. Sự thật không phải vậy mà kềm hãm TQ, vì Hoa Kỳ rất hoan nghênh một nước Tàu hùng mạnh để cùng thế giới giải quyết những khó khăn về thiên nhiên, môi trường, bệnh hoạn, sự nóng dần của trái đất… Ông cho rằng cuộc họp của Ngoại trưởng Clinton là một thí dụ điển hình cho sách lược mới này. Ông cũng lập lại những cáo buộc của giới truyền thông Trung Quốc nói rằng Hoa Kỳ đứng sau quyết định hồi tháng 9 của chính phủ Miến Điện đình chỉ công trình xây dựng một đập thủy điện mà một công ty của Trung Quốc đã góp phần đầu tư nhiều tỷ đôla.
Bất kể luận điệu gay gắt của giới truyền thông Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi tuyên bố Bắc Kinh không lo lắng mấy. Ông Hồng nói Trung Quốc tin là Miến Điện và cái mà ông gọi là “các nước Tây phương liên hệ” nên tăng cường tiếp xúc và cải thiện quan hệ. Ông nói thêm rằng ông hy vọng cuộc họp này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ổn định và phát triển cho Miến Điện. Trước đó trong tuần, lãnh đạo quân đội cấp cao nhất của Miến Điện đã đi thăm Bắc Kinh và họp với các giới chức quân đội Trung Quốc. Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và tư lệnh quân lực Miến Điện đã tán dương tình hữu nghị lâu đời giữa hai nước và cam kết củng cố hợp tác quân sự.
Trong một cuộc họp thường lệ với các phóng viên hôm qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc được hỏi về các bản tin nói rằng các đại diện của chính phủ Miến Điện và các thủ lãnh người Kachin nổi loạn đã họp vào hôm thứ Ba ở tỉnh Vân Nam miền tây nam Trung Quốc.
Ông Hồng đáp rằng Trung Quốc hy vọng các bên liên hệ bên trong Miến Điện có thể giải quyết các bất đồng qua những cuộc thương lượng hòa bình.
Trong mấy tuần vừa qua, giới lãnh đạo Miến Điện đã công bố chi tiết của một thỏa thuận hòa bình nhắm mục đích chấm dứt nhiều thập niên xung đột giữa chính phủ và các nhóm sắc tộc nổi loạn lâu nay vẫn tranh đấu đòi quyền tự trị. Thỏa thuận hòa bình này cũng là một đòi hỏi chính của các quốc gia Tây phương, kể cả Hoa Kỳ.

Tổng thống Obama cho biết ông cử Bộ trưởng Ngoại giao đến Miến Điện để xem Hoa Kỳ có thể làm thế nào để giúp nước này ủng hộ tiến bộ về cải cách chính trị, nhân quyền và hòa giải dân tộc. Nhưng ông Obama cũng nói rằng bang giao của Miến Điện và Bắc Triều Tiên là một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết.
Thượng nghị sĩ Richard Lugar đại diện tiểu bang Indiana, một thành viên cấp cao của đảng Cộng hòa trong Ủy ban Đối ngoại, đề nghị bất kỳ việc tiếp xúc trở lại nào với Naypyidaw đều phải bao gồm một sự khai báo đầy đủ về “mức độ và ý đồ trong chương trình hạt nhân đang được Miến Điện phát triển.” Vị thượng nghị sĩ này nói ủy ban của ông đã nhận được thông tin cách đây 5 năm cho biết chính phủ Miến Điện có ý định phát triển vũ khí hạt nhân, với sự trợ giúp của Bắc Triều Tiên.
Cách đây 1 năm, các thanh sát viên Liên Hiệp Quốc đã công bố một bản phúc trình cáo buộc Bắc Triều Tiên cung cấp thiết bị hạt nhân và phi đạn bị cấm chỉ cho Miến Điện, Iran và Syria, một cách bí mật, để tránh các biện pháp chế tài quốc tế.
Miến Điện, còn gọi là Myanmar, là nước ký tên vào Hiệp ước Cấm phổ biến Hạt nhân, và là thành viên của Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế. Theo chuyên gia cấp cao của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế Daniel Pinkston, sự kiện đó có nghĩa là Miện Điện phải khai báo đầy đủ bất kỳ cuộc giao dịch nào trước đây với phía Bắc Triều Tiên.
Ông Pinkston nói: “Nếu có bằng cớ rõ ràng về sự hợp tác hạt nhân thì, để cải thiện bang giao với Hoa Kỳ và phần còn lại của cộng đồng quốc tế, Miến Điện sẽ phải hoàn thành các nghĩa vụ theo Hiệp ước Cấm Phổ biến Hạt nhân và theo các thỏa thuận về bảo vệ với Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế. Và sự kiện đó có nghĩa là khai báo bất kỳ công cuộc hợp tác nào đã có với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, tức Bắc Triều Tiên, bất cứ vụ thủ đắc nào về chất liệu, kỹ thuật, cơ phận, vân vân…”
Các nhà ngoại giao và chuyên gia phân tích tình báo cũng nêu ra những báo cáo chưa được kiểm chứng về việc hàng trăm kỹ sư và khoa học gia Bắc Triều Tiên đến thăm hay làm việc tại các cơ sở quân đội và các cơ sở khác của Miến Điện. Nhưng nói chuyện với đài VOA với điều kiện không nêu danh tính, các giới chức chính phủ Nam Triều Tiên cho biết họ chưa nhìn thấy bằng chứng cụ thể về mức độ hợp tác đó giữa Bắc Triều Tiên và Miến Điện.
Cựu tổng giám đốc Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế, ông Hans Blix, hiện là chủ tịch Ủy ban về Vũ khí có sức tàn sát hàng loạt, cũng đồng ý với đánh giá đó, có liên quan đến một chương trình phát triển vũ khí hạt nhân mà Miến Điện được cho là đang thực hiện.
Ông Blix nói: “Thế giới có lý do để lo ngại và tìm hiểu về việc này. Có một vài người đào tỵ đã nói đến chuyện ấy, nhưng nhiều người khác lại gạt hẳn đi. Và kinh nghiệm của tôi cho thấy là phía Bắc Triều Tiên chưa đi xa mấy”.
Các giới chức Miến Điện cũng bác bỏ bất kỳ việc theo đuổi vũ khí hạt nhân nào, tuy họ thừa nhận rằng họ có cứu xét việc tìm cách sử dụng kỹ thuật nguyên tử để sản xuất điện năng. Trước đây trong năm, các giới chức Miến Điện đã khẳng định rằng đất nước họ quá nghèo không thể theo đuổi bất cứ hình thức nào của chương trình hạt nhân.
Bằng chứng về vũ khí quy ước đi lại giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên trong nhiều năm thì cụ thể hơn. Trong nhiều dịp, Hải quân Hoa Kỳ đã ngăn chặn các tàu của Bắc Triều Tiên, nghi là chở vũ khí, đến các cảng của Miến Điện. Các chuyên gia phân tích nói Bắc Triều Tiên dường như đã tiếp tay cho Miến Điện nâng cao các khả năng phi đạn của họ.
Các chuyên gia nêu ra rằng bất kỳ việc giao nhận thành công các vũ khí đó trước đây đều có thể đề ra những rắc rối về ngoại giao cho Miến Điện khi nước này tìm cách bình thường hóa quan hệ với cộng đồng quốc tế. Theo các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc áp dụng đối với Bình Nhưỡng, tất cả mọi vụ mua bán vũ khí của Bắc Triều Tiên, kể cả vũ khí quy ước, đều bị cấm chỉ.
Bang giao giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên đã trải qua những thời kỳ bấp bênh kể từ khi được thiết lập vào năm 1962. Miến Điện đã cắt đứt quan hệ với Bình Nhưỡng vào năm 1983, sau khi các điệp viên Bắc Triều Tiên ở Miến Điện tìm cách ám sát tổng thống Nam Triều Tiên. Vụ đánh bom lần đó đã gây thiệt mạng cho 18 viên chức cấp cao của Nam Triều Tiên.
Quan hệ quân sự giữa Miến Điện và Bắc Triều Tiên dường như đã được nối lại vào đầu thập niên 1990, nhưng quan hệ ngoại giao chưa được chính thức phục hồi cho mãi đến lúc cách đây 4 năm.Từ nhiều chục năm, cả hai nước đều bị cô lập tách khỏi phần lớn cộng đồng ngoại giao và giao thương toàn cầu vì các chính phủ áp bức.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã bắt đầu chuyến công du mang tính bước ngoặt tới Miến Điện, trở thành người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ đầu tiên sang thăm nước này trong 50 năm qua.
Hôm nay, bà Clinton tới thủ đô Naypyidaw của Miến Ðiện để bắt đầu 3 ngày hội đàm bao gồm các cuộc họp đã lên lịch với Tổng thống Thein Sein và lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi của nước này.
Ngoại trưởng Mỹ đi từ Nam Triều Tiên tới Miến Điện. Tại Nam Triều Tiên, bà Clinton cho báo giới biết rằng bà sẽ đích thân xác lập các ý định của chính phủ Miến Điện hiện thời về việc tiếp tục cải cách chính trị và kinh tế.
Bà Clinton đề cập tới điều mà Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phát biểu trước đây trong tháng về những “tia tiến bộ le lói” của chính quyền dân sự trên danh nghĩa của Miến Ðiện, phe lên nắm quyền trước đây trong năm sau hơn 4 thập niên quân đội cai trị nước này.
Tổng thống Obama nói Ngoại trưởng Clinton sẽ thăm dò xem Hoa Kỳ có thể làm gì để hậu thuẫn những tiến bộ trong quá trình cải cách chính trị, nhân quyền, và hòa giải dân tộc ở Miến Điện.

Miến Điện và Việt Nam ở gần nhau, nay cùng ở trong khối Đông nam Á, lại cùng loại chế độ độc đoán độc đảng, một bên là độc tài quân phiệt – một bên là độc đảng Cộng sản, nên có ảnh hưởng tác động đến nhau không nhỏ. Miến Điện – nay được gọi là Myanmar – là nước rộng nhất vùng Đông Nam Á (676.000 km2), gấp đôi Việt Nam, với dân số gần 60 triệu, trước là thuộc địa Anh, độc lập từ năm 1948..Những nét đặc sắc của Miến Điện gần đây là: cuộc đấu tranh cho dân chủ khá rộng lớn từ hơn 20 năm nay, trình độ văn hóa, biết đọc biết viết trong toàn dân thuộc hạng loại cao nhất châu Á ngay từ sau Thế chiến II.
Miến Điện có những nhân vật xuất sắc. Ông Aung San, lãnh tụ chống thực dân Anh và phát xít Nhật, thân sinh của bà Aung San Suu Kyi, được suy tôn là Anh hùng dân tộc. Ông U Thant từng là Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc 10 năm liền, từ 1961 đến 1971. Bà Aung San Suu Kyi, người đứng đầu Liên minh Toàn quốc Đấu tranh vì Dân chủ, có uy tín cao trong xã hội, được Giải Nobel Hòa bình năm 1991 khi đang ngồi tù; trước đó bà được giải thưởng Sakharov về Tự do Tư tưởng năm 1990. Bà còn được chính phủ Ấn Độ tặng giải thưởng J. Nehru; được chính phủ Venezuela tặng giải thưởng S. Bolivar; và được chính phủ Canada phong tặng danh hiệu là Công dân Danh dự Canada. Bà là một trí thức loại ưu tú, nhà văn, từng tốt nghiệp về kinh tế Đại học New Delhi, Ấn Độ, tốt nghiệp môn chính trị – xã hội tại Đại học Oxford và London, Anh. Bà cũng từng là trợ lý cho ông U Thant ở Liên Hiệp Quốc.
Hiện nay có hơn 1 triệu người Miến Ðiện ở nước ngoài, sống làm việc, kinh doanh, du học tại Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp…, cộng đồng này đã tỏ ra rất đoàn kết, đồng thuận trong ủng hộ phong trào dân chủ trong nước. Họ kiên quyết chống thế lực quân phiệt phi pháp từng dùng súng đạn hủy bỏ cuộc tổng tuyển cử vang dội ngày 27-5-1990, khi Liên minh của bà Aung San Suu Kyi dành được đa số tuyệt đối 59% phiếu bầu và 81% ghế trong Quốc Hội, 392 trên 485 ghế. Họ coi cuộc đảo chính quân sự của các tướng lãnh là phản nghịch, phản dân chủ, chống nhân dân. Họ vận động ráo riết cho việc tố cáo và cô lập chính quyền quân phiệt.
Đến nay cuộc đấu tranh cho dân chủ đang ở mùa thu hoạch, theo cách nói của bà Aung San Suu Kyi – mà người dân Miến bà thường gọi thân mật là «Đâu Xiu» (Dow Suu) – Cô Xiu.
Lần đầu tiên trong 21 năm qua, sau khi bị quản thúc từ ngày 20-7-1989 đến ngày 13-11-2010, Cô Xiu mới tỏ ra lạc quan, khi chính quyền quân phiệt tự giải thể vào tháng 4-2011, khi tổng thống mới được bầu, Thein Sein – tuy vốn là tướng, là thủ tướng – cam kết sẽ theo quy chế dân sự, các tuớng lãnh sẽ không làm bộ trưởng kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, ngoại giao… như trước nữa. Ông Thein Sein đích thân gặp bà Aung San Suu Kyi trong bộ cánh dân sự, với lời hứa sẽ xem xét việc trả tự do cho tù chính trị, nới rộng tự do báo chí và mở rộng dân chủ. Sau đó bà Aung San Suu Kyi được tự do đi lại trong thành phố, còn đi thăm một số địa phương, tự do gặp gỡ các thành viên trong tổ chức của bà, không có mật vụ nào bám theo.
Tổng thống Thein Sein đích thân thúc đẩy việc thành lập Ủy ban Quốc gia về Nhân quyền và soạn thảo bộ Luật Lao động mới theo những tiêu chuẩn lao động quốc tế, theo yêu cầu và khuyến nghị xây dựng của các phái viên của Tổng thống Barack Obama và Ngoại trưởng Hillary Clinton.
Việc trả tự do cho 6.000 tù nhân, trong đó có 300 tù chính trị mấy hôm nay chính là do khuyến cáo của Ủy ban Quốc gia về Nhân quyền vừa được thành lập.
Cô Xiu càng tỏ ra lạc quan có cơ sở khi ông Thein Sein và chính phủ thống nhất ý kiến đình chỉ việc xây dựng đập nước khổng lồ Myitsone trên sông Irrawaddy, công trình trọng điểm của quốc gia, trị giá 3,6 tỷ đôla, do 1 hãng thầu quốc doanh Trung Quốc thực hiện từ 5 năm nay. Đây là một thái độ chính trị mạnh mẽ làm Bắc Kinh đùng đùng nổi giận, nhưng ông Thein Sein nói rõ đây là quyết định đặt cuộc sống an toàn của nhân dân Miến Đlện làm trọng và cũng là nhân dân thuộc ảnh hưởng của dòng Sông Cửu Long. Bắc Kinh cũng không che dấu thái độ vừa lo âu vừa tức giận khi ông Thein Sein dẫn đầu một đoàn cao cấp có 13 bộ trưởng đi thăm Ấn Độ nhằm thắt chặt quan hệ toàn diện một cách thực chất. Báo chí New Delhi ca ngợi ông Thein Sein khác hẳn ông Than Shwe là người tiền nhiệm ở thái độ chính trị «thức thời và tiến cùng thời đại». Sự gắn bó Ấn Độ – Miến Điện còn ở dựa trên cơ sở có chung nền văn hóa Phật Giáo, xa rời chất cộng sản vô thần của Bắc Kinh, nhưng nó nằm trên trục lộ trình siêu chiến lược Eurasia của Permanent Government. Cô Xiu cũng tỏ ra lạc quan khi được mời dự một diễn đàn kinh tế lớn, có đại diện chính phủ, các nhà doanh nghiệp và 37 nhóm và tổ chức chính trị, tôn giáo của cả nước. Tại diễn đàn, ý kiến của bà rất được cử tọa tôn trọng và lắng nghe.

Do ảnh hưởng của Mỹ, cấm vận quốc tế đang được nới lỏng nhanh chóng, các tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, cùng với các tổ chức nhân đạo và thiện nguyện Châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản và Ấn Độ, đang thực hiện trợ giúp Miến Điện Các nước đang quan sát kỹ việc trả tự do cho tù nhân lương tâm và thực hiện tự do thông tin báo chí để có đối sách thích hợp, và muốn Việt Nam theo đó mà áp dụng trong nước mình. Báo chí ở Miến Điện mấy tuần nay đã đăng tin hoạt động của bà Aung San Suu Kyi khá đầy đủ, khách quan, như về một nhà hoạt động chính trị, không còn cắt xén, xuyên tạc, mạt sát như đối với một người bị án quản thúc như trước.
Tất nhiên ông Thein Sein là người tỏ ra biết điều và có thiện chí, ông mong mỏi cuộc cấm vận của quốc tế chấm dứt, rồi thế giới dân chủ sẽ chi viện, đầu tư, hợp tác với quy mô lớn, khi xã hội dân sự được khôi phục, nhân tài Miến Điện ở khắp nơi trở về bắt tay cùng nhân tài và nhân dân trong nước xây dựng lại đất nước phồn vinh cho toàn dân để Việt Nam lỏ con mắt nhìn vào mà bắt chước.
Ông Thein Sein và những người cộng tác thân cận nhất đang hy vọng Miến Điện trên con đường hòa hợp dân tộc sẽ có vị trí khác hẳn trước, và những năm trước mắt sẽ được vinh dự đảm nhiệm chức Chủ tịch luân phiên của Tổ chức các Quốc gia Đông Nam Á, với một tư thế mới, ảnh hưởng mới vào năm 2014. Không phải ngẫu nhiên mà có nhà báo Miến Điện cho rằng vận mệnh nước nhà đang chuyển động do 2 nhân vật bắt tay nhau thân thiện và tương kính, cả 2 đều cùng tuổi, cùng một năm sinh – ông Thein Sein ngày 20-4-1945, bà Aung San Suu Kyi ngày 19-6-1945, cùng năm âm lịch Ất Dậu – Hai con gà gáy sáng báo bình minh của nước Myanmar mới. Mừng cho nhân dân Miến Điện đang có cuộc bứt phá đầy triển vọng. Hy vọng cuộc bứt phá sẽ thật sự ngoạn mục, thành một nguồn cảm hứng chính trị sâu rộng cho mọi người Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ, cho toàn dân ta, và nhà cầm quyền Mafia VN theo đó mà cải thiện đời sống văn minh cho người dân, dù rằng quá trễ nhưng vẩn còn hơn không… để sau cùng “Việt Nam sẽ là nước hùng mạnh như một nước Do Thái phương Đông”

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
12-11-2011, 01:59 PM
Henry Kissinger là một chính khách không chỉ là người tiên phuông dấn thân đi mở bức màn Tre, mà còn là một viên chức chính thức của Hoa Kỳ dám đi đêm và thành công vào bốn thập niên qua bởi 50 cuộc gặp mặt, làm chiếc cầu bắc nối giữa hai bên Trung Mỹ với bảy viên chức quyền lực của đôi bên, làm dịu cơn căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hoa Thạnh Đốn. Hơn nữa, Bắc Kinh đang hy vọng chiến lược (strategic trust) không những cùng Hoa Kỳ mà còn thế giới phương Tây, hầu bảo vệ trật tự an toàn cho thế giới. Theo báo giới Mỹ vuốt đuôi cùng tác phẩm On China của Kissinger, ca ngợi sự xứng đáng nhận giải hoà bình Nobel, 1973, The Presidential Medal of Freedom, và The Medal of Liberty, trong những giải thưởng đó, Kissinger còn là tác giả của một số tác phẩm quý giá về đường lối ngoại giao, hiện tại Kissinger là Chủ nhiệm của Kissinger Associatiates, Inc., an international consulting firm,
Mới vừa rồi, Kissinger ta ra mắt cuốn sách mới là On China (Penguin,2011) Như đã nói ở phần đầu, mỗi khi ông này có “sách” mới thì đâu đó trong thiên hạ sắp có loạn to ! Bởi nhờ có loạn thì Siêu Chính Phủ Mỹ mới có cớ đi chinh phạt và thâu tóm dần dần cũng như bành trướng ảnh hưởng của mình; Và mầm mống của loạn lạc cũng do Siêu Chính Phủ tạo ra từ sau hậu trường Quốc Hội bắt nguồn từ Tu Chánh Án Cooper Church-70 và Case-Church-73.

Tháng 7, 1947, ông Kissinger được cặp mắt của W A Harriman để ý cho quay về Mỹ và tặng học bổng vào trường đại học Harvard (cũng nên biết thêm là những trường đại học như Yale, Harvard; Princeton; Oxford; Sorbonne là những trường do các nhóm [War Industries Board] Hội Đồng Kỹ Nghệ Quốc Phòng có nguồn gốc ở Âu Châu thành lập từ thế kỷ thứ 19. Mục đích sâu xa của đám ma-quỷ này với mục đích sẽ thu hút và chiếm hữu hết những nhân tài khắp thế giới bằng tiền – danh và lợi đối với những sinh viên biểu lộ sự thông minh đặc biệt, hay ít ra chúng cũng đào tạo được những con người, mà Siêu Chính Phủ gọi là “công-cụ chuyên viên”, trong tương lai sẽ phục vụ đắc lực cho bộ máy thống trị toàn thế giới gồm toàn những con người được nhào nặn theo siêu chiến lược Eurasia).
Năm 1950 ông Kissinger có bằng B.A, năm 1952 lấy bằng M.A và năm 1954 có được bằng Ph.D. Trong thời gian học ở Harvard Kissinger được ưu đãi đặc biệt, vì trường này vốn có một nguồn tài chánh dồi dào do CIA bí mật tài trợ qua một tổ chức trá hình là Hội Học Sinh Quốc Gia (National Student Association. Hội này đã bị “tan biến” năm 1967 do quần chúng phanh phui).

Lúc còn đang học, năm 1950 là năm Harriman quyết định thay đổi vùng bạo loạn từ Trung Âu sang Á Châu theo đúng lịch trình Eurasian, nên con rối tài giỏi Kissinger đã được bí mật điều qua làm cố vấn trợ-lý cho Phòng Nghiên Cứu Các Chiến Dịch-Lục Quân (Army-Operations Research Office)
1951: Được cử tới Nam Hàn tìm hiểu ước lượng về “mức độ ảnh hưởng tâm lý của dân chúng về sự có mặt của quân đội Mỹ”.
1952: bí mật được chọn làm cố vấn cho Ủy Ban Chiến Lược Tâm Lý thuộc Bộ Tham Mưu Liên Quân (Psychological Strategy Board of the Joint Chiefs of Staff).
1955: Được Siêu Chính Phủ Mỹ cho làm chủ bút tạp chí Ngoại Giao Sự Vụ (Foreign Affairs magazine) Tạp chí này tuy thuộc “tư nhân”, nhưng nó là cái loa chính thức và đầy quyền lực đặt ở Mỹ của vương triều nước Anh và con cháu của giới quý tộc tại Châu Âu ( Ở bên Tây, ban đầu nó được trung ương Ủy Hội Tam Điểm (Trilateral Commission) lập ra trong một phòng kín ở khách sạn Majestic, thủ đô Balê nước Pháp vào ngày 30.5.1919 và nấp dưới một cái tên thật “hiền” là Viện Quốc Tế Sự Vụ (Institute of International Affairs) Cụ HCM đã lọt vào ống kính của Siêu Chính Phủ, cũng là hội viên Tam Điểm và được móc nối từ thuở đó nên ngày nay Đảng Cộng Sản Việt Nam có họ hàng, dây mơ rễ má với tài phiệt quốc tế là chuyện đương nhiên. Viện Quốc Tế Sự Vụ có hai chi nhánh, một nằm ở Anh là Học Viện Hoàng Gia về Quốc Tế Sự Vụ (Royal Institute of International Affairs- RIIA), cái khác nằm tại Mỹ từ ngày 21/7/1921 là Hội Đồng về Các Quan Hệ Đối Ngoại (Council on Foreign Relations- CFR) cùng với cái loa của nó là tạp chí Ngoại Giao Sự Vụ. Từ ngày đó đến hôm nay, cái loa này của RIIA và CFR mới là “đầu nậu” làm trùm hết tất cả các hãng điện thoại, truyền hình và những tờ báo v.v lớn nhất, mạnh nhất của nước Mỹ vì giới chủ nhân của truyền thông Mỹ đều là hội viên của WIB gồm các thành viên Skull and Bones trong bí mật, ngoài công khai họ là hội viên của CFR. Ngoài ra, các tổng thống Mỹ, tất cả giám đốc CIA, bộ trưởng quốc phòng, ngoại giao, tài chánh, y tế, giáo dục, thương mại v.v cho tới chủ những siêu công ty về hàng không, hàng hải, xe hơi, dầu hỏa v.v đều là hội viên CFR, một hội “tư nhân” do Siêu Chính Phủ thành lập (mà hầu hết người dân Mỹ không biết chuyện này).

1957, W A Harriman, Thống Đốc New York, đích thân chỉ định ông Kissinger phải làm thỉnh giảng-viên ở đại học Harvard, cho con đường dài chuẫn bị thay mặt Siêu Chính Phủ là người quyết định mọi chính sách của Mỹ. năm 1959 thành phụ tá giáo sư tới năm 1962 chính thức là “giáo sư” của trường này. Tháng 10, 1965 Kissinger được Siêu Chính Phủ âm-thầm điều đi đặc tác đến Sài Gòn, Việt Nam, Siêu Chính Phủ (Permanent Government) sai ông tới đó để thẩm định phương diện tinh thần và tâm lý của giới quân nhân, chính trị, tôn giáo v.v của người dân Việt Nam Cộng Hòa nói chung trước sự xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt nói riêng.
Tháng 10, 1966, ông Kissinger “đi đêm” tới Sài Gòn một lần nữa để xác định lần chót về nhận xét đường hướng quan điểm của mình trước đó đối với tinh thần chống cộng của quân và dân Việt Nam Cộng Hòa cho Harriman và George H W Bush.
Sau khi về Mỹ, những ghi nhận của ông về tinh thần dân chúng và giới lãnh đạo VNCH được phúc trình lên chính phủ Mỹ với một nội dung rất lạc quan để trấn an công luận. Tuy nhiên trong bí mật, ông ta đã phúc trình cho CFR (tức Siêu Chính Phủ, siêu tài phiệt gồm thành viên WIB) một sự thật quan trọng mà công chúng không hề biết, đó là : Ý thức về hiểm họa cộng sản và tinh thần chống cộng của người dân VNCH nói chung rất cao. Điều này sẽ là một trở ngại rất lớn, Cộng Sản Bắc Việt rất khó chiếm được miền Nam-Việt Nam theo như kế hoạch mà Siêu Chính Phủ đã soạn ra và chờ đợi qua 3 đáp-số (axiom) ấn định phải được hoàn thành mỹ mãn:
– (1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon
– (2) The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs
– (3) The US could not have won the war under any circumstances
Đây là điểm then chốt nhất nên ngày 27/11/1968, sau khi chọn người và cân nhắc kỹ lưỡng, Siêu Chính Phủ (Permanent Government) giới thiệu ông Kissinger với vị tổng thống tương lai của Mỹ là ông Richard Milhous Nixon (1913-1994, ông này cũng là hội viên cao cấp của CFR và thành viên WIB)
Sau đó tổng thống “tân cử” R.M.Nixon bị áp lực của Permanent Government phải đưa ông Kissinger vô nắm Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council) Dù rằng trong suốt mùa tranh cử tổng thống, Kissinger được lệnh P.G phải nói xấu Nixon là hồ sơ “dơ bẩn” (Dirty-File) nhưng không ngờ Nixon thắng cử, nhưng bắt buộc phải nhận Kissinger và từ đây ông ta bắt đầu đại diện cho Permanent Government không phải đại diện cho dân Mỹ kể cả tổng thống Mỹ, khởi sự bí mật tiếp xúc, dàn xếp các thỏa thuận với CSBV do Harriman vạch trước lộ-đồ giữa Thọ/Harriman 1968.

Nhưng năm 1955 mới là năm mà cuộc đời ông Henry A. Kissinger rẽ qua một bước ngoặt quan trọng. Tại một hội nghị về chiến lược quân sự ở Quantico, Virginia ông ta được giới thiệu với ông Nelson Aldrich Rockefeller (1908-1979) Ông này thuộc “đảng” Cộng Hòa, từng có mặt trong nhiều nội các chính phủ của những tổng thống như các ông Franklin Delano Roosevelt (1882-1945, hội viên cao cấp của thành viên WIB) Harry S. Truman (1884-1972, hội viên cao cấp của Permanent Government); Dwight David Eisenhower (1890-1969, hội viên cao cấp của P.G) và Richard Milhous Nixon (1913-1994, hội viên cao cấp của P.G). Ông Nelson Aldrich Rockefeller, hạ đối thủ Dân Chủ, William Averell Harriman, chiếm ghế Thống Đốc Tiểu Bang Nữu Ước từ năm 1959 tới 1973, từng là Phó Tổng Thống (1974-1977) cho ông Gerald Rudolph Ford, Jr (1913-2006, hội viên cao cấp của P.G) Ông ta là con của ông John Davison Rockefeller, Jr (1874-1960) và là cháu nội của ông “vua dầu hỏa” John Davison Rockefeller, Sr (1839-1937, lưu ý là tất cà những người đàn ông trong giòng họ Rockefeller đều là hội viên cao cấp của Skull and Bones) Sau cuộc gặp gỡ “lịch sử” đó và thêm vài lần nữa, ông Kissinger được gia tộc Rockefeller mời làm cố vấn cho Quỹ Huynh Đệ Rockefeller và từ 1956 tới 1958 là Giám Đốc của Dự Án Những Nghiên Cứu Đặc Biệt cho Qưỹ Huynh Đệ Rockefeller (Director of the Special Studies Project for the Rockefeller Brothers Fund).
Từ đó, “sự nghiệp” chính trị của ông Kissinger lên ào ào như diều trước gió, chức cao nhất mà ông dành được là Bộ Trưởng Ngoại giao (1973-1977) Có người cho rằng nếu ông ta sinh ở Mỹ chắc chắn sẽ làm tổng thống hai nhiệm kỳ, sự thật trường phái nói câu nầy chả hiểu gì Kissinger chỉ là một công cụ chuyên viên nô-bộc cho giòng họ Harriman và Bush mà thôi. Vì quan niệm của 2 vị nầy là Harvard chỉ là chuyên viên, công cụ cho Đại học Yale, dòng họ Bush và Harriman 4 đời lien tiếp tốt nghiệp đại học Yale. Nhưng dù sao chăng nữa những chức vụ mà ông ta có được cũng chỉ là chuyện nhỏ và ngoài công khai; Thật ra trong bóng tối của thế giới siêu quyền lực, ông ta thuộc hạng “lão làng”, nắm giữ nhiều vị trí quan trọng thay mặt cho Siêu Chính Phủ (P.G) và những hiệp hội “tư nhân” (vòng ngoài của Siêu Chính Phủ) tại nước Mỹ và quốc tế.
Ông Henry A. Kissinger là một người rất say mê có được quyền lực và danh vọng, dù phải nói dối và bội nghĩa bạc tình ông ta cũng làm để thỏa mãn niềm đam mê đó. Ông Kissinger kết hôn với bà Ann Fleischer năm 1949, họ có hai người con nhưng gia đình không được ấm êm vì bà thường than phiền sự vô trách nhiệm của ông đối với gia đình; Năm 1964 ông ta bỏ vợ để được thảnh thơi hoạt động trong trò chơi chính trị kiểu Mỹ. Mãi tới năm 1974, ông Kissinger mới lập gia đình lần nữa với bà Nancy Maginnes sau khi đã ngồi yên vị trong chiêc ghế bộ trưởng ngoại giao.
Ông Kissinger “viết” nhiều nhưng phần lớn những gì ông “viết” không phải do chính ông tìm ra ý tưởng. Ông “viết” cũng như làm một bổn phận theo nhu cầu chủ đạo của Siêu Chính Phủ, nói ra giùm những chiến lược quan trọng mà siêu chính phủ không thể công khai nói ra (tựa như ông Karl Heinrich Marx (1818-1883) không phải là tác giả thực sự của bản “Tuyên Ngôn Cộng Sản” (The Communist Manifesto, 1.2.1848), ông này được trả tiền để viết theo triết thuyết của một Hội nghị bí mật có tên “Hội Của Sự Công Chính” ( The League of the Just), một hội vòng ngoài của một Hội WIB lớn hơn là “Hội Dân Ba Lê Ngoài Pháp Luật” (The Parisian Outlaws League). Ông Kissinger có vài cuốn sách tiêu biểu như: The White House Years (1974); Years of Upheaval (1982); Years of Renewal (1999) v.v..nhưng trước đó trong năm 1957 ông “viết” một cuốn làm thay đổi quan niệm quốc phòng của Liên Bang Mỹ đến tận hôm nay, đó là cuốn “Những Vũ Khí Hạt Nhân và Chính Sách Đối Ngoại” (Nuclear Weapons and Foreign Polycy). Ngoài ra các “bài viết” của ông về đề tài chính trị, ngoại giao, quốc phòng v.v đăng trên các báo, tạp chí thì rất nhiều nhưng nói chung, tất cả những gì ông “viết” và “lách” theo đơn đặt hàng, cũng chỉ là cái loa dọn đường cho Siêu Chính Phủ và Hội Đồng Kỹ Nghệ Quốc Phòng (WIB). Chỉ nhằm biện hộ cho các “chính sách” trong quá khứ của “chính phủ” Mỹ mà siêu chính phủ điều khiển trong bóng tối. Hoặc ông “viết” cũng như thay mặt P.G nhắc khéo cho thiên hạ biết trước rằng “chính phủ” Mỹ sắp có một kế sách chiến lược chi đó trong tương lai! như roll-back hiện nay, vậy thôi, suy ra ông Henry A. Kissinger cũng chẳng là nhân tài, là anh hùng chi cả đối với nền “hoà bình” của nhân loại. Nhưng ông ta lại nham nhở đưa tay nhận giải “Nobel Hòa Bình” cũng do đám War Industries Board bày ra để thưởng công cho ông, trong khi Lê Đức Thọ nghe lời W A Harriman không nhận giải vì phải cưỡng chiếm miền nam và Cambodia theo lịnh của Harriman. Kissinger cũng không có chút công lao gì đối với một nước Mỹ đã bị mất chủ quyền vào tay Permanent Government và siêu quyền lực War Industies Board.
Ngược lại, chỉ riêng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam thôi, Kissinger đã sỉ nhục công chúng Mỹ khi lén lút thỏa hiệp với đối phương, Ông đã làm cho hàng chục triệu gia đình Mỹ, Việt Nam, Cam Bốt, Lào tới tận hôm nay vẫn còn sống với nhức nhối, khổ đau vì bị mất mát, chia rẽ và thù hận. Nghĩ cho cùng, những thế lực đứng trong bóng tối mới là những kẻ tội ác ngập đầu. Ông Kissinger cũng vì say mê danh lợi quyền lực nên bị lợi dụng, bị thế lực đó đẩy ra ngoài ánh sáng để nói những điều họ không thể nói ra, vì sẽ là tội phạm chiến tranh. Ông ta cũng như Siêu Chính Phủ và siêu quyền lực WIB chẳng có tài cán gì, chỉ là những kẻ biết vận dụng cách nắm quyền lực mà không cần lộ diện, [như tôi đã nêu đích danh William Averell Harriman, triều đại-1 Skull and Bones và triều đại-2, George H W Bush] biết cách tìm người đáng tin cậy, trao quyền để làm những gì có lợi cho mục tiêu cuối cùng của họ là thống trị toàn thế giới dưới nền “văn minh thực dụng” [Pragmatism] của Âu Châu. Vài năm gần đây ông Kissinger lại xuất hiện và tuyên bố vung vít đủ điều, nhưng thật ra đúng vào điễm móc thời gian ông sủa theo lệnh của Siêu Chính Phủ cho đúng trên trục lộ trình phải đi qua.
Tháng 5, 2011 ông ta ra mắt cuốn sách mới là On China (Penguin,2011) Như đã nói ở phần đầu, mổi khi ông này có “sách” mới thì đâu đó trong thiên hạ sắp có loạn to! Bởi nhờ có loạn thì siêu chính phủ mới có cớ đi chinh phạt và thâu tóm dần dần cũng như phát triển ảnh hưởng của mình. Và mầm mống của loạn lạc cũng do siêu chính phủ tạo ra từ trong bóng tối.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
12-12-2011, 02:40 PM
Trước năm 2010, TQ dương oai diệu võ hù doạ các nước nhược tiểu, tuyên bố vung-vít Biển Nam Hải là quyền lợi cốt lõi, đe doạ dùng vũ khí tối tân để tiêu diệt HKMH Mỹ, đe doạ Mỹ dám vào ao nhà Hoàng Hải tập trận, Mỹ không được quyền đụng đến Biển Đông vì ở xa, cũng không nên làm thêm phức tạp tình hình của những nước ĐNÁ, còn đối những nước nhỏ thì dở giọng côn-đồ đe doạ … tất cả những biến cố sự kiện nầy đều có trong dự mưu lịch trình Eurasian nhưng phải đợi đến 10 năm sau cùng (19202020) Mỹ mới có thái độ cho biết thế nào là sống cho phải đạo: “Đã nghèo khó được giúp đỡ chưa chi đã lên mặt!” Thế là bắt đầu 2010, một loạt sự kiện kiên quyết của Mỹ làm cho TQ phải co rút lại như con Đĩa phải Vôi, báo hại người Việt nhẹ bóng vía teo Bougie, sợ Cọp sợ cả cứt Cọp có nghĩa là sợ luôn TQ từ ngàn xưa tới nay.
Vừa qua, tuy Hoa Kỳ vẫn bảo tồn Mafia Nguyễn Tấn Dũng y chang như Lê Đức Thọ để lần lần huyền biến thành VNCH mà không phải nổ một tiếng súng, trái lại còn kiếm được một số tiền lớn tham nhũng của những tên chóp-bu Mafia (mà có người gọi là tư bản Đỏ) đang nằm trong ngân hàng, và lịch sử không muốn Mỹ phải tắm máu một lần nữa tại VN như thế kỷ vừa qua. Mỹ sẽ áp lực TQ đích thân giải quyết VN và Triều-Tiên theo ý Mỹ, Miến Điện và Trung đông sẽ được Mỹ nhúng tay vào cho trật tự thế giới mới (New World) bắt đầu 10 năm sau cùng (2010-2020)
“Nói tóm lại TQ bị bao vây chỉ còn con đường vào gọng kềm quỹ đạo của Mỹ”.

Theo thế chiến lược toàn cầu Âu-Á [Eurasian] của W.A Harriman: “Về lâu về dài [Hoa Kỳ] không thể mãi mãi để Trung Quốc nằm bên ngoài cộng đồng các quốc gia [LHQ] để nghiền ngẫm sự hoang tưởng, ôm ấp hận thù và đe dọa các nước láng giềng” Đó là lý do phải cách chức Tư Lệnh TBD của Tướng Mac Arthur hiếu chiến. Và chuẩn bị việc giải vây và kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng bế quan toả cảng, để sẽ đứng cùng phe với Hoa Kỳ làm cân bằng thế mạnh của Liên Bang Liên Xô đang thời kỳ có thể vượt qua Hoa Kỳ. Vả lại, mục đích của Siêu Chính Phủ (Permanent Government) là giải toả tình trạng cô lập của quốc gia đông dân nhất địa cầu – khi đó có hơn 500 triệu dân – hầu lập thế liên minh Mỹ-Hoa trong mối quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô Viết, tạo nên cái thế liên hoàn “Tam Quốc Chí” tân thời, nhưng đặc biệt Hoa Kỳ ở vị thế thượng phong là có quyền chọn bạn và kẻ thù, với châm ngôn: “Hoa Kỳ không bao giờ có người bạn lâu đời, cũng như kẻ thù truyền kiếp” Quyền lợi American First trên hết, và quyền lợi xác định thế liên minh. Người viết có một suy nghĩ, William Averell Harriman là một Gia Cát Lượng hoàn-vũ, và bỏ xa trong hạn hẹp của nội địa nước Tàu, độc giả có thể tìm thấy sách trong Internet “The Wise-Men”: Six Friends and the World They Made 1986 của 2 đồng tác giả Walter Isaacson và Evan Thomas, nhưng phải đợi vị thủ lãnh Harriman nầy qua đời ngày 26/7/1986 thì cuốn sách nầy mới được in ra. Có một chiếc hình nhạy cảm “Harriman nhe răng bắt tay Mac Arthur” chỉ được lộ ra vào đúng 50 năm Anniversary of the Korea War (1950-53)-(2000-03). Người viết tự suy diễn trong khi bắt tay nhe răng trắng xát cười “Tao sẽ lột chức mầy cho chừa cái tật ỷ là tướng tài ra trước Quốc Hội đòi dội Bom nguyên tử giải phóng lục địa” (Hình Volume-1, trang 41, THE NEW LEGION) Và đến 2023, Hoa kỳ cũng kỷ niệm y chang, chỉ khác dòng chữ là 50 years Anniversary of Vietnam War (1965-73)-(2015-23) nhưng lần nầy chắc hình bắt tay Mao-Nixon 1972.
Vì mục tiêu trên, SCP phải thành công mỹ mãn, với cái giá là đẩy một đồng minh là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) ra khỏi chiếc ghế Liên hiệp quốc và cách chức Tư Lệnh Chiến trường Mac Arthur, kế đến là tướng Westmoreland để khai tử chế độ VNCH. Vì thế cho nên, về mặt “nổi” cái gọi là đồng minh nam VN, “tiền đồn thế giới tự do” là Việt Nam Cộng Hoà, phải bị đẩy xuống biển – Câu chuyện ấy khiến người ta cần nhìn lại để còn nhìn tới, là Giáo sư danh dự về kinh tế học tại Howard University ở thủ đô Hoa Kỳ, ông Nguyễn Tiến Hưng từng làm Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng Hoà. Khi miền Nam hấp hối, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao cho các mật thư cam kết của Tổng thống Nixon và phái đi vận động viện trợ của Hoa Kỳ mà không thành. Vì cái Permanent Government nầy đã có kế hoạch đánh mất giá trị của các bức thư đó bằng vụ tai-tiếng Watergate theo lộ đồ của kế hoạch đã được thiết kế tỉ mỉ trước đó bởi Richard Helms.

Trong hai tuyển tập Vietnam War: The New Legion đã cung cấp thêm những văn kiện đã được Hoa Kỳ giải mật hoặc được tác giả sưu tập và kết hợp thành một chuỗi dài của bi thảm kịch 10.000 ngày, nhưng là một màn diễn phụ của vở bi-kịch 100 năm (1920-2020) nhầm trong tầm nhìn để đa số sử gia xem vụ lật đổ và ám sát ông Diệm-Nhu tháng 11/1963 là sự kiện cột mốc (Decent Interval) giúp mở đường cho sự leo thang và “Mỹ hóa” chấm dứt cuộc chiến nửa nạc nửa mỡ giữa quân đội Mỹ-Việt. Cuộc xung đột giai đoạn 1964 nhầm vào định kiến-2 (axiom-2: The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs, nên bằng mọi giá phải tạo dựng sự kiện Vịnh Bắc Việt để có cớ “trả-đũa”, không tuyên chiến để về sau rút lui danh dự nghe thuận lá nhĩ hơn).
Dù quan trọng về lịch sử như thế, nhân vật Ngô Đình Diệm vẫn được ít người hiểu đúng; Cho tới gần đây, hầu hết sách học thuật về ông Diệm chủ yếu dựa vào nghiên cứu các văn bản chính phủ Mỹ và các nguồn khác của Mỹ. Vài năm qua, một số học giả bắt đầu dùng nguồn tư liệu Việt Nam (gồm cả hồ sơ VNCH được lưu ở Việt Nam) Họ đã đem lại một số góc nhìn mới có giá trị về quyết định và chính sách của Diệm giai đoạn 1954-1963. Nếu được độc lập quyết định chính sách thì Cộng Sản như trong ao cá bị dẫy chết khi trong ao không còn nước qua Quốc sách “Ấp Chiến Lược” kềm theo “Chiêu Hồi”.
Nhưng cuộc đời và sự nghiệp trước 1954 của ông Diệm vẫn ít được khảo sát; các học giả vẫn còn tìm cách xác định những kinh nghiệm và tư tưởng đã định hình suy nghĩ của ông. Nói cách khác, chúng ta đã biết nhiều về những gì Ông Diệm làm, nhưng vẫn thật khó để hiểu ông ta là ai; Đa số sử gia xem vụ lật đổ và ám sát Diệm ngày 2 tháng 11.1963 là sự kiện cột mốc giúp mở đường cho sự leo thang và “Mỹ hóa” cuộc xung đột giai đoạn 1964-65 (1964 Tonkin Incident, 1965 Mỹ đổ bộ Đà-Nẳng) Vì theo phản tình báo CIA và KGB đã hoàn thành sau đại hội đảng thứ 15 vào tháng Tư 1959, trong năm ấy, phía Hà Nội đã theo lệnh KGB cách ly HCM, đưa Lê Duẩn về làm Quyền Tổng Bí Thư và Lê Đức Thọ vào nam thay thế Duẩn, riêng Mai Chí Thọ là con hùm xám, ngày ngày theo dõi HCM tưới cây Vú Sữa miền nam. Phiá Hà Nội thành lập 3 Đoàn trong năm 1959, Đoàn 559, 759, và 959 chuẩn bị năm tới 1960 thành lập MTGPMN, đồng thời Liên Xô rút hết cố vấn về nước. Thế là phía Mỹ cho ra đời sách lược Commando Vaught và huy chương Vietnam War Chiến Dịch Bội Tinh để cho quân tác chiến Mỹ sẽ qua tập trận, trừ Xa lộ Harriman (đường mòn Hồ).
Thoạt nhìn qua, mỗi cách nhìn kể trên đều có vẻ khả tín, nhưng khi xem xét kỹ, rõ là tất cả chúng chỉ bị bóp méo cho một mục tiêu nào đó hơn là tiết lộ bản chất nhân vật kể cả phía ông HCM; Sự thật hai Cụ chỉ là công-cụ của Mỹ hay là một trái Cam khi vắt hết nước rồi thì liệng vào thùng rác
Theo tôi, ngoài Cụ Diệm ra so với Cụ Hồ, với cái nhìn công bằng trong con mắt của sử gia hậu cận đại, xuyên qua đối chứng các tài liệu có thật dính-dấp với liên hệ thực tế, nhìn một cách công bằng hơn và nếu chưa xét đến cách thức giành quyền lực thì cái chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) do cụ HCM góp phần lớn dựng lên đã có giai đoạn đầu đi theo xu thế dân-chủ. Trong giai đoạn đó cụ Hồ đã đồng ý hợp tác với các đảng phái quốc gia khác như Việt Quốc, Việt Cách để thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH, đã tổ chức bầu cử thành lập cơ quan lập pháp theo thể thức phổ thông đầu phiếu, tự do với sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau, đã thành lập ủy ban soạn thảo hiến pháp và đặc biệt là nội dung của Hiến pháp 1946, hoàn toàn sao y theo bản thảo Hoa Kỳ với mong ước nước nầy có dư thừa quyền hạn bảo vệ VN như Philippines, dù còn thiếu sót, đã xác lập được một số nguyên tắc dân chủ cơ bản cho thể chế chính trị và xác định trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ một số quyền cơ bản của con người của thể chế chính trị. Cho dù giai đoạn đó là rất ngắn chưa đầy 1 năm, nếu kể từ ngày thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời VNDCCH (1/1/1946) cho đến ngày Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua (9/11/1946) và nếu tạm chưa xét đến các cách thức cạnh tranh của Việt Minh với các đảng phái quốc gia khác, nhưng khó có thể phủ nhận chính thể VNDCCH lúc đó đã tạo dựng được một số định chế cơ bản của dân chủ.
Chỉ sau giai đoạn đó hình thể VNDCCH (vẫn do cụ Hồ đứng đầu, nhưng không có cụ) mỗi ngày càng mất dần đi tính dân chủ và sau đó hoàn toàn trở thành một chính thể độc tài kiểu toàn trị cộng sản, nhưng thực sự trục ma-quỹ đã áp đặt đây là một chính thể toàn trị Mafia nhưng bao quanh lớp võ bề ngoài bằng Cộng Sản để cho thế giới biết mục tiêu mà lên án hầu quên đi cái thế lực ghê gớm sau hậu trường Mỹ (The Harrimans and Bushes). Ðại hội đảng 15, tháng 4/1959 đánh dấu ngày công cụ Mafia Lê Ðức Thọ lên nắm chính quyền và HCM đi vào bóng tối, bằng cách chỉ định Lê Duẩn từ trong nam về Hà Nội làm quyền Tổng bí thư.
Theo tôi, từ lúc nầy, (decent interval) cột mốc rõ nhất cho sự phi dân chủ hóa để trở thành độc tài toàn trị cộng sản của chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một cái tên rất dân chủ, là việc Đảng Lao Động Việt Nam phát động Cải cách ruộng đất theo huấn thị của Mao, được cụ Hồ gọi là cuộc “cách mạng long trời lở đất”, vào năm 1953. Bao trùm toàn bộ cuộc “cách mạng” này là sự tùy tiện của chính phủ cụ Hồ trong việc bắt giữ, hành hạ, bắn giết, tịch thu gia sản đối với hàng trăm nghìn người Việt Nam. Các thủ tục tư pháp thông thường đã có từ thời thực dân Pháp hay các qui định phải tôn trọng pháp luật và quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp 1946 đều không được đếm xỉa nữa trong Cải cách ruộng đất vì phải nghe theo sự chỉ giáo của Mao. Làm sao Cụ Hồ biết được Mao được tình báo Mỹ giúp đở ngầm ý bắt cóc áp-tải Tưởng Giới Thạch và phe phái ra đảo Ðài Loan bằng phi đội CAT của CIA vừa thành lập; Mục đích để cho Mao thống nhứt lục địa có điều kiện chia 2 nước Triều Tiên và VN để cho Mỹ có cơ hội khuấy động chiến tranh hòng tiêu thụ số lớn vũ khí thặng dư hồi thế chiến-2 còn tồn kho, đồng thời biến 2 nơi nầy thành 2 bãi chiến trường theo dư mưu của chiến lược gia George Kennan, và đương kiêm Ðại sứ Mỹ tại Liên-Xô, William Averell Harriman, liên kết với chương trình “Aid to Russia 1941-1946 Plan” sau khi Mỹ và LX bắt được một mớ nhà bác-học Ðức, việc ưu-tiên một cho quốc phòng là lấy chiến tranh Triều Tiên để thí nghiệm ưu tiên vũ-khí quốc phòng qua thế-hệ phản lực (Nga: Mig 15, 17 và Mỹ: F-84, 86) còn Việt Nam qua kỹ nghệ Hàng Không Dân Dụng như Boeing và Trực thăng phản lực. Vì thế Mỹ không có con đường nào khác, bắt buộc phải loại bỏ hai Cụ Diệm và Hồ (vì hai cụ là bạn của Mỹ chớ không phải người của Mỹ) cho mục tiêu sống còn của tư bản Mỹ (War Industries Board).
Theo tôi việc đánh giá cụ Hồ một cách toàn diện còn là một việc không dễ dàng và rất dễ gây tranh cãi, bất hòa bởi các thông tin về cụ Hồ chưa được bạch hóa một cách rộng rãi và nhiều người vẫn giữ nếp nghĩ theo lối duy cảm, tôn sùng thần tượng. Nhiều thông tin về cụ Hồ còn mơ hồ và ngay bản thân cụ Hồ khi sinh thời lại rất kín đáo về quá trình hoạt động và về đời tư của cụ. Chẳng hạn như ngay ngày sinh, nơi chôn nhau cắt rốn hay ông nội của cụ là ai vẫn là một vấn đề tranh cãi. Ở đây tôi chỉ muốn xét riêng dưới góc độ dân chủ và chỉ căn cứ vào những sự kiện đã rõ ràng thì tôi cho rằng cụ Hồ không phải là một chính trị gia không có lý tưởng dân chủ. Chỉ cần căn cứ vào một số sự kiện và chính sách của chính phủ VNDCCH khi cụ Hồ cầm quyền từ 1946 đến khi Cụ Hồ bị bọn Mafia Lê Ðức Thọ tháng 4/1959 thì chúng ta có thể thấy rõ. Tứ 1959 Mỹ dựng lên một bạo-quyền đặc-chế siêu Mafia và cương quyết bảo vệ sự bền vững của chế độ thảo-khấu nầy cho đến khi CIA tạo ra cuốn DVD sự thật về HCM, đây là điểm mốc giựt xập bức tường thép mà bấy lâu nay ÐCSVN dựa dẫm … để dần-dà thật sự xây dựng một nước VNCH hoàn toàn theo Mỹ.
-Thứ nhất, sau khi Cụ bị tước hết quyền hành, và nói đến dân chủ là phải nói đến tinh thần tôn trọng ý kiến khác biệt, tôn trọng phe đối lập, phải coi những gì đối lập với mình là sự tồn tại tự nhiên và cần thiết. Tự nhiên là vì không có một xã hội nào mà tất cả mọi người đều có cùng một ý kiến trên cùng một vấn đề: Cần thiết là vì đối lập giúp cho mỗi người ít nhất cũng giảm được khả năng sai lầm, ngộ nhận hay tự phụ. Nhưng bất hạnh thay chính phủ của cụ Hồ nhưng không có Cụ Hồ, cuối cùng đã không để cho một thành phần đối lập hay một đảng đối lập nào có thể tồn tại. Riêng Đảng Dân chủ hay Đảng Xã hội, những đảng vẫn tồn tại sau năm 1954 trên miền Bắc, thực chất chỉ là những tổ chức được xáp nhập vào Đảng “Lao-Động” Việt Nam, nó cũng tưa tựa đồng nghĩa với đảng “Cần-Lao” của cụ Diệm, điều nầy chắc không ai hiểu nổi tình báo Mỹ đã sấp-xếp như như vậy cho mưu đồ chính lược. Trên danh nghĩa bị hội nhập vào cái gọi là của cụ Hồ mà thôi, khó ai mà phát hiện được một thế lực ghê gớm đã nhào nắn ra nó để tái phát động chiến tranh
-Thứ hai, cụ Hồ là một trong những người đóng vai trò chính trong việc lập ra Hiến pháp năm 1959 vì áp lực của Tam đầu chế: Ðức Thọ, Chí Thọ, và Lê Duẩn qua cái ách của KGB và CIA cho trò chơi chiến tranh dơ-bẩn qua chương trình CIP/NLF của Mỹ/LX. Vì thế, bản Hiến pháp 1959 không chỉ được thiết lập một cách vi hiến do cái thế lực ma quỷ nầy (theo qui định của bản Hiến pháp 1946) mà còn xóa đi hết tinh thần tiến bộ và dân chủ đã có trong bản Hiến pháp 1946 do chính cụ Hồ ôm-ấp, mục đích để trục ma-quỷ khuấy động lại chiến tranh.
Hiến pháp 1959 đã mở đầu cho tính đảng Mafia trị, tính lãnh-tụ, và tính độc-tài toàn trị trở thành nền tảng cơ bản trong các bản hiến pháp tiếp theo mà theo dự trù chiến lược Mỹ, phải bảo vệ chế độ toàn trị Mafia nầy trong hơn một nửa thế kỷ cho sách lược Eurasian 100 năm. Chính Hiến pháp 1959 đã biến Quốc hội, kể từ đó, trở thành một cơ quan bù nhìn không hơn không kém, một cơ quan cấp dưới của Mafia (nhưng lớp bọc ngoài là Đảng Cộng Sản Việt Nam) nhưng sự thật là đảng Mafia do trục ma-quỷ dựng lên cho chúng dựa-dẫm núp dưới bức tường thép HCM, cho dù cụ Hồ chết, Lê Đức Thọ cũng phải để cái ghế trống Chủ tịch đảng chỉ dành riêng duy nhứt cho cụ mà thôi cho đến ngày (decent interval) cuốn DVD ra đời của linh muc Nguyễn Hữu Lễ mới là lúc đập-đổ thần tượng nầy và trả lại tánh trung thực cho lich sử, có nghĩa lật mặt nạ cái bọn đầu Trâu mặt Ngựa siêu Mafia nầy để dần-dà thay vào một chế độ VNCH dân chủ và giàu mạnh tại vùng ÐNÁ. Và cũng chính từ năm 1959, Bộ Tư pháp (một nhánh quyền lực độc lập quan trọng của chế độ dân chủ) bị xóa hẳn cho đến tận năm 1981 mới được lập lại nhưng cũng chỉ là một cơ quan của Đảng Mafia (Cộng Sản Việt Nam thôi).
-Thứ ba, sau khi quyền lực chính trị (ở miền Bắc) đã hoàn toàn do đảng Mafia không còn của cụ Hồ nhưng thật ra trong tay Lê Ðức Thọ nắm giữ thì những quyền tự do cơ bản của dân như quyền ra báo tư nhân, quyền xuất bản tư nhân, quyền hội họp và lập hội mà cụ Hồ đã đòi hỏi thực dân Pháp phải trao đầy đủ hơn cho người dân Việt trước đây cũng dần biến mất hẳn trên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì cụ Hồ làm chủ tịch bù-nhìn. Ngay cả một vấn đề mà chính cụ Hồ là người chắc phải rất thấm thía về ích lợi của nó là tính độc lập và tuân thủ pháp luật của tòa án khi cụ Hồ bị bắt và đưa ra tòa tại Hồng Kông vào năm 1932, chúng ta cũng không thấy cụ Hồ đả động gì đến cũng chỉ vì quyền hạn ở trong tay tam-đầu-chế Mafia nầy, khi diễn ra hàng loạt những vụ tống giam không cần xét xử hoặc xét xử hết sức chiếu lệ các trí thức, nhân sĩ trong các vụ án Nhân văn-Giai phẩm hay vụ án Xét lại chống Đảng, tất cả hành động tàn bạo nầy đều nằm trong tay sinh sát của trùm mật vụ Mai Chí Thọ.
Nhưng có nguồn tin cho rằng HCM đã có lúc bị khống chế hay chịu sức ép của lãnh đạo nước ngoài hay của các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam như Lê Ðức Thọ, Lê Duẩn… chúng ta nên tìm hiểu sự kiện nầy trong Library of Congress!
Nếu giả thuyết đó là đúng thì theo tôi cụ Hồ vẫn còn nguyên quyền và lương tâm để phản đối hay ly khai với những khống chế hay sức ép phi dân chủ đó. Chưa nói đến trách nhiệm của một nguyên thủ quốc gia là phải đặt mục tiêu phụng sự lợi ích dân tộc, đất nước lên hàng đầu; Các lãnh đạo quốc gia có lý tưởng dân chủ và bản lĩnh bao giờ cũng xử sự như thế, nhưng sự thật Cụ Hồ đã bị tước đoạt hết quyền hành, chỉ còn là một người máy biết nói theo những gi bọn Thọ mớm, vì uy-tín trong vấn đề thể hiện qua những cuộc hop ngoại giao. Nhưng chúng ta hầu như chưa bao giờ thấy cụ Hồ phàn nàn gì về quan hệ của cụ với các đồng sự khác trong Đảng Cộng Sản Việt Nam hay với lãnh đạo các nước “anh em’ như Stalin hay Mao Trạch Đông. Do đó giả thuyết trên khó biện hộ hay thuyết phục làm giảm đi trách nhiệm của cụ Hồ trong những hành động tàn nhẫn, phi dân chủ của chính thể VNDCCH. Những sự kiện nầy tôi nghĩ các sử gia hậu cận đại sẽ lý giải rõ hơn cho một nhân vật bị quá nhiều hàm oan nghiệp chướng.
Ông Tống Văn Công, một đảng viên cộng sản lão thành, cựu tổng biên tập báo Lao Động, người đã có nhiều bài viết ủng hộ cho việc cải cách chính trị, trong một bài viết gần đây có trích dẫn câu nói của HCM “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” và cho rằng đây là nội dung cốt lõi về dân chủ mà HCM đã nhấn mạnh. Theo tôi cốt lõi của dân chủ nằm ở chỗ phải xây dựng được các định chế dân chủ (democratic institutions) và bảo đãm cho sự vận hành (practice) các định chế đó được đúng đắn, đầy đủ, không bị cắt xén hay bóp méo nhằm bảo-đảm để những người nắm quyền là những người được lựa chọn từ những người có khả năng nhất trong xã hội và họ phải có trách nhiệm trước xã hội. Nói một cách giản dị là phải tạo ra các công cụ để người dân, người bị trị có thể “đuổi được chính phủ” bất kỳ lúc nào họ muốn. Vậy vấn đề là người dân trước tiên phải nhận thức được và tự tin vào sức mạnh của quyền năng tự có và từng bước đoàn kết, nỗ lực để cùng nhau giành lại các quyền cơ bản từ tay những kẻ cầm quyền độc đoán. Xã hội Việt Nam đã bắt đầu có dấu hiệu của sự nhận thức đó và nỗ lực đó rồi, tuy nhiên còn yếu và chưa đủ, nhưng cái gì chả bắt đầu từ ít và yếu như hiện nay tại Việt Nam.
Kính trọng lòng yêu nước của cụ HCM là điều phải có, nhưng tôn thờ thần thánh hoá là không thể bắt buộc mọi người, nhưng phản gián CIA buộc tam-đầu chế nầy phải dựng lên thần tượng HCM để núp dưới hòn đá tảng nầy mà độc tài chuyên chính. Không ai có thể phủ nhận lòng yêu nước của cụ HCM, trong cuộc kháng chiến chống Pháp; nhưng sự độc tài thống trị theo thể chế độc quyền của đảng với thời gian, cho thấy sự sai lầm to lớn, nhưng không thể trách Cu HCM chỉ vì cụ là bù nhìn, ai đem cái gọi là hạt giống Mác Lê cấy vào dân tộc và đất nước VN, nhưng sự thật là một chế độ Mafia chuyên chính do CIA và KGB dựng lên cho cuộc chiến bẩn thỉu. Khởi điểm đó là nguyên nhân chính yếu, để thế lực bên ngoài xen vào chia đôi đất nước ta, gây phân hoá Bắc Nam, tạo nên cảnh huynh đệ tương tàn, xua quân ồ ạt vào Nam, bắn giết đồng bào mình nhân danh “Chống Mỹ Cứu Nước, Giải Phóng Dân Tộc” thật vô cùng khốn nạn cho dân tộc Việt. Lấy chống Pháp chống Mỹ làm bình phong, thủ tiêu thành phần yêu nước không CS, gây phân hoá Bắc Nam cho đất nước, tạo hận thù giai cấp trong cộng đồng dân tộc VN. Tội ác to lớn đó, công cụ gián tiếp của Mỹ là ÐCSVN có thể bưng bít với thành phần trẻ hiện nay, nhưng khó che lấp trước thành phần yêu nước, từng sống trong giai đoạn 1945-54 và suốt hơn 20 năm nội chiến. Chính sự chia rẽ đất nước dân tộc, dẫn đến HS-TS-VN bị CSTQ cưởng chiếm, CSVN chính là đầu mối, dẩn lối đưa đường cho ÐCS/TQ lấn chiếm VN.
Cụ HCM đã là chuyện lịch sử, để lịch sử toàn dân Việt phân định phán xét, không một cá nhân hay đảng phái phê phán mà có được giá trị, kể cả ÐCSVN. Phán xét hay tôn thờ sẽ không còn có giá trị với thời gian, bởi cái gì ngày hôm nay được tung hô có thể ngày mai bi đả-đảo. Vì SỰ THẬT không bao giờ có thể che đậy dưới ánh mặt trời chơn lý; Sự xụp đổ tiêu vong của thế giới CS, sẽ phải đánh giá lại tất cả những gì đã sai lầm trước đây; Những sai lầm mà bắt cả dân tộc VN phải gánh chiụ gần suốt thế kỷ, về lâu về dài với gốc rễ Mác Lê còn mãi ăn sâu. Tuy nhiên nhân vật HCM là nhân vật bí ẩn nên cần tìm hiểu toàn diện trước khi khen chê toàn diện; Chúng ta nói nhiều đến dân chủ quá, lại cứ đi chê cụ Hồ. Ngày xưa cụ ra đi tìm con đường để thực hiện lý tưởng của mình và cụ là con người của hành động, nói là làm, và làm cho tới khi thành công. Mặc dù thành công này theo như mọi người thì phải để lịch sử phán xét. Nhưng còn hơn những kẻ chỉ biết nói suông, nếu chúng ta có lý tưởng thì hãy hành động để thực hiện hóa nó đi, cho nên có người cho rằng cụ HCM được thán-phục không phải vì sự thắng lợi của cụ mà vì sự phản bội của Mỹ! Cái gì cũng có lý do của nó tại sao hiến pháp 1959 phải sửa đổi cho phù hợp với âm mưu của Mỹ muốn khuấy động lại chiến tranh, và muốn có được sự ủng hộ của phe CNXH, Liên Xô và Trung Quốc nếu không có sự ủng hộ đó thì có giải phóng miền nam được không? Tại sao cụ Hồ chỉ nói là sau giải phóng miền nam phải chỉnh đốn đảng vì làm sao cu biết được lúc đó phe XHCN sẽ ủng hộ như trước hay không! Tôi thật thán phục cụ Hồ, một người yêu nước và một vĩ nhân của nhân loại. Người là sự kết hợp nhuần nhuyễn phong cách sống đơn giản của Phật, tổ chức chặt chẽ của Chúa, tư tưởng xã hội bình đẳng, cuộc chiến chống xâm lăng, trong đường lối xây dựng đất nước và con người VN. Tôi chỉ học được ở cụ HCM là một người rất tài về cơ hội, đây là lúc phải vùng lên để giành cơ hội thay đổi thể chế chính trị cho đất nước được tự do như phương Tây có nghĩa là một nước VNCH y chang hiến pháp của Mỹ mà cụ Hồ đã ấp ủ và bắt chước như khuôn vàng thước ngọc, nhưng tại sao Mỹ không bảo trợ thì chúng ta cũng thừa hiểu vì American First.
Trở về với cụ HCM, thời kỳ 1945 ai ai cũng thán phục cụ Hồ. Người dân trân trọng yêu kính Cụ, mỗi lần chúng ta thời đó vào Bưng Biền thăm người thân và bộ đội cụ Hồ, ai cũng xin cho được bức ảnh cu Hồ. Tôi tự hỏi, tại sao đã đuổi Tây, Nhật mà người Việt vẫn đánh nhau? Tôi tìm hiểu qua sách vở sử liệụ về HCM, phải công nhận cụ ta rất giỏi, nhiều người bật khóc khi nghe những câu chuyện “xúc động” về cụ mặc dù chưa gặp cụ lần nào, nhưng tất cả đều bị nhồi sọ, có thể trên thực tế, cụ chỉ là một con người tầm thường, nhưng chịu dấn thân nằm gai nếm mật tại hang Patpo như đã lỡ lầm theo lệnh của OSS rồi CIA cũng chỉ vì độc lập tự do cho dân Việt, và nhờ truyền thông CS biến cụ thành một vị thánh, nhiều nhà còn thờ Bác trong nhà. Sự việc nầy là CS quá giỏi hay phản gián CIA quá giỏi đã che mắt thế gian một cách thần sầu quỷ khóc. HCM cũng khát vọng muốn nhờ Mỹ giúp để phục hồi độc lập như Philippine, song lúc đó Mỹ cần phải khuấy động lại chiến tranh như tôi đã nêu lý-do ở trên, nên Mỹ thẳng thừng từ chối vì kẹt phải nhờ Pháp gây chiến tranh để tiêu thụ bớt số vũ khí quân dụng thặng dư còn đình đọng quá nhiều và Mỹ cũng muốn đem quân vào Việt Nam để thực thi sách lược CIP rất cần thiết cho sự sống còn của kỹ nghệ quốc phòng WIB.
HCM không còn lựa chọn nào khác hơn là phải ngã theo Cộng Sản theo như ý đồ cũa Permanent Government, rất tiếc HCM liền bị Liên Xô Trung Cộng kềm kẹp cứng ngắc trong xà lim CSCN suốt đời không thể dẫy-dụa được, lỗi của ai? Giờ đây CSCN đã chết và HCM đã mất, dân Việt có dịp tự cởi trói xiềng xích Cộng nô cho chính mình và còn chờ đợi gì nữa mà không hòa hợp hòa giải dân tộc; HCM thật sự thương dân nhưng không biết làm sao ngăn chận vi mình là một nước nhược tiểu bi các nước lớn chèn ép xúi dục phải nhảy vào cuộc chiến tương tàn qua trục ma-quỷ nầy dựng lên một bè lũ Mafia và dựng lên một chính phủ bù nhìn để dấn thân làm công cụ cho bọn chúng. Riêng cụ Hồ không bao giờ để xảy ra chiến tranh, không bao giờ xúi đi “giải phóng” miền Nam bởi như thế sẽ gây ra cuộc chiến chém giết giữa người Việt với nhau. Vì câu tuyên bố qua bút tích “Miền Nam trung lập, độc lập và giàu mạnh” nên cụ HCM mới bị bọn ma-quỷ nầy cách ly, tước hết mọi quyền hành; Cụ cho rằng thà để mạnh miền nào miền nấy phát triển rồi tìm dịp thống nhất trong hòa bình như trước, nên cụ đã ra lệnh rút 100.000 quân về bắc.
Khi cụ Diệm sắp bị lật đổ, cả hai cụ đã toan cùng hiệp thương với hai miền mà có được với Mỹ đâu (như Đông,Tây Đức) hoặc cứ để nguyên vậy như Đài Loan, TQ, Nam, Bắc Triều Tiên còn hơn là dùng chiến tranh để thống nhất đất nước để rồi gây ra những vết thương cho lịch sử dân tộc mà không bao giờ lành. Trước đây “nhờ”có thực dân Pháp nên VN tạm thời thoát khỏi ảnh hưởng của TQ kéo dài hàng ngàn năm, tuy nhiên sau khi đuổi được Pháp, cái ám ảnh ngàn năm của đất nước là TQ lại có lý do trở lại và ngày càng dọa nạt, bắt chẹt, chiêu dụ, lấn ép VN hơn bao giờ hết. Trong những rối rắm bít bùng như thế, đảng lại đem chiêu bài HCM ra gán cho ông những cái tốt mà ông không có để đánh lạc hướng dư luận, xem ra tội nghiệp cho cu Hồ, chết rồi mà cũng không được để cho yên thân.
Nếu mà mọi người đều cảm thấy cụ Hồ là một vĩ-nhân, một thánh nhân, một nhà tư tưởng có giá trị của VN thì đây cũng có thể họ bị lừa bịp bởi CSVN đã thêu dệt, Thần thánh hóa cụ Hồ để đem lợi ích chinh trị đến với tính cách bip bợm và cực kỳ nguy hiểm để làm lợi ích cho CSVN mà thôi! Ðất nước VN người dân thường bị đánh lừa! và kẻ lừa bip thì chẳng ai còn xa lạ! Ðể rồi mới vỡ lẽ! Tôi không theo Cộng Sản, tôi cũng không theo Quốc Gia, tôi không chống ai hết, nhưng tôi biết phân biệt phán đoán: Trên diễn đàn này tôi chỉ nói lên tiếng nói của cá nhân, của sự hiểu biết của tôi. Cho dù tiếng nói của tôi đơn độc thì tôi viết tôi nói cho tôi nghe, có thể cho anh nghe nữa! Tôi viết để tôi đọc, tôi cũng như các sử gia thuộc trường phái hậu-cận-đại, bắt đầu từ 2023, (sau 50 năm người lính chiến Mỹ rời khỏi VN, vào năm nầy tôi đã chết)… Có thể thấy tôi lập dị, nhưng thà lập dị, sống trong mộng ảo hoang tưởng còn hơn là sống trong sự thật, vì sự thật quá phũ phàng, quá tàn nhẫn đau thương… Thà nói chuyện với cây lá cỏ hoa mà thấy mình thanh thản hơn bàn thảo với người chung quanh mình, vì họ chả biết cái đếch gì mà Mỹ đã đặt họ là “Bãi cứt Trâu để lâu hoá bùn”, Họ chết là hết!

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
12-19-2011, 04:57 PM
Từ lâu Mafia-VN là công cụ của Mỹ

Muốn giải quyết chiến tranh mà không cần tàn phá hay đổ máu, bằng cách nào và bằng cái gì từ vệ tinh bay cùng tốc độ với trái dất (stationary spy satellite project) hay phi thuyền bắn tỏa xuống hàn-âm-khí để làm cho mùa Đông giá lạnh ở Liên-Xô hoàn toàn khô ráo, không ẩm ướt nghĩa là không có tuyết làm cho hột lúa bi freezing đi đến ung thúi…đây có thể là một trong nhiều bí mật chiến tranh siêu vũ khí (hi-tech, đọc giả đừng bắt tôi phải giải thích) mà không tài nào phát hiện nổi! Vì do vấn đề thiếu lương thực trầm trọng, người Nga hiểu rằng nếu đánh nhau với Mỹ thì thua và chết hết. Trung-Cộng sẽ tràn lên tiến chiếm Tây-Bá-Lợi-Á phì nhiêu đầy tài nguyên thiên nhiên chưa từng được khai thác, Harriman cũng hiểu rằng nếu đánh nhau với Liên-Xô thì hầu như cả Thế-giới sẽ chết hết, chỉ còn người Tàu làm bá chủ Thế-giới. Nga Mỹ tính toán chiến lược thế nào thì vẫn nhìn thấy Trung-Quốc là kẻ thù chung của cả Nga lẫn Mỹ, nó nằm chình ình ra đó trước mắt. Vậy tốt nhất là áp dụng biện pháp Tam-Quốc-Chí tân thời của Tàu, là Nga và Mỹ cùng bắt tay hợp tác, cùng tiêu diệt Trung-Quốc để trừ hậu hoạn, đó là lý do chiến lược gia có tầm cỡ quốc-tế như W.A.Harriman phải viết cho ra hai tác-phẩm: Liên Xô và Hoa kỳ xiết tay nắm giữ an toàn cho vận-mệnh thế giới: Sách-1 “Peace with Russia” Sách-2 “America and Russia a Changing World”.
Khi cần phải giải thể chế độ CS, Đế-quốc Liên-Xô để cứu nước Nga thì người dân Nga làm một cái rụp, và chỉ cần qua một đêm là thế giới thoát khỏi chiến tranh lạnh và hiểm họa chiến tranh nguyên tử. Còn CS Trung-Quốc thì mãi đến năm 2003 mới chịu công khai giải thể Cộng-Sản nhưng chỉ còn chế độ Tư-Bản Đỏ với chủ trương “Đế-quốc bành trướng công an trị” Còn Viet Nam vì trình độ dân trí còn quá thấp không thể đa đảng ngay sẽ có đẫm máu tức thì mà phải độc đảng Mafia độc tài công an trị một thời gian và biến hoá từ từ (nhưng mặt nổi cứ gọi là chế độ CS để phỉnh gạt một số NVHN, đánh lạc hướng về mục tiêu siêu chiến lược của Mỹ, nếu NVHN có tầm nhìn sâu sắc thì họ sẽ phát hiện ngay: Tại sao NVHN gởi về mỗi năm 6, 7 tỉ dollar, còn người Cuba không được gởi về nước?) và chuyển tiếp từ từ bằng quyền lực nằm gọn trong tay Quốc hội VN để sau cùng thành một nước dân quyền dân chủ 2023, sau 50 năm người lính Mỹ rời khỏi VN, đồng thời hoàn toàn hoá giải ”Hội chứng VN” và đem danh dự cho 60 binh si Mỹ hy sinh cho một nước VN độc lập thống nhứt và giàu mạnh.

Để bảo đảm vững chắc, lâu dài vị thế bá chủ của mình trong viễn cảnh siêu chiến lược toàn cầu Eurasia, kể từ khi Liên-Xô hoàn toàn lui về vị thế thủ và chấm dứt chiến tranh lạnh, Hoa-kỳ đang trên đà phát triển “Dân chủ hóa” và “Kinh tế thị trường” Những đời Tổng-thống vừa qua cũng phải đi theo con đường mà Siêu-Chánh-Phủ (War Industries Board) đã vạch sẵn, và ‘siêu-chiến-lược’ nầy được xem như phương cách duy nhất để bảo đảm bền vững và lâu dài chính sách của Hoa-kỳ trong trật tự thế giới mới mà WIB gọi là “The New World”.
Đặc biệt với Trung-Quốc, đứng trên quan điểm chính thức của Hoa-kỳ là hoan nghênh sự phát triển thịnh vượng của một nước Trung-Quốc hiếu hòa để trở thành một nhân tố tích cực vì lợi ích trong cộng đồng Thế-giới; Thực ra trong thâm tâm, Trung-Quốc rất thèm khát như vậy, cho nên trong chiến tranh chống khủng bố mà Hoa-kỳ phát động từ ngày 11/Sept/2,001, Trung-Quốc đã có một vài đóng góp tích cực để làm hài lòng Hoa-kỳ. Tuy nhiên kể từ khi Hoa-kỳ tung ra chiến lược ‘đánh phủ đầu’ và tấn công Iraq thì Trung-Quốc bắt đầu lo sợ nguy hại đến quyền lợi của mình. Vì Mao và Đặng Tiểu Bình đã đoán trước Mỹ sẽ qua chiếm vòi xăng Trung Đông trước rồi trở về lại thăm cái bẫy Hoàng Sa 1974 vừa sập xuống mà con mồi khổng lồ đang vướng nằm trong bẫy.
Thêm vào đó Trung-Quốc cũng than thân trách phận, tự cảm nhận rằng, mặc dù ngày nay hai nước liên hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế nhưng chưa bao giờ Hoa-kỳ ngỏ lời với Trung-Quốc như một đối tác chính trị để cùng gìn-giữ hoà bình Thế-giới, mà chỉ o-bế Viet Nam như là một nhân tình mơn mởn đầy hấp dẫn, quyến rủ. Hiện rõ qua hành động Hoa-kỳ đã thành lập “Bộ Tư- Lệnh Thái-Bình-Dương”PACOM (đã có từ lâu sĩ quan Việt Nam tu nghiệp phối hợp quân-sự tại Hawaii) đã khiến cho những nhà lãnh đạo Trung-Quốc giật mình và đoán chắc trong suy nghĩ kiên định: Sau khi nắm vòi xăng Trung Đông, Mỹ sẽ đem quân về lại làm đầu cầu tại miền cực bắc nước Úc để răng đe TQ không được làm ẩu. Trung-Quốc tự cảm thấy họ đang bị bao vây và có nguy cơ bị tấn công bất cứ lúc nào bởi một đối thủ đã từng thất tín với đồng minh, mà lại có tìm năng nguyên tử mạnh nhất Thế-giới và những phản ứng cực kỳ nguy hiểm trong nháy mắt có thể hủy diệt Thế-giới mà chắc chắn Trung-Quốc không kịp đối phó.
Sau chiến tranh lạnh, thế chiến lược quân sự của Hoa-kỳ tại Thái-Bình-Dương và trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, Hệ thống quân sự đó là Bộ Chỉ-Huy Thái-Bình-Dương PACOM được dựng lên để đương đầu với những chuyển biến chính trị và quân sự bất thần xảy ra, có thể làm tổn hại đến thế quân bình lực lượng trong vùng. Và đây là trọng tâm chiến lược của Hoa-Kỳ trên toàn thế giới mà họ gọi là “Overhauling the damage control” Nó đặt trụ sở tại Honolulu, nơi mà nhiều năm nay, các Sĩ-quan Việt Nam Mới (Chế độ Mafia-VN, công cụ của Mỹchớ bản chất không phải CSVN) do kế hoạch chiến lược của kiến trúc sư Harriman đã thiết kế ‘CIP-1960’(để CS chiếm Miền-Nam rồi Việt-Nam sẽ được vĩnh viễn miễn nhiễm Cộng-Sản, như là mũi thuốc tiêm ngừa CS “Communist-Vaccination for immunization” hay nói trắng ra là Việt-Nam sẽ là một nước VNCH nguyên vẹn lớn hơn cho quyền lợi Mỹ. Nhưng việc nầy không xảy ra tức thì, (Mỹ và Trung-Quốc chưa đụng độ) nên 2 cuốn sách nầy đã chưa chứng minh đi đúng thời cuộc mà lại quá sớm theo như sự diễn tiến hòa bình từ từ nhưng khá vững chắc, tuy phức tạp do Hoa-Kỳ chủ đạo, và theo sau đó là “Món nợ Hội-Chứng Việt-Nam vẫn còn đó chưa giải quyết được và chỉ giãi quyết 50 commemoration anniversary 2023”.
Rồi sẽ giải quyết được khi Hoa Kỳ ăn-mừng 50 năm chiến tranh Việt Nam vào khoảng 2.023; lúc nầy đối với Việt Nam, Hoa kỳ có công xây dựng thống nhứt thành Một VN trong khi Trung Cộng và Liên Xô đã đồng ý chia đôi qua Hiệp định Genève 1954 chỉ riêng có một mình Mỹ không có chữ ký, nhưng trọng tâm Mỹ chỉ nhìn nhận Miền Nam có hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa đã thành văn trong nội-quy Hiệp định Genève, đây cũng là âm mưu chiến lược tối mật về quốc phòng của Mỹ sẽ bức tử VNCH và lấy chiếc ghế LHQ từ Trung Hoa Quốc Gia cho Trung-Cộng ngồi vào học luật. Vì thế phải cách chức Tư lệnh chiến trường của 2 danh tướng Mc Arthur và Westmoreland.
Sĩ-quan chế độ Mafia-VN nầy cũng được gởi sang sớm nhứt để thụ huấn binh pháp và chiến lược của Hoa-kỳ hầu sau nầy khi cần phải phối hợp hành quân liên minh với PACOM, mục đích thâu-hồi lại Đảo Hoàng-Sa và Trường Sa, rồi đây số du học sinh Mafia-VN sẽ tràn ngập nước Mỹ, nhưng họ rất có kỹ luật không làm gì động đến NVHN đầy mặc cảm thua trận, họ là thành phần trí thức du học, nói theo khách quan hơn một số NVHN tạp nhạp thiếu bén nhạy về chính trị mà tự vỗ ngực ầm ầm chính cá nhân tôi mới là một chính trị gia lãnh đạo lỗi lạc, hãy bầu tôi đi!.
PACOM là Bộ Chỉ Huy quan trọng nhất trong các Bộ chỉ huy quân sự Hoa-Kỳ trong thời gian di tản chiến lược “Overhauling the damage control” bởi tu chánh án Cooper-Church. Nó có nguồn gốc từ chiến tranh Phi Luật-Tân (1899-1902) là lúc mà quân đội Hoa-kỳ có những đơn vị hùng hậu chiếm đóng tại vùng biển nầy. Ngày nay vùng kiểm soát của PACOM trải dài từ bờ biển miền Đông Phi-Châu đến vòng-đai Thái-Bình-Dương, bao trùm nửa diện tích địa cầu và kiểm soát hơn nửa tiềm năng kinh tế của Thế-giới; Gần như toàn bộ Hải-lực và những Binh-đoàn thiện chiến nhất của Hoa-kỳ đều đang tập trung tại vùng do PACOM kiểm soát điều hành.
Nhưng có một điều quan ngại là hai lực lượng mạnh nhất đang tập trung tại vùng do PACOM trách nhiệm. Đó là hai lực-lượng của Hoa-kỳ và lực lượng của Trung-Quốc, cả hai đang thi đua hiện đại hóa quân sự về mọi mặt; Vì không thể ngồi khoanh tay chờ đối phương tiêu diệt bằng chiến tranh nguyên tử nên Trung-Quốc đưa ra vài Tướng lãnh ‘cò-mồi’ tuyên bố đe dọa bành trướng lấn-áp ngôi vị bá chủ của Hoa-kỳ. Như năm 1972, Mao đã cho Nixon và Kissinger biết vài thập niên sau Thái-Bình-Dương là ngòi nổ của thế chiến, Mao Trạch-Đông cũng thừa bản lãnh để lấy chiếc lá Tre che con ngươi màu xanh của Đế-quốc Mỹ để không còn thấy được ngọn núi Thái-Sơn ở trước mặt. “Sau đại chiến thứ 3 …chấp nhận hủy diệt một nước Tàu Cũ trong nước để chiếm lĩnh bằng một nước Tàu trên lục địa Mỹ-Châu!” với kế hoạch chiến lược về sanh sản trong 10 năm có được thêm 350 triệu dân và độn thổ hay biến hóa thành lập một nước Tàu ngoài nước Tàu cho mục tiêu chiến lược sau nầy.
Nhìn thấy sự lớn mạnh cũa PACOM và trước những phản ứng khó lường được qua cuộc tấn công Iraq, Trung-Quốc phải có một số phản ứng được coi là cần thiết cho vấn đề an-ninh của mình; Như phối trí hỏa-tiễn tầm xa của Trung-Quốc. Loại hỏa-tiễn nầy không chỉ nhắm vào Đài-Loan mà còn hướng tới những mục tiêu tại nhiều Quốc-gia khác; Tự xem mình là một Cường- quốc, Trung-Quốc ký một thỏa hiệp an ninh với Pakistan và một thỏa hiệp về quốc phòng với Phi-Luật-Tân. Đặc biệt Bộ-Quốc-Phòng Hoa-Kỳ cũng theo dõi và chú ý đến sự góp mặt của Trung-Quốc trong “Tổ chức cộng đồng Đông Á” gồm các quốc gia từ Ấn-Độ đến Nhật-Bản để âm mưu hất chân Hoa-kỳ và Úc ra khỏi quỹ-đạo Thái-Bình-Dương mà chỉ có Da Vàng mình chơi với nhau. Những chỉ dấu nầy khiến dư luận tại Hoa-kỳ cho rằng Trung-Quốc đang có những quyết định có thể làm thay đổi cục diện chính trị và quân sự tại vùng Đông-Á, cho nên chiến tranh Thái-Bình-Dương là điều khó tránh; Nhưng đối với Mao thì chiến tranh tại Thái-Bình-Dương chỉ là ‘Diện’ còn ngay tại Tây Bán-Cầu mới là ‘Điểm’ “hủy diệt một nước Trung-Hoa Cũ để thành lập một nước Trung-Hoa mới tại Mỹ” trong một cuộc chiến siêu kỹ thuật chớp nhoáng sau nầy.
Trong khi các nghiên cứu gia cứ cho rằng Trung-Quốc chưa bao giờ có một đại chiến lược theo như nghĩa mà người ta hiểu. Thêm vào đó về mặt địa dư chính trị Trung-Quốc thường xuyên phải chịu áp lực từ tứ phía bởi các Cường-quốc cở lớn như Nga phía Bắc, Nhật Bản phía Đông, Ấn-Độ phía Tây và Việt-Nam phía Nam. Trong thời gian hiện tại Trung-Quốc có nhiều triển vọng phải đối phó với những quốc gia nầy hơn là phải đối phó với Hoa-kỳ, cách xa Trung-Quốc bằng cả một đại dương rộng lớn; Đây cũng là trong tầm nhìn bén nhạy của Harriman và Bush-Cha trên phương diện địa lý chiến lược mà họ đã tinh trước bằng Eurasia Great Game-1.
Những điều suy diễn trên đều đúng, nhưng có một ngày nào đó Trung-Quốc không cần chạm trán với những nước ‘Cò-con’ chung quanh mà chỉ có mục tiêu duy nhất là giáng xuống toàn khối nguyên tử trong ‘nháy mắt’ vào nước Mỹ để rồi vài giờ sau các nước ‘Cò-con’ sẽ cúi đầu quỳ-lụy. Trung-Quốc không còn con đường nào khác chỉ vì nạn nhân-mãn phải lợi dụng ưu thế nầy cùng lợi điểm thương-mãi ranh mãnh mà tóm thâu toàn cầu sau khi đã hủy diệt vài tỷ người. Hy sinh một tỉ rưỡi người Tàu để thành lập một nước Tàu mới trên lục địa Mỹ châu với một nguồn nước bao la trong Ngũ Đại Hồ mà trên mặt đất loài người đang chết khát.

Dù bất cứ thế đứng nào, Việt-Nam cần tìm một thế tựa chiến lược của Hoa-kỳ ở Đông-Nam-Á và Thái-Bình-Dương. Nghĩa là Việt-Nam cần phải hợp tác và quan hệ chặt-chẽ với Hoa-kỳ. Nhưng sẽ sai lầm, có thể coi là trọng tội với Tổ-quốc, đối với tiền đồ Dân tộc nếu Việt-Nam lạc vào quỹ đạo của bất cứ đại cường nào để đối đầu với Trung-Quốc, vì dù gì đi nữa khi chiến tranh xảy ra, Việt-Nam vẫn là chiến địa khởi điểm. Các con cháu ta sẽ thừa khôn ngoan để tránh thảm cảnh cho Dân-tộc.

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
12-21-2011, 08:07 PM
Trước hết, phải nói đã đến thời điểm decent interval phải hoàn tất axiom-1 (There was never a legitimate non-communist government in Saigon) nó nằm trong tập bi kịch màn-2 của vở tuồng Eurasia vào lúc phải kết thúc hạ màn xuống, 6 tháng sau vào mùa Hè 1973, Mỹ phải tiếp nối khi 6 chiếc tàu chở đạn cho Saigon vừa vào đến hải phận đã bị Donald Rumsfeld [người tuyên bố “Miền nam bù nhìn, miến bắc yêu nước”, 30 năm sau nhờ Nguyễn Cao Kỳ nhắc lại một lần nữa cho rõ] ra lịnh 6 chiếc tàu chở đạn nầy phải trở đầu chạy thẳng qua Do Thái gấp, kéo màn lên tiếp nối màn-3 (overlapped giai đoạn-3).
Để rồi Bạn có biết rằng trong những ngày dầu sôi lửa bỏng của tháng Tư Đen/75 Bush-Cha đã ngồi chần dần tại Bắc Kinh như đưa cái búa to tổ bố, doạ búa vào đầu Đặng Tiểu Bình, nếu Bình thừa nước đục thả câu, lấy cớ giúp gìn giữ an ninh sân sau cho Hà Nội mà đem quân qua miền Bắc-Việt để phù trợ cho MTGPMN, làm bể kế hoạch Mỹ quyết định trả lại độc lập thống nhứt cho VN mà Mỹ vì quyền lợi nên hứa Lèo với cụ HCM, đồng thời Bush-Cha giao khoán trắng quyền hành cho Tham mưu trưởng WSAG Rumsfeld muốn làm gì thì làm miễn hoàn thành chu toàn axiom-1: Trả lại độc lập thống nhứt cho Việt Nam sau 30 năm khói lửa. Đây là món quà ban tặng ngày “Quốc-Khánh” cho VN mà Mỹ không chịu ký chia đôi VN Genève-54 sau khi Mỹ xả rác một số vũ khí khổng lồ còn tồn kho sau Đệ-2 thế chiến.

[Xuất phát từ [http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman, page 1 of 7- Trang 4, Political Career, “Aid to Russia 1941-1946 Plan renewed, reactivated]
– 1964 Hà Nội có được AK-47, VNCH vẫn còn xài Garant-M1 đến cuối 1968.
-1973 sau hiệp định hòa bình Paris, Hà Nội có 700 triệu tấn vũ khí mới toanh, tối tân với 3 mục tiêu: (1) Chiếm miền nam 1975, (2) Chiếm Cambodia, (3) Phòng thủ Hà Nội 1979 bởi TQ sẽ dạy VN bài học.

-2010-2020 (10 năm trù dập TQ, reactivated 1941-46 Plan) Tàu ngầm Kilo, Phi cơ siêu thanh, tàu chiến trang bị hoả tiễn hiện đại như được Mỹ bật đèn Xanh, chờ sau đó Mỹ sẽ bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN.
Thế nên, Ông Đại sứ Michalak cũng nói Tướng Nguyễn Chí Vịnh không phải là người mà Trung Quốc “dễ nắn gân” Michalak nhắc lại Tướng Nguyen Chi Vịnh từng nói thẳng về khả năng xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc và trong một cuộc gặp với quan chức ngoại giao Hoa Kỳ, tướng Vịnh đưa ra một bức tranh về … Hoa Kỳ nói ông Vịnh không lảng tránh vấn đề Biển Đông. Ông tướng này bác bỏ tuyên bố chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc và nói Việt Nam “biết cách chiến đấu và chiến thắng” Chúng ta cũng thừa hiểu do động lực nào mà tướng Vịnh mạnh miệng như vây, làm mọi người ngạc nhiên? Bấy lâu nay ai ai cũng tưởng Vịnh là người của TQ nên chửi bới tùm lum, chỉ có người viết đã nói là không từ lâu mà là một Phạm Xuân Ẩn tái sinh!

Tướng Nguyễn Chí Vịnh sẽ cho oanh kich đập Tam Hiệp, lấy cớ TQ làm cho vùng châu thổ hậu giang chìm dưới nước mặn, ngăn cản sự sống của vựa lúc VN được thế giới tán đồng để nuôi sống nhân loại. TQ sẽ bị tàn phá sau đó như một cuộc tận-thế đại hồng thủy và tan ra từng mảnh khi có lịnh của Mỹ, đó là thái độ của VN hiện nay (đúng vào thời đểm “roll-back” 2010) đã làm ngạc nhiên các bạn không ít, như những phản ứng của VN vừa qua trong khi kiên quyết bắn hoả lực thực, quyết không cho TQ đem giàn khoan tối tân khoan dầu dưới 3000 thước đến đặt trong vùng 200 hải lý gần Phú Yên, nơi có số lượng dầu lớn nhứt).

Dưới đây là mặt trái cuộc chiến cần thiết do CIA/KGB đạo diển:
Một tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa-Kỳ đã được giải mật, người ta phải sững sờ khi thấy những chuyện không thể ngờ về những điều khoản của ‘luật lệ giao tranh’ ROE, [Rule Of Engagement] mà con người bình thường cho đây là một chỉ thị về điều lệ ngu-xuẩn. Nhưng đối với tư tưởng Harriman, một Chiến-lược-gia chính trị nhà nghề về Liên-Xô cho đây là cái thế để dụ dỗ đối-phương vào cái bẫy mà Nhóm học giả của George Kennan nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ trong cái thế Bên kẻ mạnh (on the strong-man side) Hay nói cách khác Hoa-kỳ đã dùng thế cờ CIP [Counter Insurgency Plan] và chấp cho thế cờ NLF [National Liberation Front] của Liên-Xô không những đi trước một nước, mà nhiều nước, trước khi tới phiên Mỹ. Dĩ nhiên lúc đầu Hoa-kỳ phải chới với, ngất ngư, thất thế vì bị tấn công nhiều mặt. Nhưng sau cùng, còn quá sớm để nói lên: Liên-Xô phải chào thua và nhường lại những nước như Mông Cỗ, và 8 nước Cộng Hòa Trung Á, tài nguyện còn nguyên vẹn ở dưới lòng đất, và sau cùng là Việt-Nam sẽ là thành viên ‘lá-chắn’ (shield) son sắc trong PACOM (Manage the defeat, overhauling the damage control, then to Roll-back) nhưng trên thực tế, không nước nào chịu hy sinh cho nước khác, đó chẳng qua Việt Nam có một số lượng dầu khí đứng hàng đầu của các nước ÐNÁ cho nên Hoa kỳ mới e-ấp che chở?

Mà thật vậy, những luật lệ giao tranh ROE xem ra thật ngộ nghĩnh mà Tôi cho rằng “khổ nhục kế” Các chỉ thị nầy đã ngăn cản rất nhiều hiệu năng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ, chẳng hạn các lệnh cấm máy bay Hoa-Kỳ không được tấn công các dàn hỏa tiễn SAM đang trong giai đoạn lắp ráp vì sợ rằng gây tử thương cho chuyên viên Liên-Xô đang nối ráp; không được tấn kích Phi-Cơ MIG trên phi đạo [runways] chưa cất cánh, hoặc ngay cả khi các phi cơ MIG nầy đang bay nhưng không có hành động khiêu khích, như huấn luyện viên Liên-Xô đang bay thao dợt huấn luyện cho Phi-công BV.

Đây cũng là điều lệ mà Hoa-kỳ tự xem như là “Khổ nhục kế”nhường cho Liên Xô có cơ hội phát triển, thí nghiệm vũ khí phòng không qua giai đoạn thế hệ mới, dùng hỏa tiễn tiêu diệt phi cơ Mỹ thay vì súng phòng không đạn cổ điển chạm nổ, trong kế hoạch Khổ-nhục-kế nầy, Hoa-kỳ và Liên Xô chụp các nhà bác-học Ðức để làm gì? nên phải có đấu trường để thí nghiệm vũ khí, Harriman phải đem những Phi-công ưu tú của Hải Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Phi Công VNCH ra làm “Mồi” cho Liên Xô thí nghiệm hỏa tiễn phòng không. Và đồng thời lợi dụng trường hợp gây chiến tranh để tiêu hủy một số phi cơ lỗi thời như: về Không Quân có F.105 Thunderchief, F.100 Suber Sabre, F.101 Woodo, F.4 Phantom…Về Hải Quân có, A.4 Skyhaw, A.7 Corsair, A.8 Crusader, A.6 Intruder…

Đã vậy, Phi-công oanh tạc Bắc Việt không được quyền xử dụng bom tinh khôn ‘smart’, bom Laser, CBU-55 hay bom vô tuyến điều khiển, mà phải dùng bom chạm nổ thông thường, và một lần nhào-xuống chỉ được thả xuống hai trái, không được thả hết một lần, có như vậy mới giải quyết bằng nhiều Phi-cơ bị bắn rơi và nhiều Phi-công bị bắt. Trò chơi khổ nhục kế về cuộc huấn luyện tập trận thật lớn nhứt trong lịch sử nước Mỹ để có đủ hành khách booked trước hầu nâng đỡ hãng Hàng Không không bị Bankruptcy hay merge. Cuộc tập trân thiệt lớn nhứt nầy thật thần sầu quỷ khóc, ngoài sự tưởng tượng của con người bình thường, nhưng thật ra cũng để có cơ hội giải tỏa chiến cụ lỗi thời và thay vào thí nghiệm phát triển loại vũ khí mới hiện đại hơn cho cuộc chiến Trung Đông tiếp diển sau nầy qua Màn-3 của trò chơi chiến tranh Eurasian.

Trong khi miền Nam quân BV dùng vũ khí tối tân như AT.3 điều khiển bằng vô tuyến bay vào ngay các hầm hố công sự của quân lực VNCH để phá hủy, dùng hỏa tiễn cầm tay SA7 để tiêu diệt Phi-cơ. Họ có B.40, 41 để tiêu diệt xe Tăng, trong khi quân lực VNCH không có thứ vũ khí diệt Tăng. Mãi đến giữa năm 1972, một đợt mới từ Hoa-kỳ qua với loại vũ khí hỏa tiễn TOW diệt Tăng. Nhưng không phải dễ dàng để được nhận đâu. Thoạt tiên Tướng Abrams nói: “Tôi giao 20 trái hỏa tiễn TOW cho Thủy Quân Lục Chiến VN và Sư Đoàn 1 Bộ Binh, bởi vì họ là những chiến sĩ như tôi đã biết gan lì chiến đấu kiên cường; Còn như Binh Chủng Dù, tôi đã nói với Trung Tướng Kroesen Cố-vấn Vùng-1 rằng: Nếu Tướng Trưởng hứa và bảo đảm với tôi là họ không bỏ lại ngoài chiến trận và rồi tôi sẽ suy nghĩ lại có nên giao cho Dù giữ hỏa tiễn TOW hay không?” (Quả thật Tướng Abrams đánh giá quá sai về lực lượng mà chúng ta thường gọi là “Thiên thần mủ Ðỏ”) Trong khi đó, nhóm phản chiến nử Tài tử Jane Fonda, nam Ca Sĩ Bob Dyla, Nữ Ca Sĩ Joan Baez và ngầm trong bóng tối là Trung Úy John Kerry cho Hà Nội biết về vị trí phòng thủ để tiêu diệt phi cơ Mỹ.

Như cây cầu Hàm Rồng đã có biết bao nhiêu Phi Cơ bị bắn rơi nơi đó vì chỉ dùng bom nổ thường, thay vì chỉ cần bắn một trái hỏa tiễn Pul-Pulp vô tuyến điều khiển là xong chiếc cầu. Để rồi không biết bao nhiêu tù binh Mỹ phải bị bắn rơi, trong đó có Đại sứ Peterson tại VN sau nầy (1995) và Thượng Nghị Sĩ John McCain…

Để đổi lại, Hoa-kỳ khai thác được phương cách chống hỏa tiễn phòng không, bằng cách xử dụng hệ thống quang-tuyến Sensor phát hiện vật lạ với một tốc độ gia tăng bắn tới Phi-cơ và máy dò-tìm sẽ báo động ngay trong nón bay của Phi Công qua tín hiệu SAM-SAM-SAM… lúc nghe được tín hiệu, Phi-công chỉ cần nhào lộn hay đổi hướng thật gắt, là hỏa tiễn sẽ bị mất đà và trượt qua một bên. Ngoài ra, Hoa-kỳ trắc nghiệm tìm hiểu và đánh giá khả năng phát hiện bằng Radar của Liên Xô qua Trực-thăng gián điệp 21-SOS chuyên thả toán thám sát Strata với ám hiệu ‘Pony’, cất cánh từ căn cứ Không Quân Nakhon-Phanom, nằm sát theo biên giới Thái-Lào. Chiếc Trực thăng tối tân HH-3S sẽ bay xuống thấp để tránh hỏa tiễn SAM, đồng thời xem thử Radar Liên-Xô có phát hiện nổi hay không? Nhưng vào những năm đó (1964) khi Tôi bay ra khỏi biên giới Lào Việt là bị ngay 2 chiếc Super Sabre F.100 của Không Quân Hoa Kỳ lên làm thủ tục ngăn chận, ám hiệu ra lệnh cho chúng tôi phải bay trở về biên giới ngay, nếu không sẽ bị hỏa tiễn bắn hạ.

LX sụp đổ ngày 30/5/1987 chớ không phải 1991Cho mãi đến ngày 30/5/1987, một thiếu niên người Tây Đức (Không có bằng chứng CIA tài trợ nuôi dưỡng) tên là Matthias Rust lái một chiếc máy bay nhỏ từ thủ đô Helsinki Phần Lan, đã vượt biên giới Liên Xô. Rust như một Phi-công lão luyện bay thẳng một mạch, vượt qua mặt toàn thể hệ thống phòng không Radar và Hỏa-tiễn SAM-2 bay xa đến 550 miles và hạ cánh xuống ngay Công-trường Đỏ ở Mạc Tư Khoa. Người ta cho rằng thiếu niên nầy đã bị bốc đồng nên nổi hứng?! (Tôi không nghĩ như vậy) Thử xem có bay được đến Công Trường Đỏ để gây tiếng vang ngoạn mục lưu đời? Người ta cũng cho rằng, cậu bé Rust ngây thơ không bao giờ nghĩ đến hay sợ hãi hỏa lực ghê gớm của hệ thống phòng không Liên Xô.
Phó TT BUSH, Đệ-2 đại đế triều đại Skull and Bones cho rằng vụ thằng bé Rust sẽ có dị-ứng lạ trong biến chuyển mới trên thế giới
Cậu bé nầy đã làm cho LX bối rối và quê dạng, coi như hệ thống phòng không củ LX bị tê liệt. Lúc đó Rust mơi có 17 tuổi lái chiếc Cessna 172B từ phi trường Malmi Heisinki đáp xuống quãng trường đỏ Moscow’s Red Square. Cậu bị kết án 8 năm tù khổ-sai. Cậu bay qua biển, rồi đâm đầu xuống thấp tránh giàn Radar thì lúc đó CIA nghĩ rằng cậu đã đâm đầu xuống biển Baltic Sea; CIA cố tìm kiếm trên màn ảnh Radar EC-135 AWACS, vì trên scope radar thình lình biến mất một chấm trắng từ bờ biển Finland mãi cho đến khi LX tuyên bố cậu Rust đã đáp an toàn xuống quãng trường Đỏ.
Là phi công quan sát L-19, bạn có ý kiến gì? Khi bạn bay tập phi cụ trên vùng trời Nha Trang bạn đã bị bê trôi giạt như thế nào? Thế thì cậu bé nầy đã nhờ CIA trang bị phi trang tối tân hơn Tacan mà chúng ta đã từng sử dụng trên phi cơ. Theo tài liệu Rust chỉ có học 50 giờ bay tổng cộng kể cả cross country mà sao bay tới Moscow không lạc vả lại là lần đầu???
Vào một buổi sáng mùa xuân của tháng May/1987, Một điệp viên tình báo John Pike đã mừng rở đứng ngay cửa sổ toà đại sứ Mỹ ở Moscow, nhìn thấy thằng bé Rust đang làm một vòng trên không trung. Ông Pike chợt nhủ thầm “Làm đếch gì có phi cơ riêng tư, thương mãi nào mà dám bay ngang đây, Rust đã thâu gọn 550 miles là decent interval chấm dứt Cold War trong tâm tưởng tình báo?” Theo sự suy diễn của nhân viên tình báp Pike.
Tình báo Mỹ đã móc nối với Mikhail Gorbachev (như hiện nay CIA móc nối với Ông Putin, Ông Tập-Cận-Bình, Nguyển-Tấn-Dũng để làm diệu căng thẳng tại Biển Đông; Việc đầu tiên là ông Tập sẽ viếng thăm VN ưu tiên 1 cho vấn đề Biển Đông cũng do Mỹ cố vấn. Ông Tập như ngày xưa Đặng Tiểu Bình vậy) Từ 2 năm trước 1985, CIA đã bí mật giúp và đưa Gorbachov cũng như hiện nay, lập lại đưa Ông Tập-Cận-Bình trước 2 năm sẽ thay Ôn Gia Bảo làm thủ lãnh TQ, do nằm trong quỹ đạo của Mỹ, sẽ có thay đổi lớn trong nội bộ TQ.
Liền sau đó Gorbachov tuyên bố đổi mới theo sự cố vấn CIA “Glasnost”, Ông bắt đầu thanh lọc thay thế từ từ người của ông vào trám chỗ các thành viên bị sa thải, gọi là “Perestroika” chỉ trừ những tướng lãnh thì CIA chỉ dẫn chờ thằng bé Rust đáp xuống công trường đỏ rồi tính luòn một lược.
Đặc biệt Gorbachov qua Hà Nội khuyên lãnh đạo VN chuẩn bị mà theo Mỹ gấp gấp vì LX đổi mới không còn gì giúp được cho VN, nhưng Mỹ thì cứ lờ đi vì chưa tới thời điểm “roll-back 2010” để cho VN chuốc thêm nhiều bài kọc đau thương về lịch sử với TQ và ngầm để cho tam-trùng Nguyễn Chí Vịnh làm con cò mối để cho buá rìu dư luận công kích Vịnh là người của TQ, đồng thời nhơn cơ hội đưa cán bộ thân TQ lộ diện như vụ Bau-xít chẳng hạn để loại trừ qua ngả êm xuôi bằng bửu bối “tham nhũng”.

TT Reagan bèn tuyên bố mục đích chọc quê LX “Bức tường thép bây giờ bị thắng bé Rust chọc thủng, thế thì rất tốt cho sự phòng thủ của NATO” kết quả sơ khởi Gorbachov đã sa thải 2000 sĩ quan viên chức quan trọng của Bộ Quốc Phòng. Hoa Kỳ đã nhờ khoa hoc kỹ thuật mà đánh bại LX trong giai đoạn chạy đua vũ trang – 1981, George H W Bush vị đại đế hoàn vũ giấu mặt ra tuyên bố tất cả cho đầu tư về cuộc chạy đua vũ trang, Rồi đây người Mỹ sẽ không nghe lải nhải chữ chạy đua vũ trang khi ta bỏ xa LX. Đất nước còn là còn tất cả, mất mất tất cả. Những nhà tài phiệt nhát gan bỏ vốn liếng vào việc chạy đua vũ trang. Siêu chính phủ biết dân Mỹ nhát gan nên hù doạ một nước Cuba láng giềng CS đáng sợ mà khi đóng thuế người dân không còn cằn nhằn nữa?.
Bush-Cha trên giấy trắng mực đen phải được bổ nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng an Ninh quốc gia (National Security Directive-3 là cơ quan đặc trách đấu tranh trực tiếp với LX. Lợi dụng cơ hội nầy WIB [War Industries Board] Bush buôn lậu một số vũ khí khổng lồ kiếm không biết bao nhiêu lợi nhuận, ra mặt lấn quyền TT Reagan và mở các cuộc hành quân mật tại Đông Âu mà không cần hỏi ý kiến của TT Reagan, Vì Reagon cấm bán lúa Mi cho LX liền bị nhóm Bush ám sát nhưng hụt. George H W Bush biết chắc rằng CSLX sẽ bị lật đổ do kế sách tình báo của Bush, nhưng tại sao trong lịch sử lại do công TT Reagan?
Trong các cuộc hành quân mật có vụ làm mất uy-tín LX trong thế vận hội, như 1983 Mỹ ỷ vào khoa học kỹ thuật vượt trội, đưa LX vào cái bẫy bắn lầm chiếc phi cơ Korea Airline đi lạc vào không phận LX, cũng do CIA dùng khoa học kỹ thuật biến đổi bắc-từ cực mạnh phát ra từ một AWACS, EC-135 (Boeing 707 modified doom radar trên lưng) tạo nên một điện từ cực mạnh, báo hại Pilot Korea Airline là một đại tá không quân biệt phái lái chiếc nầy phải lầm lẫn bay trong điều kiện IFR, không ngờ trong đêm tối nên bị Mig lên nghênh cản và bắn hạ, dù rằng phi công LX đã có báo hiệu intercept theo luật quốc tế. Những ghi âm cuộc đối thoại nầy đều được phía Mỹ đem ra phơi bày trên diễn đàn LHQ, báo hại các nước nghe lời Mỹ tẩy chay không cho LX tham dự Thế Vận Hội: Chuyến bay 007 định mệnh bị AWACS, EC-135 đánh làm lạc hướng bay vào không phận LX, vùng Kamchatka Peninsula, tất cả 269 hành khách đều bị tử nạn.
Theo sự nghiên cứu của người viết, LX đã đầu hàng Mỹ ngày 30/5/1987. Còn như cậu bé Matthias Rust bay máy bay nhỏ với cao độ thật thấp, nên không hiện lên trên màn ảnh Radar. Nhưng chúng ta nên hiểu rằng một chiếc phi cơ nhỏ bay dễ bị gió lạc, nhứt là ở cao độ quá thấp, nếu không có radar sensor Tacan thì không cách nào đến được mục tiêu. Ðây là một chiến công lẫy lừng của ngành phản gián CIA, để rồi nhân cơ hội nầy, Gorbachev lập tức ra lệnh thanh trừng và thay đổi cấp chỉ huy: Người thứ nhất là, Bộ-trưởng Quốc-phòng Liên Xô, người thứ hai là, Thống-chế Sergei L. Sokolov, hung thần chiến tranh, đã có lời đe dọa sẽ gởi hạm đội tàu ngầm nguyên tử qua trừng trị Mỹ năm trước, bị cho giải ngũ Việc nầy đã làm cho toàn bộ hệ thống an-ninh phòng thủ Liên Xô và KGB trở thành một trò cười cho cả thế giới, vì chỉ một chuyến bay có tính cách chơi đùa của trẻ con, đã khiến cho đảo lộn cả toàn bộ Chính trị và Quốc phòng Liên Xô. Tôi cho đây là Phó T.Thống, George H.W Bush, [Ðại-đế giấu mặt của thế hệ thứ 2 Skull and Bones] đã dùng chiến tranh tình báo để giúp Gorbachov lật ngược thế cờ loại bỏ những tên Cộng Sản cực đoan, cuồng tín, Liên Xô chỉ chú ý đến qua kinh nghiệm cuộc chiến tại Việt Nam, vào khoảng không với cao độ, nơi mà những hỏa tiễn SAM tìm-nhiệt diệt phi cơ phản lực của Mỹ hay máy bay do thám U.2, R. F.101 thường xuất hiện với cao độ, còn máy bay bay thấp thì Sam được xem như Ốc-Vịt, như trực thăng H-34 bay qua lại trên đường mòn HCM như đan một chiếc thúng mà Sam có làm gì được đâu; điều kiện cần và có của Sam là phải có cao độ hoả tiển mới thăng bằng, có tốc lực cần thiết để đuổi theo tim nhiệt.

Đề cử bồ nhà Thống-chế Dimitri T. Yasov lên thay thế, Thượng-tướng Vladimir Kruichkov lên nắm quyền Tư-lệnh KGB, cùng nhiều Tư lệnh an-ninh, quốc phòng và các binh chủng bị thay thế.
Hoa-Kỳ đối về mặt Phản-tình báo chiến lược, đây là một thời điểm cực kỳ quan trọng để thay đổi lịch sử vô cùng thuận lợi để dẹp bỏ chế độ Cộng Sản như TT Reagan đã nói: “Đã đến lúc người Cộng Sản phải lật trang sử cuối cùng!” (Quả thật W.A.Harriman có tằm mắt nhìn xa khi chọn dòng họ Bushes, có máu di-truyền về tình-báo, lên ngôi Skull and Bones-2) Vì chuyện thằng bé chơi đùa ngỗ nghịch ở trên mà Ông Gorbachov hầu như không còn ai chống đối.
Có phải do cơ-trời hay do sự ảo-thuật của Tình báo Hoa-Kỳ? nên ông Gorbachov không còn do dự gì nữa, thẳng đường tiến tới hợp tác với Mỹ, ra lệnh cho quân đội Liên Xô áng binh bất động, mặc kệ cho nhân dân Đông Âu nổi dậy giành lại chính quyền, phá tan bức tường Bá-Linh, săn lùng các Cán-bộ Cộng Sản và tuyên bố thế chiến lược mới “Ðộc-lập Tự-do thật sự!” Ông Gorbachev cũng đến Hà Nội và nhiều nước Xã Hội Chủ Nghĩa khác, cảnh cáo họ rằng: Phải chuẩn bị tự lực cánh sinh vì Liên Xô đổi mới sẽ không còn khả năng chi viện nuôi Chiến tranh Giải phóng (NLF) nữa.

Đặc biệt đáng ghi ngận, ông Gorbachev đến tận Hà Nội và cảnh cáo lãnh đạo Hà Nội rằng: “Liệu đường mà đi với Hoa-kỳ cho nhanh, ông lại ngụ ý, phải cẩn thận vì không còn cái dù che của Liên Xô và có thể bị Trung-Cộng làm thịt. Nhưng ngặt nỗi, Hoa-kỳ không hấp tấp, để kéo dài thời gian coi cho được, cần thiết theo lộ trình rồi mới đưa hai bàn tay ra nâng đỡ VN; Hơn nữa, phải để cho VN thêm một lần nữa thấm đòn và chuốc thêm nhiều đau thương với Trung Cộng vào một thời gian khá lâu, rồi sẽ ôm ấp sau. Cái thế siêu chiến lược của Nhóm dân sự George Kennan theo tư tưởng Harriman là vậy! Việt Nam ao ước được có một tuyên ngôn độc lập dân quyền, như hồi năm 1945, ngày cụ Hồ tuyên bố trước thế giới, hãy nhìn vào lịch sư Hoa Kỳ xem thử họ đã trải qua bao nhiêu thời gian đầy sóng gió, thãm cảnh nội chiến để thành đạt bản tuyên ngôn mà Họ tự cảm nhận “Freedom is not for Free!” có nghĩa “Muốn Ðộc lập Tự do phải trả giá!?”
Cấm đánh phá các xe tải Molotova đang chạy trên đường xa lộ Harriman (đường mòn HCM) vào ban đêm mà không mở đèn pha, hoặc không đang di chuyển trên xa lộ, có nghĩa là đang ở bãi đậu, vì thế tài xế Molotova thường chạy ban đêm, còn ban ngày thì núp dưới rừng già để ngủ. Điều nầy đã có chứng-nhân là ông Hồ Sĩ Hãi, tài xế xe tải, quê ở Thái Bình, trong cái gọi là nạn nhân chất độc màu Da Cam. Đơn vị của Hãi được lịnh ngủ vào ban ngày, di chuyển vào ban đêm. Nhưng theo sự hiểu biết của Tôi, thì loại thuốc nầy chỉ có hiệu quả khi rải vào lúc trời tờ mờ sáng vì không khí thăng bằng trong êm tịnh, không lay động,. nên thuốc mới rải, tỏa từ từ theo chiều thẳng đứng xuống rừng cây. Trường hợp của ông Hãi là giai đoạn trong chiến dịch “Hot-Tip”(1966-1968) để khai hoang làm dấu chỉ đường dùm cho CSBV phóng đường Trường Sơn Tây, [dù rằng các Tướng lảnh CSBV không ưa thích vì phải mất gần 4 tháng trong khi Trường sơn Ðông chỉ cần 1 tháng, làm sao ai hiểu được tư-tưởng Harriman muốn biến Trường Sơn Tây sau nầy thành Xa-lộ Liên-bang Ðông-dương] Còn tôi thì thả phun thuốc cho chiến dịch “Ranch-Hand” (1962) Ngoài ra tất cả là đều do vận tải cơ C.123 của Không-quân Hoa-kỳ đảm nhận, H-34 chỉ phun thuốc dọc theo đường xe lửa hoặc các trảng tranh trồng hoa màu đủ loại để hoá trang.

Theo mật lệnh siêu chánh-phủ, công cụ Mac Namara (tác giả của sự kiện Vịnh BV và hàng rào điện-tử Mc Namara) đích thân ra các lệnh lạc xuất phát từ Bộ-quốc-phòng, đôi khi cố tình làm trái ngược, không rõ nghĩa, mù mờ và thường xuyên phải chậm chạp gọi là vô cùng cẩn thận, rụt rè, cho có vẽ là tuyệt đối bí mật về Quân Sự, với dụng mưu không đáp ứng được với biến chuyển của tình hình nóng bỏng ở chiến trường sau nầy tướng giả định nhậm chức 4 sao Haig cũng được lịnh của Donald Rumsfeld làm y chang như Mc Namara.

Dưới con mắt vô cùng bực mình của các Tướng-lãnh như: Curtis Le-May, Arleigh Burke, Nathan Twining…Các Tướng nầy cho rằng: Cuộc chiến đã có thể thắng dễ dàng, nhanh chóng, nếu không có sự điều hành ngu xuẩn của Nhóm lãnh đạo Dân Sự? Tướng Westmoreland lại không hiểu sâu xa của vấn đề, vì Quân-đội Mỹ qua Việt Nam với nghĩa-vụ “Thao dượt tập trận thật”, nên phàn nàn: TT. Johson phản ứng quá chậm chạp, còn dư luận quần chúng Hoa-kỳ thì cho rằng: Những nhà chính trị kềm hãm quân đội và không cho phép họ chiến thắng.

Và theo viện thống kê thì có tới 82% quân đội Mỹ tham chiến các trận khốc liệt nhất cho rằng: Phải, chỉ chấp nhận thua trận, chớ không được quyền thắng. Điều nầy đã rõ theo sự hiểu biết của người viết là: Không cần nhiều quân, chỉ cần E.C.130B với đạn 106, và 40 ly tầm nhiệt và bom CBU-55 là đủ làm thất vọng quân xâm lược CSBV, vì không còn một chiếc xe nào kể cả người và vật được di chuyển dễ dàng trên đường xa-lộ Harriman mà không bị tiêu diệt. Trong khi đó ở Nam VN có nhiều bom CBU-55 nhưng không có đầu đạn (Warhead) Có thể xem đó là loại bom có thể giết tất cả sinh vật sống bằng dưỡng khí, còn vật chất thì không hề hấn gì kể cả màng nhện.

Đệ Thất Hạm Đội Hoa-kỳ không được tiêu diệt các tàu viễn-duyên CSBV của Ðoàn 759 điều hành, do Trung Quốc viện trợ cho Bắc Việt để tiếp tế chiến cụ cho Miền Nam VN, thuộc về mặt cung cấp tiếp liệu đường biển. Tuy nhiên cũng phải màu mè chút ít, khi báo động chỉ điểm cho quân lực Miền Nam tiêu diệt 3 chiếc tàu, 2 ở cực Bắc và Nam của Miền Nam và 1 ở ngay giữa Vũng Rô, Tuy Hòa. Còn trong đất liền Không-quân Mỹ đánh phá cầm chừng trong chiến dịch giội bom “Rolling-Thunder” hay nói cách khác để cho lính BV chỉ nghe “tiếng sấm rền thôi”, không ai chết đâu? Hàng rào điện tử Mac Namara thiết lập là không phải mục đích để tiêu diệt quân BV mà chỉ để theo dõi (Flow-Control) cường độ xâm nhập của lính BV, đồng thời cũng có vài trận đụng độ với quân đội Mỹ, nếu quân đội BV vượt qua mức đèn Vàng báo động.
Thí dụ, như trận đụng độ tại Pleime trên Cao Nguyên chẳng hạn, để cho quân đội Mỹ có cơ hội thao dượt chiến trường, gọi là ‘tìm và diệt địch’ Tư-tưởng Harriman muốn vậy. Thế mà báo chí Mỹ diễu cợt quân đội VNCH là “tìm và né tránh,” (search and avoid). Họ có hiểu rằng: Người Mỹ đã bảo hộ Miền Nam và họ muốn tạo điều kiện cho quân đội họ có cơ hội để tập trận! (Combat training) Ông Van Marbod, Đệ 1 Phụ-tá Quốc-phòng nói: Mỹ hóa trước rồi Việt hóa sau do chiến cụ Mỹ để lại. Còn Tướng O’Daniel nói toạc ra là “Ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (Who pays commands).

Trong khi 2 anh em Cụ Diệm, Nhu, không cần chi tiền để giữ vững chủ quyền Quốc-gia mà có được đâu! Sau trận Pleime, một tiền đồn thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ ở đây, đã bị vây khốn bởi những đơn vị đông đảo BV; xung quanh đồn không biết bao nhiêu Phi-cơ Mỹ bị bắn hạ kể cả Phản-lực Cơ F.100, F.105 đặc biệt 4 quân nhân Mỹ đã bị thương và đang chờ Trực-thăng di tản. Phi công Trực thăng Mỹ không dám vào vì đã bị rớt quá nhiều chung quanh đồn; Mỹ lại muốn trắc nghiệm vũ khí mới: Lúc nầy Phi-công Queenbee-2, thuộc phi đội CAS, Project-Delta là Đại-úy Nguyễn-Minh-Vui tình nguyện bay rescue vào cứu, đồng thời trong chuyến bay cảm tử nầy Hoa kỳ đem vào một loại vũ khí khá đặc biệt để tiêu diệt phá vòng vây, đoàn viên Queenbee-2 gồm có Đại-úy Vui, Trung-úy Châu Lương Cang và Chuẩn-úy Nguyễn Văn Mai và 2 quân nhân Mũ Nồi Xanh, Mỹ đem vào loại vũ khí mới.
Đại úy Vui, dùng chiến thuật “chiếc lá lốc-cuốn trong cơn bão” để đáp, trong khi trên trời một đoàn Trực thăng UH.1 đang bay đánh lạc hướng đối phương. Từ một góc trời, chiếc H.34 bất thần giảm tối đa tốc lực máy, đâm đầu xuống xoáy tròn khuôn ốc như chiếc lá cuốn tròn trong cơn lốc, trong khi các loại súng phòng không đủ cỡ chỉa vào một chiếc Trực thăng đơn côi đang rùn mình trong cơn bão lửa. Vài viên đạn đại liên 14,5 ly đã xuyên qua thành tàu, bay ngay vào một quân nhân Mỹ, hắn ngã quỵ chết ngay trên sàn tàu, máu chảy lênh láng trôi về cửa chính, bay ra không gian cuốn tan theo gió. Khi Trực-thăng chạm đất, người lính Mỹ còn lại đem vũ khí xuống và liền tức khắc 4 quân nhân Mỹ bị thương được đưa lên H.34.
Lúc cất cánh, Đại-úy Vui dùng lối “Khủng Long áp đảo” bay rà sát gầm thét trên đầu địch làm chúng không kịp trở tay, khi thấy được, thì chỉ còn cuộn gió và âm thanh nhỏ lần để lại nơi đó. Đến phi-trường Holloway-Airfield, tất cả Phi công Trực thăng Mỹ chạy ra bồng bế Đại úy Vui như một anh hùng vĩ-đại. Sau đó Đại úy Vui được phía Hoa-kỳ tặng cho một Anh-dũng Bội-tinh với Ngôi-sao Bạc. Phi- công biệt kích Delta (Queen-Bee) anh hùng như vậy! Tất cả Phi công Mỹ đều nghiêng mình thán phục hành động cứu bạn đồng minh của phi công VN.

Tháng 10/1966, với sự hiệu quả của vũ khí nguyên tử chiến thuật trên, 2 năm sau, Khe-Sanh bị bao vây bởi 4 Sư-đoàn lính BV cùng với 2 Trung-đoàn Pháo yểm trợ có chiến xa T.54 và PT.76 tùng thiết đưa tổng số 40,000 quân, vây hãm 6,000 TQLC Mỹ, Tướng Westmoreland cũng sẽ dùng loại vũ khí nguyên-tử chiến thuật nầy? (Tactical Nuclear Weapons) để phá vòng vây của quân BV, dù rằng trước đó quân CSBV đã chạm súng dữ dội ngay ngoại-vi hàng rào Khe-Sanh với Tiểu-đoàn 37/BÐQ của VNCH (hiện giờ bạn có thể xem phim giải mật trên youtube) nhưng cảnh Ðiện Biên Phủ ở Khe-Sanh không xảy ra như báo-chí đã ồn ào la hoảng và thêu dệt. Sau đó, 6000 TQLC Mỹ rút ra về lại Ðệ 7 Hạm đội bằng đường bộ, không nghe dù một tiếng súng nhỏ.

Về mặt Tình-báo là chỉ để kiểm chứng sự có mặt của Quân đội BV trên đường Trường Sơn Tây qua các toán Thám-sát như Lôi-Vũ, Biệt-kích Hunt, Strata, gián điệp ngoài Bắc, tất cả chỉ để gây tiếng vang, đồng thời kích thích lòng tự hào và cao ngạo của Đảng CSVN (do Cơ-quan Phản-gián CIA sử dụng khéo léo “Tam-trùng” Phạm Xuân Ẩn trong khi Hà Nội chẳng hiểu gì cả) Đoạn đường dài vào khoảng 900 miles từ đèo Mụ-Giạ đến dãy núi phía Bắc Pleime, sau khi được vận tải cơ C.123 phun thuốc khai hoang, B.52 dội bom phá những nơi núi đá hiểm trở cho trống trải chỉ dấu (Tracking) làm đường và đồng thời hàng 100 ngàn ‘Cần Anteme’ thu phát các tiếng động được thả xuống trên đường nầy, để được truyền về cho Tình-báo địa phương theo dõi các hoạt động của quân đội BV, có đúng là di chuyển vào Nam hay không?

Càng dễ thấy và dễ hiểu được qua các cuộc hành quân LOKI, bắt người từ ngoài Bắc đem về đảo Cù Lao Ré, Quảng-Ngãi (hay gọi là cù lao Chàm), nuôi thúc cho mập rồi thả về để lộ nguyên hình, với vẽ hồng hào, mập mạp giữa đám người ốm đói, xanh xao kể cả các cán bộ cấp nhỏ,…rồi bị bắt đi cải tạo tư tưởng… trong khi Không-quân Chiến-lược Mỹ (SAC) thả 14 triệu tấn bom ở Miền Nam, trong đó có 6 triệu tấn chỉ dọc biên giới Lào Việt không dài cho lắm, nhưng không phải để tiêu diệt CSBV mà trên thực tế là để biến những hố bom thành hồ cá, và nơi tắm giặt cho cán bộ như Rest Area bên Mỹ (nghe buồn cười nhưng sự thật là như vậy, không tin hỏi người anh em phía bên kia đi? chiến dịch thả bom gọi là tiếng sấm rền “Rolling Thunder” nghe vui tai) và khai phá bình địa vùng núi đá bên trong, dọc theo biên giới Lào để phóng khai phá đường Trường Sơn Tây có nghĩa Xa lộ LBĐD.

Mục đích sâu xa và tinh-vi là kích thích CSBV chiếm Miền Nam, nhưng ai hiểu được, trong tương lai Hoa-kỳ sẽ lịch sự nhường cho Trung Quốc qua mộng bành trướng sẽ mở xa lộ Liên-bang Đông-Dương cho đến khi vừa xử dụng được thì nước Tàu đã bị chia ra nhiều Tiểu-quốc và đương nhiên xa lộ nầy sẽ tự động biến từ Quân-sự thành mục tiêu Kinh tế hòa-bình cho các nước vùng lân cận, kể cả Xa lộ mà TQ lén lúc làm từ Côn Minh xuyên qua Miến Điện đến tận bờ biển Ấn Độ Dương Và đảo Hoàng-sa ngày xưa Kissinger đã bật đèn Xanh, lập lờ giao cho Trung Cộng (1/1974) gọi là tin ngoài hành-lang (lobby scandal) Lúc đó, Hoa-kỳ làm trọng tài đứng sau lưng VN để lấy lại tại bàn hội nghị LHQ?.
Việc nầy cũng thuận lý, vì là ổ của loài con chim Ó làm ra, sao lại có Le Le, Vịt Trời nở con ra nơi đó? Nhưng Nhóm trẻ Trung Quốc sau nầy có tầm nhìn xa hơn, nên đang tìm cách trả lại Hoàng-sa cho Việt Nam để khỏi bị sa vào cái Bẫy của Mỹ đã giăng ra 1974 và òn ỷ, dụ dỗ xin mướn dài hạn Hải Cảng Cam Ranh với mục đích đồng có lợi song-phương cho việc khai thác lọc dầu gần thềm lục-địa với sự gật đầu của Hoa kỳ, vì họ không muốn lập lại biến-cố Trân Châu Cảng, 1941 khi cô lập Nhựt Bản về đường tiếp tế dầu hỏa buộc Nhựt phải gây chiến trước. Thế kỹ 21 Trung Quốc không dại gì gây chiến trước dù VN có tát vào mặt TQ! Không có chiến tranh xảy ra trong thế kỹ 21 như siêu chiến lược gia William Averell Harriman đã dự tính như vào ngày sinh nhựt thứ 90 của Harriman, người em út sau cùng của giòng họ Kennedy đã tuyên bố trước bá quan văn võ: “We couldn’t have held the twentieth century without him”

KQ TRƯƠNG VĂN VINH
vinhtruong
12-27-2011, 07:57 PM
Biển Đông, đoạn kết của sách lược “Eurasian Great Game-1” (1920-2020) – 10 năm sau cùng Hoa-Kỳ phải đưa Ấn-Ðộ thế ngôi vị hạng-2 của T.Q?
Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 100 năm qua theo như chiến lược Eurasian Great Game 1920-2020: là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng-2 của thế giới, những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ như hiện nay đều bị Mỹ đánh cho suy yếu vỡ ra từng mảnh. Từ đó Mỹ đứng làm chủ cái chia bài (dealer) muốn nước nào hạng-2 phải phục tùng theo quyền lợi Amarican First. Hay nói cách khác Mỹ là soạn giả Tam Quốc Chí tân thời nhưng có “quyền chọn bạn một thời gian rồi trở nên thù” cho trò chơi chính trị, rõ ràng nhứt thể hiện tại chiến trường Việt Nam, thoạt đầu Liên Xô hạng-2, đến khi Mỹ bứng hạng-2 của LX hứa cho TQ 1972, và bây giờ Mỹ (Obama) đang muốn đưa Ấn Độ lên hạng-2 như một dư âm hồn ma vì Ấn-Độ chưa đủ điều kiện cần và có (criteria) vì thế Mỹ muốn chêm thêm phần công-lực bằng cách nhập Việt Nam một nước rất chịu đánh đấm vào trục Ấn Độ để chận cửa ĐNÁ và Đông Á. (US President Barack Obama has hailed India’s rise as a world power, days ahead of a visit to the country, calling the South Asian nation a “cornerstone” of US engagement in Asia.Obama said “my vision is a US-India partnership in which we work together to shape a more secure, stable, and just world”).

-1) Từ năm 1880 GDP Mỹ vượt qua Anh, và đứng hạng-1 thế giới đến năm nay, 2010 Mỹ đứng nhất đã được 130 năm .

-2) 1918 chiến tranh thế giới thứ-1 nổ ra: (tiêu nước Anh đang hạng nhì thế giới)
Mỹ viện trợ và xúi Đức (Đức hạng tư thế giới) và Áo đánh Anh và Pháp, gây nên chiến tranh thế giới thứ-I
Sau chiến tranh thế giới thứ-1, Anh suy yếu, Nước Nga ngôi lên đứng nhì thế giới,

-3) 1939 chiến tranh thế giới thứ-2 nổ ra: (tiêu tùng nước Nga đang hạng nhì thế giới)
Mỹ viện trợ xúi Đức đánh Nga, gây nên chiến tranh thế giới thứ-2, sau chiến tranh thế giới thứ-2, Nga suy yếu, nước Trung Quốc ngôi lên đứng nhì thế giới nhờ Mỹ viện trợ cho sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa.

-4) Thập niên 1950 cộng sản hóa Trung Quốc nhờ Mỹ đi ngõ sau với Mao, Mao giúp Mỹ tiếp tục chia 2 Triều Tiên và Việt Nam như vừa chia 2 Đức sau thế chiến-2 (tiêu nước Trung Quốc đang hạng nhì thế giới) Nhờ phản gián móc nối, Mỹ đưa bom nguyên tử cho Mao Trạch Đông, giúp Mao đánh bại Tưởng Giới Thạch, và phi cơ CAT của CIA lo chở di tản T.G Thạch và đồng bọn ra đảo Taiwan, cộng sản hóa toàn nước Trung Quốc, gây nên 1 Trung Quốc kiệt quệ về kinh tế rồi sẽ giúp đỡ, để có cớ kéo lên theo tư bản sau. Trung Quốc cộng sản suy yếu, Liên Xô gượng dậy sau thế chiến, ngôi lên hạng-2 thế giới nhờ Mỹ viện trợ 1941-1946 Aid to Russia Plan. Tất cả các nước nhận viện trợ đều bắt buộc phải nhận nguyên vật liệu từ Mỹ như là điều kiện bắt buộc

-5) 1991 Mỹ đánh Liên Xô vỡ ra từng mảnh qua New Euarasian Great Game by 2nd Dynasty Skull and Bones, World-Emperor George H W Bush (tiêu nước Liên Xô đang hạng-2 thế giới).
Lần đầu tiên Mỹ diệt 1 quốc gia hạng-2 sừng sỏ nhứt là Liên Xô mà không cần dùng đến hành động quân sự, chỉ bị tiêu hao rỉ máu về kinh tế rồi ngã chết (như Tổng Thống Kennedy đạo đức hơn tuyên bố : muốn diệt Cộng Sản, không cần tốn 1 viên đạn với chủ nghĩa căn bản về tư bản, nhưng triều đại 2 Skull and Bones phải sản xuất vũ khí là phương tiện và nắm vòi xăng để thống lãnh) Mỹ dùng chiến tranh kinh tế và khí tượng để phá hoại Liên Xô, Cuba, và Việt Nam (đến nổi sông ngòi Cửu long giang trứng cá cũng bị tiêu diệt, giây trồng khoai lang, hom khoai Mì đều bị khô cháy phải ăn Bo Bo) LX vỡ ra từng mảnh vì giúp các nước đàn em bị mê hoặc thiên đàng Cộng Sản. Nước Trung Quốc ngoi lên hạng-2 thế giới như Nixon đã hứa 1972 hạng-2 thế giới.

-6) 2010 đến 2020 Mỹ đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh: (tiêu nước Trung Quốc đang hạng-2 thế giới) Vì Mỹ quan niệm không thể có 2 mặt trời mọc một lượt trên Biển Đông.

Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới ?
Theo chiến lược Eurasian: năm 2020 nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ, và đứng nhất thế giới. Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2020 ,thì Mỹ sẽ xuống vị trí thứ hai, nhưng người viết nghĩ không thể xảy ra vì Mỹ đã chuẩn bị chu đáo cho tương lại phải hạ bệ TQ sau khi đưa lên một thời gian theo nhịp điệu cung cầu. Làm gì Mỹ sẽ chịu kiếp Quốc Gia hạng hai, như các bạn đã thấy kiếp quốc gia hạng hai như Trung Quốc, Liên Xô… Chẳng nước nào coi trọng, nói chẳng ai nghe, đồng tiền chẳng ai thèm xài, dân nghèo, nước lạc hậu , …Vì bị nước hạng nhất (Mỹ) dùng sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị vượt trội để kèm kẹp LX và TQ có thể đưa Ấn Độ lên hạng-2 thời gian thật ngắn để dằn mặt hai nước kia. Dùng sức mạnh đồng USD: chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản, đợi giá thật cao bán sạch, rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng, gây khủng hoảng kinh tế như hiện nay chính ông nội Mỹ là thủ phạm (khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc và Nga giảm giá trị 4 lần, 4 đồng còn 1 đồng. Đánh bằng quân sự không vui nên đổi qua kinh tế vui hơn).
August, -2008 Mỹ ra lệnh cho Georgia đánh 2 vùng ly khai, cho Nga tham chiến, để Nga không được Georgia ủng hộ vào WTO, Nga đứng trước tương lai chậm được vào WTO trong nhiều năm nay là Mỹ chơi, làm các nhà đầu tư rút vốn khỏi nước Nga, Stock Nga rớt 4 lần. Nếu Mỹ đánh vỡ được Trung Quốc ra từng mảnh, thì Mỹ sẽ giữ được vì trí quốc gia hạng nhất cả 100 năm nữa, từ 2020-2120. Vì không còn nước nào dành vị trí nhất thế giới với Mỹ, tiếp tục chiến lược toàn cầu lần thừ-2 là “Eurasian-Great Game-2”:
-Trung Quốc bị nội loạn vỡ ra, Tây Tạng Đức Đạt Lai như hồn ma và 1 vài tỉnh tách ra từ các tỉnh theo đạo Hôi, Tân Cương làm cho diện tích Trung Quốc chỉ còn 1/2 của Mỹ, Mỹ sẽ kềm kẹp Trung quốc giống như kềm kẹp kinh tế Nga bây giờ, không cho phát triển. Một nước Trung Hoa thay đổi lá cờ theo ý nguyện người dân và Việt Nam cũng rứa.
-Quốc gia hạng ba là Ấn Độ có dân số gấp 3 lần Mỹ, nhưng có diện tích 1/2 của Mỹ, và là xứ nhiệt đới nóng bức không thuận lợi cho những người sử dụng trí não nhiều, nên sẽ thiếu nhân tài để phát triển quốc gia. Nên cả 100 năm nữa Ấn Độ mới đe dọa vị trí đứng nhất của Mỹ, nhưng Mỹ nâng lên hạng-2 là vui vẽ lắm rồi như đang có kế hoạch nhập với VN, một nước chịu chơi ưa-thích đánh đấm để hù doạ TQ.
-Còn Nga thì diện tích lớn hơn Mỹ một ít mà không hữu dụng, quanh năm tuyết phủ, dân số được phân nửa Mỹ, nên không bao giờ qua mặt Mỹ được.
-Brazil thì còn thua Ấn Độ nữa mà còn bị Mỹ đì vì lỡ dại chơi với TQ ….
Nếu Mỹ đánh vỡ Trung Quốc, Mỹ được 100 năm vinh quang, hoặc mãi mãi đứng nhất thế giới nữa với điều kiện phải chia năm xẻ bảy TQ. Nhưng TQ rất khôn sẽ nhường Mỹ và mềm như con bún để bám được hạng-2 thế giới. Vì thế rất may cho sự khôn ngoan của TQ, Mỹ sẽ xét lại và cho TQ quản lý việc khai thác dầu khí vùng phụ cận như tại Biển Đông và đóng thuế cho các nước có chủ quyền trên thềm lục địa do LHQ quyết định, chủ yếu bán sản phẩm bằng dollar Xanh do Mỹ quyết định thương trường phân phối sản phẩm.
Nếu Mỹ không đánh Trung Quốc, Mỹ chỉ còn 10 năm vinh quang, sau đó như Anh, Pháp bây giờ, phải ôm chân Mỹ cùng hưởng giàu sang. Chống Mỹ thì nghèo đói như Nga, Trung Quốc, nghĩa là Mỹ phải ôm chân quốc gia đứng nhất là Trung Quốc, Trung Quốc nói gì cũng phải nghe. Vậy chỉ còn con đường duy nhất là Mỹ phải đánh Trung quốc trong 10 năm tới, đúng theo Eurasian Great Game-1 để chuyển qua 2, vì vòm trời không bao giờ có hai mặt trời cùng mọc một lượt.
Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng kinh tế và bằng chính trị (giống như đánh vỡ Liên Xô năm 1991) như sau: Mỹ kiếm cớ tố Trung Quốc là “nước thao túng tiền tệ”, tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, vì nền sản xuất Trung Quốc tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ, đó là cái láu cá của Mỹ khi bắt tay Mao Trạch Đông 1972. Không bán được hàng, tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản, còn Mỹ mua hàng các nước khác mắc hơn 10 % không sao cả, và chủ mưu như thế. Mỹ sẽ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp, để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc, để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới. Trò chơi chiến tranh kinh tế kiểu mới nầy Mỹ rất Exciting.
Áp thuế phá giá 30% lên từng ngành hàng của Trung Quốc thay phiên nhau, gây phá sản lần lượt từng ngành sản xuất của Trung Quốc, sau khi chơi trò Chó Mèo ngộ độc, trẻ con bị đe doạ qua trò chơi mới … Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định, còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống, các nhà đầu tư sẽ rút ra khỏi Trung Quốc, Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng (Như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008, Stock Trung Quốc xuống 4 lần) TQ không bình yên với Mỹ đâu! Còn nếu Trung Quốc hạ giá đồng tiền so với USD, các nhà đầu tư Mỹ sẽ rút đầu tư ra khỏi Trung Quốc, và chuyển qua VN như là cơ duyên nghiệp quả, vì đầu tư vào nơi có đồng tiền xuống giá sẽ lỗ, gây khủng hoảng kinh tế Trung Quốc triền miên. Mỹ đánh Iran, mượn cớ chiến tranh cản đường vận chuyển dầu đến Trung Quốc trong 6 tháng, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phá sản vì không có dầu để sản xuất, lập lại chuyên cô lập dầu hoả cho Nhứt trong thế chiến-2, để công nhân không còn phương tiện di chuyển đến sở làm, hãng xưởng sẽ phá sản hàng loạt. Ra lệnh cho các nước có mâu thuẫn biên giới với Trung Quốc, kiếm chuyện cho Trung Quốc tấn công đó là nghề của chàng (giống như Nga buộc phải tấn công Georgia) Mỹ tố Trung Quốc chiếm nước khác bất hợp pháp, tuyên bố cấm vận Trung Quốc, kinh tế Trung Quốc tan ra tro.
Chiến tranh thế giới thứ III:
Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng đánh bằng quân sự, Mỹ đánh Irac để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc, Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc. Mỹ bán và dàn trận các tên lửa chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc, bảo đảm nguồn cung cấp dầu, bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc, kể cả Việt Nam sau nầy nếu chịu đứng chung chiến tuyến với Mỹ đánh Trung Quốc. Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela nhằm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc. Mỹ triển khai máy bay 747 trang bị vũ khí Laser, bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên. Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ, xung quanh Trung Quốc, khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như: Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc. Việt Nam tấn chiếm lại Hoàng Sa, Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu ở Đảo Điếu Ngư của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc trên biên giới Ấn Hoa tố Trung Quốc xâm phạm biên giới, Ngụy-tạo điều kiện lập lại Vịnh Bắc Việt (Tonkin Incident) gọi là Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ, Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn, Trung Quốc tham chiến. v.v….… Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía, kể cả đánh bằng nguyên tử: Phía Đông Bắc có Nhật, Nam Triều Tiên – Phía Đông có Đài Loan – Phía Đông Nam có Philipines, Thái lan, có thể có Việt Nam vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa, (vào cơ hội nầy VN chấm dứt sách lược đu dây để không thành bãi chiến trường, đó là cái khôn ngoan của VN) Trường Sa. Mỹ đang ve vãn Việt Nam và Miến Điện, phía Nam có Ấn Độ, phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan; Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO, Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc.
Kết quả nước Trung Quốc tan hoang, vỡ ra từng mảnh vụn, mỗi nước chiếm 1 miếng, Việt Nam chiếm 1 miếng (xác nhập đảo Hải Nam, HS, TS) Nhật chiếm 1 miếng, (đảo Điếu Ngư) Ấn Độ chiếm 1 miếng, Tây tạng độc lập, hình thành nhiều quốc gia theo sau sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo, các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như: quốc gia Hồi Giáo, quốc gia Thiên Chúa Giáo, các quốc gia của các dân tộc thiểu số: Duy Ngô Nhĩ, Quảng Đông, Tiều, Quan Thoại… Đoạn kết Eurasian-1, Nam Hàn thống nhất nam bắc Hàn trong tình trạng huy hoàng không đau khổ như ở VN, Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu: Ba-Lan, Rumani …sau 1991. Giải phóng Iran, Venezuela, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện… sẽ được bầu cử tự do giống như Iraq, một nước dân chủ là cơ chế mẫu cho các nước Trung Đông, có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ, Mỹ muốn nước nào sống thì sống, mà muốn chết thì chết. Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III, mà Trung Quốc vẫn vỡ ra, đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ trong Eurasian Great Game.

Tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam?
Mỹ muốn chơi trò Tam Quốc Chí tân thời, nhưng Mỹ có quyền chọn ai là bạn ai là thù! Trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ là người chiến thắng. Vì mục đích của việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam là nhằm ngăn cản Trung Quốc chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc, đưa Trung Quốc thành quốc gia đứng nhất thế giới , Trung Quốc sẽ dành chức Đế Quốc của Mỹ (trong nầy quan trọng nhứt là hủy bỏ vũ khí cũ và tái sản xuất vũ khí thời đại) Sau khi Mỹ âm thầm giao Việt Nam cho Liên Xô trong thế “Bên Kẻ Mạnh” (Việt Nam muốn đánh với Mỹ phải cần vũ khí Liên Xô, nên Việt Nam sẽ dựa hẳn vào Liên Xô) Mỹ an tâm là Trung Quốc không thể chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc. Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam Á thì phải chiếm Việt Nam trước đã, phải đánh nhau với Liên Xô, Trung Quốc đánh với Liên Xô trên chiến trường Việt Nam năm 1979 qua vũ khí hai bên làm ra. Mục đích của Mỹ đã đạt nên Mỹ rút đi năm 1973. Chức Đế Quốc của Mỹ đứng nhất thế giới vẫn còn giữ được cho đến ngày nay Người Mỹ vốn thực tế và thẳng thắn nên chính họ là nước lên tiếng trước chúng ta, Việt Nam cần bắt lấy cơ hội này mà đa phương hóa vấn đề tranh chấp biển Đông; Một số quốc gia khác cũng đang lo ngại Trung Quốc, ít nhất cũng có chung 1 quan điểm với VN là phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình.
Việt Nam phải dựa vào Mỹ, là nước có quyền lợi kinh tế bị đe dọa ở biển Đông, làm lá chắn cho mình; VN không nhất thiết phải đối đầu quân sự với TQ nhưng bằng ngoại giao và chính trị có thể ràng buộc TQ tuân thủ luật pháp quốc tế nếu không muôn trực tiếp đối đầu với Mỹ (Nên lưu ý có chiến tranh VN là bãi chiến trường!) VN nên mời gọi các công ty Mỹ hợp tác khai thác biển Đông vì Mỹ đã chính thức phản đối việc TQ gây áp lực lên các công ty của họ; Cái ông Đại Tướng Thanh nói là có toan tính của đảng trong đó; Có nhiều người không thích cộng sản, nhưng cộng sản có nhiều cái đúng hoàn toàn; Đó là chỉ có mình mới tự giải phóng cho mình được (đấu tranh giải phóng dân tộc) Độc lập và tự chủ (chiến tranh 1979 với TQ, Liên Xô muốn can thiệp nhưng VN chỉ muốn viện trợ vũ khí. Dẫu sao TQ nó cũng ở gần bên, có nhiều ràng buộc mà không phải ta bỏ là được, rồi giải pháp hòa bình thông qua quốc tế hóa là vẫn còn nguyên hi vọng. Phản ứng của Mỹ nó như một tín hiệu Mỹ muốn móc nối thôi. Việc đi nhờ quốc gia khác giải quyết vấn đề của ta là không thể. Trong khi Việt Nam cũng không theo chiến lược diều hâu nếu chưa quá nghiêm trọng. Phản ứng ở đây không phải là ai gan dạ hơn, can đảm hơn, nhưng ứng xử khéo léo sẽ quan trọng khi ta muốn quốc tế hóa nó. Không phải mấy cái đầu nóng là bảo vệ được chủ quyền, nhưng phát triển quan hệ mới với Hoa Kỳ, đó là một lựa chọn đúng đắn cho sự cân bằng, không phải là sự trông cậy, không phải hăm dọa Trung Quốc.
Người viết tin chắc rằng tướng Phùng Quang Thanh biết rất rõ tình hình đối đầu (với TQ) ngày càng gia tăng tại biển đông, không ai ngoài ông là một trong những người chịu nhiều áp lực nhất trước khi trả lời báo chí về vấn đề vô cùng nhạy cảm này.
Người lãnh đạo tài ba phải là người biết lèo lái con thuyền đi vòng qua những thác ghềnh, nhất là khi tránh con thác này thì buộc phải đụng con thác khác thì ta mới chọn con thác nào dễ vượt qua nhất. Nên nhớ rằng nếu có chiến tranh dù Mỹ hay TQ gây ra, VN vẫn là bãi chiến địa điêu tàn nhứt; Tuy HK đã nêu quan điểm về biển đông, nhưng ta cũng không nên tin tuyệt đối vào người đồng minh cũ này được vì đã có nhiều hành vi bất tín, không khéo để xảy ra chiến tranh tại biển đông thì chắc chắn dân ta lại rơi vào cảnh lầm than nghèo đói và chết chóc.
Chúng ta không nên ngồi đây mà ý kiến này nọ, mà hãy nên cùng nắm chặt tay nhau, cùng tạo thành một khối thống nhất, thì kẻ thù nào dù có muốn thôn tính biển đảo của ta cũng phải kiên dè. Tôi muốn nói hãy xóa bỏ hận thù mà nghĩ đến món nợ thù chung. Đụng vấn đề gì cũng thấy người Việt mình chia rẽ quá, chẳng ai chịu ai, ai cũng cho rằng chỉ có mình là đúng, là sáng suốt hơn người khác. Nhất là đang còn một bộ phận không nhỏ “tử thù”, chống Cộng (tức cộng sản) đến cùng, nhưng lại không có “thần tượng”. Thần tượng như một người tài ba mà nước Mỹ kính nể, thế giới kính nể như Bác học Nguyễn Xuân Vinh mà cũng có người không ra gì chỉ trích cho mình chính mới là thần tượng, thật nhục vì NVHN không có lãnh tụ, chỉ có điều kiện duy nhứt là 2 triệu người đều là lãnh tụ hết! Nếu chúng ta đoàn kết dân tộc, trên dưới một lòng thì sẽ chẳng có kẻ thù nào giám xâm lăng. Vì vậy, để bảo vệ Tổ Quốc, không gì tốt hơn là phải có chính sách hoà hợp hoà giải dân tộc thực sự như cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt từng kêu gọi, trước khi bàn đến các giải pháp khác. Nhưng ác nghiệt thay Mỹ chưa muốn vi còn quá sớm, nhứt là còn thành phần “tử-thù” như tôi nêu ở trên, CIA sợ tạo ra cảnh tắm máu như hận thù vừa nói trên!
Ai đã tìm hiểu về lịch sử Việt Nam thì sẽ hiểu, hợp tác với tất cả các nước trến thế giới là một điều quan trọng, việc này làm cho chúng ta hoc hỏi được nhiều hơn trên mọi lĩnh vực. Bắt tay với Hoa Kỳ, hay với Trung Quốc đều có lợi cả, những cũng không tránh khỏi việc các nước này lợi dụng trong một số vấn đề. Vì vậy cần phải cân nhắc trong từng trường hợp cụ thể. Hạn chế tối đa việc đối đầu trực diện, vì điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi ích của dân tộc, nhưng mọi giải pháp đàm phàn không thành, thì chúng ta hãy cùng nhau hợp sức lại để chống lại bất kỳ sự xâm lược nào của kẻ thù, dù kể thù đó lại ai. Chúng ta hãy cùng đứng lên, không nên phân biệt Tư Bản hay Công Sản đã là người Việt Nam thì kẻ thù nào xâm lược đất nước thì đó là kẻ thù chung của toàn dân Việt Nam như vậy mới đúng nghĩa yêu nước, dân tộc. Nhân dân Việt Nam đến lúc đó sẽ tự lựa chọn ra người lãnh đạo của mình, quý vị cùng đừng nên nhìn vấn đề một chiều để đánh giá, hãy tự hỏi bản thân đã làm gì để nâng cáo hình ảnh Dân tộc, phát triển đất nước. Chừng nào hết trí tuệ rồi thì chúng ta mới dùng sức lực! Mà sức lực thì phải dựa vào dân, người viết tự cho mình là đại diện những người dân Việt Nam ủng hộ Việt Nam chống đối mạnh mẽ về việc xác định ranh giới tại Biển Đông! Dù một tất cũng không cho, mất một tất nước là một tất máu của đồng bào và chiến sĩ Việt Nam đã bỏ ra mà độ sâu là vô tận, Việt Nam đã chờ đợi sự lên tiếng của Mỹ. Bây giờ Mỹ đã lên tiếng ủng hộ VN, đây là cơ hội chung hợp tác với Mỹ để bảo vệ lãnh hải đảo. Tuy nhiên, cần khéo léo để tránh phật ý TQ. Có như vậy mới đạt được mục tiêu giữ vững chủ quyền của tổ quốc chúng ta. Việt Nam cần đoàn kết 82 triệu người như một như các thời kỳ kháng chiến trước đây để đương đầu với lũ bành trướng phương bắc là kẻ thù truyền kiếp của đất nước ta.

Queenbee-One
vinhtruong
12-28-2011, 10:23 PM
Sự thật Hồ Chí Minh-2
Các bạn nghĩ gì câu cụ HCM nói: welcome a million American soldiers (Trích một đoạn: “He noted that it was impossible for the French to stay, nor were they welcome since the Vietnamese “hated them worse than the Japs….Ho said he would welcome a million American soldiers to come in but not any French”

Hình toán Deer Team OSS và lãnh đạo Việt Minh (trang 32, Volume-1, “The New Legion”)
Hàng đầu: Henry Brumer, Giáp, René Defourneaux, Allison Thomas, HCM, bác-sĩ Paul Hoagland.
Hàng sau: Lauwrence Vogt, và Aaron Squires
Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên câu nói giã từ với thiếu tá OSS Allison Thomas của cụ Hồ (archives) “Ho said he would welcome a million American soldiers to come in but not any French.”

Sự thật HCM-1 của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện đã có một số người chống đối kịch liệt thì “Sự thật HCM-2” tôi viết sẽ ra sao đây? Dĩ nhiên, tôi phải đưa ra rất, rất, rất, nhiều chứng liệu và hình ảnh để nói thẳng vào mặt của hai bên chiến tuyến quá khù-khờ mà tôi có thể biện minh dùm họ: “Chó đâu chó sủa lỗ không?” Mà thật có người đi qua thì chẳng nói làm chi, đây chỉ một luồng gió mạnh làm rơi rụng một cành cây mà 2 con chó nầy thay phiên nhau sủa ròng rã 36 năm qua lại trên các diễn đàn kể cả VOA và BBC, làm cho bọn Skull and Bones cười khúc khích.

Nói tóm lại người viết mạn phép đi trước sử gia thay vì đến 2023 lịch sử mới xác định điều cơ mật nầy trên giấy trắng mực đen cũng chỉ vì Bonesmen muốn bảo vệ tên tuổi các tội phạm chiến. Như những bài trước tôi đã viết, về mặt nổi của chính quyền Mỹ là Cộng Sản đang chiến đấu quyết liệt với Thế Giới Tự Do, nhưng mặt chìm là Mafia VN Lê Đức Thọ (1959), con cưng của một thế lực Bonesmen, những Bones nầy mới thực sự làm chủ nước Mỹ. Họ có quyền về chiến lược ra lịnh cho đứa con Nít Obama phải tuyên dương bà già Jane Fonda là một trong 100 phụ nữ được vinh danh thế giới. Vì câu nói trước 2000 sinh viên tại đại học Michigan (Nov/1970) “Nếu quý vị am tường chế độ CS, quý vị sẽ quỳ xuống cầu mong một ngày gần đây thế giới sẽ thành CS” Vì ở Mỹ mới thật là Ông Cố Nội CS. Những nước CS Đông Âu còn tử tế hơn nhiều, người dân phải tự cảm nhận tất cả cái gì của đất nước là của nhà nước chính phủ, phải đóng thuế, kể cả những gì nằm sâu dưới đất, dưới biển, chỉ có không khí để con người thở mà sống thì được Free, nhưng đối với tổ sư CS Mỹ thì không. Bọn Bonesmen suy gẫm không được, không khí cũng phải Pay, Bonesmen bèn chế ra Smock Check để kiếm chút đỉnh tiền mà còn mang thơm danh là đang lo môi trường sống thanh khiết cho dân chúng? Người Việt ngu ngơ không biết bắt một ổ Le Le về ấp ra con nuôi chơi, được Cảnh sát hỏi licence nuôi gia cầm, không có phạt 500 đô.

Sự thật Hồ Chí Minh-2, nói theo tình báo quân đội OSS: In the mid-1940s, the Viet Minh, under Ho Chi Minh, looked to the West for help in its independence movement and got it???” Đó là lý do TNS/POW John Mc Cain cho rằng HCM là Nationaliste nhưng tại vì quyền lợi America first nên Bonesmen phỉnh gạt, chính OSS cũng bất mãn về động thái nầy của Bonesmen. Thế nên OSS cho rằng: “HCM unexpected allies”; Còn trong chiến tranh Tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld cho rằng “Miền Nam bù nhìn, Miền bắc yêu nước” Ý Rumsfeld phải trả lại nền độc lập cho VM qua tướng Giáp OSS còn sống.

Churchill: “Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy.” (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it), Đây cũng là đề tài tôi nêu lên để chúng ta cùng bàn cãi đi đến một kết luận xác thực hơn, nhưng tuyệt đối lịch sự trong bàn thảo để cùng đưa ra một câu trả lời đúng đắn như cụ Hồ dùng CS như phương tiện và cứu cánh là cứu nước qua nhiều tài liệu tối mật từ OSS.

Mặt trái về Sự Thât Hồ Chí Minh-2
Là một thiếu tá bộ binh của tình báo quân dội OSS, Allison Thomas ngồi xuống dùng bữa cơm thanh đạm cùng ăn chiếu với HCM và tướng Giáp vào lúc rừng tà xế bóng, ngày 15/9/1945, Thomas rất hứng khởi bằng ôm ấp nhiều câu hỏi nhét sẵn trong đầu, đợi có dịp phun ra và Thomas đã thoả mãn.
HCM đã ra lịnh các lực lượng bảo vệ yếu nhân VIP để đưa Thomas về Hà Nội, trong lúc Thomas chuẩn bị hành trang cho ngày mai với một trọng trách hoàn thành mỹ mãn do cụ HCM bảo đảm trước khi ra đi từ biệt bằng câu trên “… welcome a million American soldiers…” nhưng không có lính Tây.
Trước đó, Thomas và một toán nhỏ tình báo quân đội OSS đã cùng chung sống, huấn luyện trong hai tháng như chương trình hành quân bí mật của Office of Strategic Services lấy tin tức để chống lại bọn quân phiệt Nhựt trong lúc chiến tranh thứ 2 còn đang bộc phát dữ dội.

(Bài nầy còn tiếp, nhưng phải đợi một thời gian dài coi phản ứng độc giả ra sao tôi mới viết tiếp)

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
01-07-2012, 04:11 PM
“Sự thật HCM-1” của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ thực hiện 2009 đã có một số người chống đối quyết liệt thì “Sự thật HCM-2” của tôi viết sẽ ra sao đây? Dĩ nhiên, tôi phải đưa ra rất, rất, rất, nhiều chứng liệu và hình ảnh để nói thẳng vào mặt của hai bên chiến tuyến quá khù-khờ, ngu-xuẩn mà tôi có thể biện minh dùm cho họ: “Chó đâu chó sủa lỗ không?” Mà thật nếu có người đi qua thì chẳng nói làm chi, đây chỉ một luồng gió mạnh làm rơi rụng một cành cây xuống trước cỗng nhà mà 2 con chó nầy thay phiên nhau sủa ròng rã 36 năm qua lại trên các diễn đàn kể cả VOA và BBC, làm cho bọn Skull and Bones cười khúc khích.

Mà thật, nhìn soi rọi thật kỹ vào thể chế Việt Nam hiện tại, thì chẳng có chút gì CS, nhưng ác nghiệt thay, Bonesmen bắt buộc Việt Nam phải tự nhận cho mình là CS vì mục đích phỉnh gạt dư luận thế giới? Lấy Cuba làm chứng cớ, vì đối với Bonesmen, Cuba bản chất là CS thứ thiệt, thì làm gì được Bones cho người Cuba hải-ngoại gởi tiền về tới tấp như VN? Mục đích của siêu chính phủ sau hậu trường chính trị cố khuấy động cảnh nồi da xáo thịt, chém giết lẫn nhau đến tận tuyệt bằng súng đạn của WIB còn tồn kho quá nhiều sau thế chiến-2, để tàn phá khủng khiếp, rồi họ sẽ tái thiết tối đa như hiện nay tại VN, đó là áp dụng sách lược theo định luật Malthus! Thế nên Bonesmen cần costumers lính Lê dương cũ (Pháp) tiếp nối lính Lê Dương mới (VNCH) tiêu thụ cho hết thứ quỷ nầy, song hành với con nợ LX cũng kẹt một số vũ khí cần được giải toả cho hết bởi cái bửu-bối debit-card “Aid to Russia 1941-1946 Plan” do Mỹ dụ-khị. http://www.answers.com/topic/w-averell-harriman cũng do ông đại sứ Mỹ tại Moscow 1943-1946, là William Averell Harriman dụ-dỗ chơi debit card. Thế là AK cho Hà Nội xài từ 1964, còn Saigon cứ chơi Garant, Carbin M1 [từng viên trong kẹp đạn 8 viên] cho hết, sau decent interval 1968 Mậu Thân là giai đoạn chuẩn bị bức tử VNCH hoàn tất axiom-1.
Cho nên, nếu nói đúng nghĩa, tôi phải gọi là Mafia VN? Là công cụ của Bonesmen phải làm lợi cho họ: Thế là phải ăn cướp thả giàn của cải, khủng bố tước đoạt điền thổ, ăn chận nguyên vật liệu xây dựng do nước ngoài trợ giúp, bỏ túi riêng tiền viện trợ… xong phải recycling thành Green-dollar gởi qua Mỹ càng nhiều càng tốt, mua bất động sản, khế ước, sổ tín dụng ngân hàng, cổ phần hùn vốn, đem con cháu qua Mỹ học, rữa tiền, mua trang sức xe cộ đắt tiền …rồi CIA tạo ra cuộc đảo chánh êm-ái, Mỹ đem tiền trả lại cho người dân bằng hàng tiêu dùng sắp hết hạn. Nên nhớ những ai Mỹ đưa lên ăn mập, Mỹ lại đem xuống lấy Green-dollar, trả lại cho dân bằng hàng tiêu dùng, và cứ như thế mà luân chuyển kẻ trước người sau, như các lãnh tụ quanh khắp thế giới được chính Mỹ đã đưa lên như thời sự hiện nay, và rồi chính Mỹ lại nhận chìm xuống để lấy của cải trả lại cho dân, và được thơm danh là “Thế Thiên Hành Đạo”
(Trích một đoạn “Sự Thật Hồ Chí Minh-2” qua giai đoạn cuối Eurasian Great Game-1)

Cái gọi là Đảng CS [Mafia toàn trị] cứ ra-rả nói đến “chủ-quyền” nghe rất buồn cười – Bắt đầu 2010 Mỹ roll-back, đánh dấu vào thời điểm vừa nhậm chức, bà Hillary đi thăm Á-Châu, từ đó từ từ chuyễn biến qua nên dân chủ pháp trị thành một nước VNCH lớn mạnh hơn xưa qua sự chuyển tiếp quyền-lực từ đảng Mafia toàn trị qua cho Quốc-hội, thí dụ, vào cuối năm 2011, Nguyễn Tấn Dũng nhân danh VNCH tuyên bố trước Quốc hội VNCH về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, chớ nếu là CSVN và Quốc hội CS thì chỉ có 12 hải lý mà thôi, như Phạm Văn Đồng đã ký, chắc các bạn đồng ý điều nầy chớ? Đây là trong lăng kính cũa Bonesmen về decent interval roll-back 2010, mà chả ai nào biết cái gì cả? Bones không cần đa đảng gì cả, vì chả có đảng CS gì cả mà đảng Mafia tự bấy lâu nay trong lăng kính của Bonesmen, tới decent interval phải trả lại quyền làm chủ cho dân theo đúng lộ đồ diễn biến hoà bình của CIA, lấy diện là “kinh-tế” điểm là “dân-quyền” để chuẩn bị tiếp đón lãnh tụ VN vào Bạch Ốc vô cửa trước đàng hoàng, nếu còn đảng Mafia thì phải đi hậu môn vì danh dự nước Mỹ không thể tiếp bọn ăn cướp đi cửa trước được. Từ nay, Nguyễn Tấn Dũng mặt nổi, Nguyễn Chí Vịnh mặt chìm, lo điều hành từng bước chuyển tiếp vụ nầy, và tuyệt đối không được đổ máu! Cái ưu tiên phải đem lại quyền lực tuyệt đối cho Quốc hội trước, sau đó chính Quốc-hội sẽ chọn người thay thế Nguyễn Tấn Dũng đê bàn giao. Chỉ có NVHN là mong có đa đảng vì trong đầu họ cứ nghĩ là có ĐCSVN hiện nay đang lãnh đạo. Duy Bonesmen thì tất cả thế giới đều nằm trong quỹ đạo của Mỹ, chỉ trừ khi nào đồng dollar xanh hết là nền tảng gốc của thị trường thế giới, lúc đó mới không còn Eurasia Great Game-1 (Cuộc chiến VN đã thiết kế từ 1938 cùng với Đức, Triều Tiên bị chia, click internet … vì “America-First” … C-ration – Wikipedia, the free encyclopedia en.wikipedia.org/wiki/C-ration
Block all en.wikipedia.org results
[DaNang, Vietnam, circa 1966 – 1967. The C-Ration, or Type C ration, was an individual canned, pre-cooked, or prepared wet ration intended to be issued to U.S. …
Background and Development – Field Ration, Type C (1938-1945)]
Đứng trên góc cạnh tình báo, Liên Xô sụp đổ ngày 30/5/1987 chớ không phải vào mùa Noel 1991; Còn Mafia Việt Nam tan ra ngày 23/July/2010, vào thời-điểm bà Hillary qua Hà Nội được gọi là “[B]Diễn Biến Hòa Bình SHA” [Smooth Harmonic Approach) Nhưng đến chừng nào mới chính thức công bố? Nếu tương-đương với thời gian LX là dip Tết đầu năm 2015, nhưng tôi nghĩ phải sớm hơn, vì Mỹ muốn cắt bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN càng sớm càng tốt, bởi những vũ khí VN đang có cũng trả bằng Green dollar Mỹ cho Liên Xô, Israel, Ấn-Độ, Canada… chi bằng Mỹ tặng thẳng cho rồi, chớ mấy ông nội Mafia VN bỏ tiền vào túi chưa đủ lấy đếch gì mà trả? Để khỏi phải phiền phức giây tờ qua lại mất công. Nhưng có một điều chắc chắn trước khi quốc tế công nhận một nước Việt Nam Cộng Hoà thì sẽ có biến cố là Nguyễn Tấn Dũng phải ra đi như tướng Nguyễn Khánh mang cục đất quê hương ra ngoại quốc tận hưởng tuổi già hay chịu bị thanh-toán dưới bàn tay của Nguyễn Chí Vịnh? (Chuyện nầy có thật hay không, diễn đàn nầy sẽ còn lưu giữ đến ngày đó).

Cuộc đồng sàng dị mộng giữa OSS và HCM
Cụ Hồ nói: “welcome a million American soldiers …” Tôi biết độc giả rất đỗi ngạc nhiên và tự hỏi tài liệu đâu?
Trong tài liệu “Sự thật Hồ Chí Minh-2”, các bạn nghĩ gì câu cụ HCM nói: “welcome a million American soldiers … “ (Trích national archives một đoạn) “He noted that it was impossible for the French to stay, nor were they welcome since the Vietnamese hated them worse than the Japs….Ho said he would welcome a million American soldiers to come in but not any French”
Hình giải mật toán Deer Team OSS và lãnh đạo Việt Minh (trang 32, Volume-1, “The New Legion”)
Hàng đầu: Henry Brumer, Giáp, René Defourneaux, Allison Thomas, HCM, cán sự quân-y Paul Hoagland.
Hàng sau: Lauwrence Vogt, và Aaron Squires (cãnh hơi lạ là ở trong hang rừng Pat-pó nhưng tướng Giáp mặc complet trắng thắt cà vạt đàng hoàng, vì là ngày gia nhập tình báo OSS 1945, còn HCM là ở Trùng Khánh bên Tàu 1943, vả lại cụ Hồ mặc quần cụt cho tiện, vì cụ đang bị sốt rét rừng và đang bị kiết lị hoành hành, nên ăn mặc như vậy để thả bom không người lái cho dễ, Cán-sự quân-y Paul Hoagland lo chăm sóc sức khỏe cho cụ Hồ thầm nói: “… As “Hoo”, he was “nothing but skin and bones” mà thật nhìn hình thì đúng vậy như bộ xương cách-trí biết di-chuyển).

Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên câu nói giã từ với Thiếu tá OSS Allison Thomas từ cửa miệng cụ Hồ “Ho said he would welcome a million American soldiers to come in but not any French.”
Nói tóm lại người viết mạn phép đi trước sử gia thay vì đến 2023 lịch sử mới xác định điều cơ mật nầy với tài liệu dẫn chứng sau nầy (và trả lại tính trung thực cho lịch sử VN dựa trên sử sách đứng đắn) trên giấy trắng mực đen cũng chỉ vì Bonesmen muốn bảo vệ tên tuổi các tội phạm chiến tranh.
(Thiết tưởng tôi cũng nên nói toạc móng heo như đã chĩa ngay mặt 2 tội phạm chính trong 2 tác phẩm “The New Legion” là William Averell Harriman [1891-1986] Freewheeling-policymaker và Prescott Sheldon Bush [1895-1972] Chairman WIB (War Industries Board)
Ông TTK/LHQ U-Thant nhận định cuộc chiến Việt Nam không có kẻ thắng người bại mà chỉ có một sự tàn phá khủng khiếp về người và vật … để tái thiết 10 lần to hơn theo định luật Malthus.
Mãi đến năm 2005, trong tác phẩm “The Secret History of CIA” do tác giả Joseph J. Trento, có ghi lại cuộc phỏng vấn với viên chức cao-cấp CIA, William R. Corson, ông nầy tiết lộ chính đích thân William Averell Harriman ra lệnh giết hai anh em Diệm-Nhu. Hai ký giả Anh-Quốc Michael Charlton và Anthony Moncrieff cho rằng TT Kennedy chịu trách nhiệm về vụ giết TT Diệm vì không hề ra chỉ thị rõ ràng để bảo toàn sinh mạng của TT Diệm, thì cũng như các Tướng lãnh đổ tội cho nhau như Đôn đổ lỗi cho Minh, Minh đổ lỗi cho Khiêm…tất cả đều đổ lỗi cho viên đạn tàn phá thân xác mà không biết ai đã bóp cò? Giờ đây thì chúng ta đã biết rõ ai bóp cò súng? Và bỏ tiền thuê mướn báo chí ngoài nước đổ cả tội lỗi cho TT Kennedy và Johnson giết TT Diệm thì hữu lý vì Kennedy là đương kiêm tổng thống!
Hai tội phạm nầy, (trich một đoạn trong Volume-2: trang 272-273) L.B Johnson: To revenge an insult, L.B.J full concurs with U.S Attorney General, Robert Kennedy … especially assassinated which they once compared to “throwing sand in the umpire’s face” – So much clinging to the past: the Trading with the Enemy-Act of December 1941…
Suddenly, Robert Kennedy fell to an assassination’s bullets in 1968 like his older brother. In the phenomenal U.S history televised address of President Johnson announced he would not seek reelection. He knew the price he will would pay – by from the real two Cowboys Texas father and son, and the masterminded W. A Harriman, who’s a founder of the Skull and Bones Dynasty – however, this triumvirate practiced of crony capitalism but still to strengthen the U.S position in the First-World-Superpower predominant in maintaining Patriot-Act.
Như những bài trước tôi đã viết, về mặt nổi của chính quyền Mỹ là Cộng Sản đang chiến đấu quyết liệt với Thế Giới Tự Do, nhưng mặt chìm là Mafia VN Lê Đức Thọ (1959) công-cụ cho một quyền lực ghê gớm Bonesmen, những Bones nầy mới thực sự là nhóm người làm chủ nước Mỹ. Họ có quyền về chiến lược khi decent interval ra lịnh cho đứa con Nít Obama phải tuyên dương bà già Jane Fonda là một trong 100 phụ nữ được vinh danh thế giới. Vì câu nói trước 2000 sinh viên tại đại học Michigan: (Nov/1970) “Nếu quý vị am tường chế độ CS, quý vị sẽ quỳ xuống cầu mong một ngày gần đây thế giới sẽ thành CS”. Và cựu tướng Bùi Thế Lân vừa được Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng Huân Chương Legion of Merit (Degree of Commander) qua một văn bản ký bởi Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert M. Gates
Vì Mỹ mới thật là Ông Cố Nội CS. Những nước CS Đông âu còn tử tế hơn nhiều, người dân phải tự cảm nhận tất cả cái gì của đất nước là của nhà nước chính phủ, phải đóng thuế, kể cả những gì nằm sâu dưới đất, dưới biển, chỉ có không khí để con người thở mà sống thì được Free, nhưng đối với tổ sư CS Mỹ thì không. Bọn Bonesmen suy gẫm không được, không khí cũng phải Pay, Bonesmen bèn chế ra Smog-Check để kiếm chút đỉnh tiền còm mà còn mang thơm danh là đang lo môi trường sống thanh khiết cho dân chúng? Có một người Việt ngu ngơ không biết bắt một ổ Le Le về ấp ra con nuôi chơi cho qua nổi buồn vong quốc, được Cảnh sát hỏi licence nuôi gia cầm không có bị phạt 500 đô …

“Sự thật Hồ Chí Minh-2”, nói theo tình báo quân đội OSS: In the mid-1940s, the Viet Minh, under Ho Chi Minh, looked to the West for help in its independence movement and got it???” Nếu Bonesmen đừng phá bĩnh, cụ Hồ sẽ thắng 80% theo ước tính của CIA vào 1956. Đó là lý do TNS/POW John Mc Cain cho rằng HCM là Nationaliste nhưng tại vì quyền lợi America first nên bị Bonesmen phỉnh gạt, chính OSS cũng bất mãn về động thái ich-kỷ nầy của Bonesmen. Thế nên dưới lăng kính bất bình của OSS cho rằng: “HCM unexpected allies” – Còn trong chiến tranh Tham mưu trưởng WSAG Donald Rumsfeld cho rằng “Miền Nam bù nhìn, Miền bắc yêu nước” Ý Rumsfeld phải trả lại nền độc lập cho Việt-Minh qua tướng Giáp còn sống, đó là nguyên nhân Giáp bị anh em Đức-Thọ và Chí-Thọ tranh giành quyền lực đã nhiều lần hãm hại, nhưng được KGB giải thoát như đã cam kết với CIA.

Thủ tướng Churchill: “Tôi không chấp nhận những điều anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh nói như vậy” (I disapprove of what you say, but I will defend to the death your right to say it) Đây cũng là đề tài tôi nêu lên để chúng ta cùng bàn cãi, sẽ đưa ra nhiều chứng liệu data đi đến một kết luận xác thực hơn, nhưng tuyệt đối lịch sự trong bàn thảo để cùng đưa ra một câu trả lời đúng đắn như cụ Hồ dùng CS là phương tiện và cứu cánh là cứu nước qua nhiều tài liệu tối mật từ OSS, ai có cao kiến gì cứ đưa ra chúng ta cùng tìm hiểu, cùng học hỏi như con người lịch sự trí thức, vì đây là đề tài khá phức tạp, cần minh chứng bằng tài liệu, cao-kiến để không bị chính chúng ta ghép vào chuyện huyền thoại hay hoang tưởng do nhiều chứng minh thực tế, nói có sách mách có chứng?

Mặt trái về Sự Thât Hồ Chí Minh-2
Là một thiếu tá bộ binh của tình báo quân dội OSS, Allison Thomas ngồi xuống dùng bữa cơm thanh đạm tạm biệt với HCM và tướng Giáp vào lúc rừng tà xế bóng, ngày 15/9/1945, Thomas rất hứng khởi bằng ôm ấp nhiều câu hỏi nhét sẵn trong đầu, đợi có dịp phun ra trước khi rời khỏi VN và Thomas đã thoả mãn trước khi về xứ vì thế-chiến-2 đã kết thúc.
HCM đã ra lịnh các lực lượng bảo vệ yếu nhân VIP để đưa Thomas về Hà Nội, trong lúc Thomas chuẩn bị hành trang cho ngày mai với một trọng trách hoàn thành mỹ mãn do cụ HCM bảo đảm trước khi ra đi từ biệt bằng câu trên “… welcome a million American soldiers… nhưng không có lính Tây”.
Trước đó, Thomas và một toán nhỏ tình báo quân đội OSS đã cùng chung sống, huấn luyện trong hai tháng như chương trình hành quân bí mật của Office of Strategic Services lấy tin tức để chống lại bọn quân phiệt Nhựt trong lúc chiến tranh thứ 2 còn đang bộc phát dữ dội.

Thiếu tá OSS Peter Dewey là người Mỹ đầu tiên bị chết mất xác tại Saigon ngày 26/9/1945 trong lúc hỗn loạn, mà điều chắc chắn là VM phục kích bắn chết? Nguồn tin cho biết bị bắn lầm, vì xem Dewey như người Pháp khi ông nói toàn tiếng Pháp? Và đã 66 năm trôi qua nhưng chưa tìm ra thi thể. Điều nầy cần các bạn giúp thêm tài liệu có phải HCM ra lịnh giết hay không? Vi theo nguyên tắc làm việc khi có biến-cố, agent OSS phải có mặt làm nhân chứng như cụ Hồ đã có mật tin Trung tá OSS Afred Kitt sẽ dẫn người Pháp đổ-bộ tại Hải phòng trong tương lai, mà theo người viết cho là chuyện có thật như: cái gọi là ngươi Mỹ tiến-bộ đòi đổi họ là Hồ Chí Nam, một tù binh POW xin tự nguyện ở lại làm nhân chứng 10.000 tù khổ sai từ miền nam được chuyển ra bắc để… (khôi hài là họ đã trúng tuyển dạng HO, sẽ tiếp nối ngay sau dạng ODP chấm dứt, câu chuyện nầy tù binh ở Yên Bái ai cũng điều biết).

(Bài nầy còn tiếp, nhưng phải đợi một thời gian dài coi phản ứng độc giả ra sao tôi mới viết tiếp, vì thật ra một đề tài về khoa học kỹ thuật thì dễ đi đến kết luận, như trường hợp người trẻ lưu vong đi đến kết luận mà ai ai cũng nhìn nhận là đúng vì căn cứ theo đương sự là chuyên viên, còn như đề tài nầy thì thật vô cùng gút mắc; vì như chúng ta đã hiểu khi nói đến 3 đề tài khó mà giải quyết đúng sai như: Chính trị, Tôn giáo, và Lối sống thì quá thật khó thiệt. Nhưng ở đây tôi van xin các bạn nên có những ngôn từ lịch sự hơn dù có nhiều xung khắc đụng chạm về nhận thức chính trị chính em điều quan trọng là qua lời văn, chúng ta có thể xác-định trình độ nhận thức của đương sự một cách công khai trên giấy trắng mực đen lưu lại trên diễn đàn nầy mãi mãi, ý tôi muốn nói thẳng là họ phải chịu trách nhiệm những gì mình nói ra? Chớ không phải vì quê quá muốn tránh né nên đổi cái Nick khác là xong?

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
01-14-2012, 04:33 AM
Cuộc đồng sàng dị mộng giữa Toán OSS và HCM

Tại Trùng Khánh bên Tàu, đại tá hải quân [Captain] Patti’s OSS group, the Deer Team, đã có thiết lập một tổ gián-điệp vào ngày 16/5/1945, sẳn sàng chờ lịnh từ Washington trong vòng 2 tháng, người Pháp sẽ được lịnh trở lại Đông Dương theo sự ngầm gật đàu của Bonesmen [Prescott Bush, chủ tịch WIB và W A Hariman, Thủ-lãnh Bonesmen] Sau hai tháng chờ lịnh, đến July, 1945 Washington quyết định điều Thiếu tá Army, Thomas phải hướng dẫn toán sáu người nhảy dù xuống trại Tân Trào là trung tâm huấn luyện VM để bắt đầu cuộc hành quân bí mật tại mật khu Patpó.
Trong dĩ vãng, Captain Patti đã làm việc với Thiếu tá Thomas ở bắc Phi và mặc dầu ông là một sĩ quan trẻ nhứt nhưng rất năng nổ và am tường chính trị, đường lối của Washington muốn gì đối với thời sự quốc tế của một nước Mỹ đầy quyền lực, cao ngạo, trật thượng. Nhưng con người lịch sự như Thomas chẳng bao lâu được sự ngưỡng mộ của cụ HCM và tướng Giáp, tại trại huấn luyện Tân Trào, Thomas là người Mỹ duy nhứt được cảm tình với tất cả mọi người VM, và hầu như mọi người đều hiểu được tầm quan trọng là bãi thả dù tiếp tế, mạch máu sống còn của Trại. Để điều khiển cũng như hướng dẫn USAAF, Thomas làm việc chặt chẽ với HCM nhứt là về sự an toàn cho những bãi thả dù tiếp tế, phần nhiều do cụ HCM chọn bãi thả nhưng phải thường xuyên thay đổi để được bảo mật.
Chỉ riêng có René-Defourneaux, mới vào quốc tịch Mỹ gốc Pháp, nên cụ Hồ khó tin hắn sẽ sẵn sàng giúp cụ duy trì nền độc lâp cho VN như Philippines, Hồ thường nói chúng tôi xứng đáng được hưởng nền độc lập tự trị như gần 60 nước trên thế giới đã lấy lại từ tay bọn thực dân tây phương, chúng tôi … “We deserved the same treatment,” said Hoo. “You should help us reach the point of independence. We are self-sufficient.” Tuy vậy nhưng Defourneaux ngửi rằng: kể cả 2, Hồ và Giáp đều “on the same wavelength,” như cuộn sóng ngầm trong tư tưởng chứa đầy lý thuyết Cộng Sản Max/lenin, và trong những tháng ngày trôi qua như đồng sàng mà dị mộng! Hồ và Giáp nói giỏi tiếng Pháp mà Fourneaux phải uốn lưỡi nhiều lần để khỏi lỡ phun ra tiếng Pháp thật là khó khăn cho hắn giữ miệng giữ mồm.
Cũng như đối với Trung đội phó Võ trang Tuyên truyền, Văn Tiếng Dũng và Giáp là trung đội trưởng, Toán OSS có ấn tượng như cuộc đồng sàng dị mộng kéo dài nầy như vô tận, biết chừng nào thoát ra khỏi trong đầu chúng, với một cảm tưởng ghê rợn như đang sống giữa một thổ dân Phi Châu thèm ăn thịt người mà không biết thằng nào bị bắt số làm thịt trước? Hầu hết cả toán hạ sĩ quan OSS cảm nghĩ như con chiên luôn luôn được thuyết giảng lý thuyết chủ nghĩa CS mà Defourneaux xem như VM là người bạn cũa rừng rú: “the OSS’s “friends of the forest,” (một câu trong tài liệu national archives) đang hàng ngày được nhồi nhét về chủ thuyết CS vào sáu cái đầu con chiên mới gia nhập?
Nhưng riêng đối với HCM thì thật ra hoàn toàn không phải vậy, cụ đặt hết niềm tin, lòng thành và hy vọng nơi người Mỹ, và chỉ có người Mỹ mà thôi mới giúp VN giành lại độc lập tự do thực sự từ thực dân Pháp giống y chang Phi Luật Tân (Chúng ta phải nghĩ cho thật chính chắn khi lòng thành khẩn của cụ Hồ bị sự chà đạp và bội phản của đế quốc Mỹ, chớ không phải là đồng minh? thì con người sẽ phản ứng như thế nào khi bị bội phản một cách quá phũ phàng? Dĩ nhiên con đường duy nhứt là cụ Hồ sẽ căm thù và rơi tọt vào cái thòng lọng CSCN, và đây mới là trúng kế của Bonesmen cho mục tiêu chiến lược của họ, Eurasian Great Game.
Chiến lược gia hoàn vũ W A Harriman, người kiến trúc sư cuộc chiến Triều-Tiên và Việt-Nam đã phải đẩy cụ Hồ vào con đường phải chọn Cộng Sản để khuấy động lại chiến tranh lần hai vì hai chữ “America-First”.
Năm 1947, Harriman đã phải tái tổ chức OSS biến thành CIA cho cuộc thay đổi màu da trên xác chết bằng cuộc chiến “surrogate” (đổi vùng từ Trung âu qua Á-châu) CIA tại Trùng Khánh song hành khuyến dụ HCM cùng mục tiêu khuyến dụ Mao Trạch Đông thống lãnh toàn cõi hoa-lục với điều kiện tiếp tục chia đôi Triều Tiên rồi Việt Nam như Đức, là ranh giới hai khối đông tây. Phi đội CAT (Civil Air Transport) do CIA thành lập để cưỡng bức Tưởng Giới Thạch và phe phái rời khỏi lục địa trễ lắm là 1949 qua một hòn đảo xa cách bờ lục điạ.

Còn như Thiếu tá Thomas thì khác, tình bạn giữa Hồ và Giáp được cũng cố hơn bằng sợi dây thắt chặt thành viên OSS/1943, và Giáp 1945, hơn nữa qua những ngày tháng kham khổ nằm gai nếm mật trong khu rừng thiêng nước độc cùng sống bên nhau, và Defourneaux cũng vậy, hắn tự cảm thấy bâng khuâng cho tâm tưởng xung khắc, vì gương mặt hắn có những nét đặc-thù người Pháp. Cụ Hồ và đặc biệt là Giáp đã muốn chinh phục cả những người OSS phải tùng phục họ theo về chủ thuyết Max/Lenin? Trong tài liệu mật thì không hoàn toàn như vậy, OSS đánh giá cụ HCM thật sự là người Quốc Gia, khát vọng đi tìm đường giành độc lập tự do cho Việt Nam bằng mọi phương tiện CS hay thế giới tự do, nhưng cụ rất thèm khát bên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa phương tây giàu mạnh hơn. Sau nầy, Lê Đức Thọ đã thủ tiêu lời viết nguệch ngoạc chữ to chữ nhỏ của cụ gởi cho Đảng khi ra lịnh rút 100.000 quân về bắc 1957 từ bỏ khát vọng giải phóng miền nam, hãy để “Miền Nam Trung-lập, độc lập, và giàu mạnh” sẽ có cơ hội hiệp thương sau (hy vọng độc giả nếu còn sống sẽ thấy chứng liệu lời tạ từ nầy sẽ trình làng vào năm 2023, đúng 50 sau khi Lính Mỹ rời miền nam VN).

Triều đại Mafia-Lê Đức Thọ đang sụp đổ
Căn cứ theo decent interval có nghĩa đúng vào cái mốc thời gian phải chấm dứt để qua giai đoạn mới, kể từ ngày 23/07/2010 lúc 01:28:43 EDT theo lộ trình điểm mốc của CIA, có nghĩa nhằm ngày Bộ trưởng ngoại giao Mỹ, bà Hillary Clinton đến Hà Nội, đánh dấu một nước “VNCH tìm ẩn” đang hiện ra và nói theo cung từ Delta Force là “30% ánh trăng sáng tỏ”. Và vừa rồi, cuối năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân danh VNCH, (ngầm theo ý CIA) dám tuyên bố trước Quốc Hội “TQ đã dùng hành động côn đồ đánh cướp Hoàng Sa của VNCH bằng hành động quân sự, nếu chính thể CSVN là ốc vịt ngay, vì chỉ có 12 hải lý mà thôi, như giấy trắng mực đen Phạm Văn Đồng đã ký? Nói theo danh từ tình báo là “50% ánh trăng sáng tỏ” Thế chừng nào mới 100%? Trước 2023 Hoa Kỳ làm lễ 50 năm commemoration như chiến tranh tranh Triều Tiên 2003 Korea-War Commemoration.
Tất cả vấn đề nêu trên là sự cáo chung của chế độ độc tài sẽ nhường chỗ cho cái gì? Một chế độ dân chủ pháp trị lành mạnh, thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc và bắt đầu ngay cuộc chạy đua rút ngắn sự tụt hậu đã quá bi đát của nước ta so với thế giới, hay một tình trạng hỗn loạn? Hoa Kỳ tự cho là trách nhiệm của mình nên giúp Việt Nam tận tình đến khó hiểu?

Thế là từ dạo đó xảy ra nhiều cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ Đảng giữa phe Hồ, tướng Giáp, tướng Tấn chống lại Chí-Thọ, Đức-Thọ, Lê Duẩn cho đến tháng 4/1959, Lê Đức Thọ hoàn toàn áp chế phe Hồ nhờ CIA/KGB chủ đạo, vẫn nằm trong quỹ đạo của Mỹ về Eurasian, KGB phối hợp với CIA nhúng sâu vào nội tình ĐCSVN, thế là theo mật lịnh của Stalin thân Lê Duẫn, vì Lê Duẩn tham dự mọi chiến tuyến trong miền nam, về bắc làm Quyền TBT, nhưng CIA lại thích chọn người ở ngành tình báo hơn, (như Putin, Mai Chí Thọ/Hanoi bác sĩ Trần Kim Tuyến/Saigon, Nguyễn Tấn Dũng, Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình) vì CIA đã thâm nhập vào cơ thể họ như một Virus thần sầu quỷ khốc khó phát hiện.
Năm 1959 Lê Duẩn về Hà Nội làm Quyền TBT và Lê Đức Thọ vào nam thế Lê Duẩn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Harriman hứa và bảo đảm sẽ làm trùm tiểu-bá ba nước Đông Dương được Bonesmen đặt cho cái tên là Triều-đại Lê Đức Thọ trị vì cho đến khi Thọ chết bằng một thể chế Mafia toàn trị.

Trong nhựt ký, Defourneaux viết về người xếp Thiếu tá Thomas: “hắn ở với tui chỗ nầy như những người câm điếc, chẳng nói chuyện gì ngoài việc làm như cái máy đang phải chạy hằng ngày. Hồ thật ra chắc cũng chẳng ưa gì Thomas, mà chính tôi cũng không ưa hắn; Từ ngày nầy qua ngày nọ, dù rằng Hồ và Giáp cũng là giai cấp địa chủ, nhưng thật ra Hồ cũng chẳng biết con mẹ gì cầm cái cuốc và Giáp cũng chẳng biết con khỉ khô gì về việc vắt sữa Bò, nhưng họ lại vào mật khu làm cách mạng để cứu nước”.
Toán Deer Team huấn luyện về súng bắn đạn nhỏ cho du-kích cụ Hồ tại Trại huấn luyện Tân Trào vào tháng August/1945 (National Archives) Thành viên OSS phải đợi trong vài tuần nữa chờ tiếp tế bằng cách thả dù xuống bãi thả vào đầu tháng August. Trước khi Huấn luyện-viên OSS có đủ súng đạn nhỏ để tập bắn cho du kích cụ Hồ; ngay lập tức khi có vũ khí trong tay; Hầu hết họ là dân sự chưa biết tí gì về súng đạn, OSS chỉ dạy cho họ cách sử dụng bắn chính xác từng viên Garant M-1 và Carbin M-1, và làm cách nào an toàn khi quăng lựu đạn, rồi bắn súng cối 61 ly, Bazookas, đang di hành vác trung liên BAR phản ứng khi bị phục kích. Hồ thì khôn ngoan hơn, chỉ hoc vụ về lý thuyết nhưng thực hành thì không, chỉ bằng lối chiến đấu theo kiểu đánh du kích riêng của Hồ.
Sau bữa ăn đạm bạc thường lệ nhưng vô cùng ấm cúng, thiếu tá Thomas đi thẳng vào vấn đề vì có quá nhiều công điện, hồ sơ mật, công điện hoả tốc phiá bên trung ương Trùng Khánh của Patti (WIB’s Bones Headquarter) hầu như cố tình làm mù mờ khó hiểu, họ không có nét gì được gọi là quyết định cả? Làm sao Thomas hiểu được trong thâm tâm Bonesmen rất cần khuấy động lại chiến tranh để tiêu xài và thí nghiệm vũ khí ở một nơi an toàn xa nước Mỹ!
Dù OSS rất khâm phục tài lãnh đạo cuộc kháng chiến của người thủ lãnh VM từ giữa năm 1940s, Hồ chí Minh đặt hết niềm tin vào Phương Tây chớ không phải những nước nghèo như LX và TQ dù là Cộng Sản hay Tư Bản.
Ngay sau khi thế chiến-2 chấm dứt, Hoa Kỳ và đồng minh, dù rằng hầu hết là đế quốc thuộc địa cũ, nhưng phải đụng đầu với phong trào giải phóng dân tộc đang phát khởi mạnh mẽ tại Á-Châu và khắp thế giới trong khi đó sử gia George Kennan khuyến cáo Hoa Kỳ nên hiểu rằng người da vàng không thích người da trắng đô-hộ họ và tốt nhứt nên để người Tàu da vàng đô-hộ họ là tốt nhứt mà Mỹ chỉ cần nắm chóp người Tàu là diệu kế và thâu được nhiều lợi nhuận, CIA giao cho Mao có trách nhiệm chia hai Triều Tiên và Việt Nam cho đến decent interval thì được thống nhứt cũng do Mỹ bật đèn Xanh cho TQ hiểu ý mà thi hành; Miền nam VNCH đuổi Mỹ, Mỹ phủi tay, còn miến bắc Triều Tiên TQ lo vụ việc nầy khi Mỹ bật đèn Xanh.
Thế là đối với Mỹ, HCM ở trong tình trạng thất sũng và bị cách ly sau đó bằng hai tên Việt gian Lê Đức Thọ và Mai Chi-Thọ, đầy tham vọng được CIA dựng lên đấu đá với phe Hồ, nhưng CIA lại dặn dò buộc phải coi HCM như là một bức tường sắt để núp dưới đó mà độc tài chuyên chính cai trị dân dưới danh nghĩa cụ HCM, nhưng không có cụ. Thế là cuộc thanh trừng quyết liệt của Thọ đối với phe Hồ, dĩ nhiên trục ma quỷ KGB/CIA giúp Lê Đức Thọ thì cụ Hồ phải thua mà thôi, giam lỏng cụ ngày ngày tưới cây Vú-Sữa miền nam, trong khuôn khổ Cha già dân tộc phải đứng đắn, không được có vợ con lăng nhăng như giam giữ trong ngôi Chùa đạo lý , không được tuyên bố bừa bãi mà chỉ nói những gì tam đầu chế cho phép (tam đầu chế anh em Chí-Thọ, Đức Thọ và Lê Duẩn) như thế Thọ sẽ chễm-chệ ngồi trên ngôi vị như một tiểu bá ba nước Đông Dương cho đến khi Thọ chết dưới sự bảo đảm chắc chắn của Bonesmen. (Sau nầy Thọ để lại 140.000 quân bên Cambodia và 50.000 quân bên Lào, đúng như W A Harriman đã hứa).

Hai tháng trước khi có bữa ăn từ giã với cụ Hồ và Giáp, Thiếu tá Thomas và sáu thành viên OSS trong toán hành quân mật có tên ám số 13, toán Deer đã nhảy dù xuống trên một trang trại đặt tên là Tân Trào cũng không xa Hà Nội lắm, sau khi chạm đất họ chuẩn bị tiếp tục đi đến nơi được gọi là mật khu Patpó của cụ Hồ, Nhóm sáu người nầy không biết ai chỉ có biết duy nhứt là phải gặp cho được cụ Hồ, trên đường đi đến mật khu, đó là công tác mật chỉ biết được bao nhiêu đó thôi, ngoài ra ốc vịt.
Nhiệm vụ của du kích quân là thành lập từng toán từ 50 đến 100 người để phục kích và tấn công ngăn chận đường xe lửa từ Hà Nội đến Lạng Sơn để ngăn chận không cho lính Nhựt chuyển chiến cụ qua bên Tàu và ngược lại. Các toán nầy cũng tìm mục tiêu tấn công vào các trại Lính Nhựt hoặc các kho hậu cần để đột phá thiêu hủy và gởi về tin tức chiến thắng, tình báo ngay cho OSS bên Tàu như cố vấn MACV của VNCH sau nầy. VM cũng cung cấp điều kiện thời tiết để cho Không Bộ binh Mỹ (U.S. Army Air Forces (USAAF) operations on an as-needed basis) thả dù tiếp tế.

Thomas đã nhảy dù xuống ngày 16/7/1945, cùng 3 thành viên OSS xung kích gồm có Trung sĩ nhứt William Zielski, Pfc Henry Prunier thông dịch viên, trong vị thế di chuyển không ai biết ai vì ngôn ngữ bất đồng và cứ như thế mà tiến bước, từ lúc ngỡ ngàng nên im lặng khi gặp nhau từ bãi đáp cho đến địa điểm chỉ định.
Thình lình Thomas và toán của hắn gặp khoảng 200 du kich vây xung quanh, chúng vui mừng ôm nhau như đã quen biết từ tình đồng-chí từ thuở nào? Và họ hướng dẫn chúng vào căn lều để gặp HCM, mới biết đây là mật khu Patpó. Khi gặp HCM, tuần tự kẻ trước người sau, mọi người đến bắt tay và tự giới thiệu tên mình với phong cách kinh trọng, họ tự gọi xưng danh cụ HCM là “Sir Chi Minh Hoo” Tại đây toán OSS nầy phối hợp làm việc rất khắng khít với cụ. Đối với Thomas không có mặc cảm HCM là CS, dù cụ nói giỏi tiếng LX và đã nhiều lần thăm, học tại LX; Tuy nhiên Thomas, rất thành thật nhận xét, HCM nói chuyện công khai thẳng thắn về chính trị với Thomas; chuyện người Pháp đô hộ, độc ác bóc lột như thế nào, nhưng vẫn còn ít tàn ác hơn Nhựt, và cụ Hồ cũng muốn trực tiếp đấu tranh với người Pháp cho một giải pháp nhứt định về nền độc lập VN nếu được người Mỹ đứng ra bảo đảm như Phi Luật Tân.
Tại Côn Minh, bên Tàu, Giám đốc tình báo OSS, Archimedes L.APatti gởi một công điện thượng khẩn chính thức như những ngày sau đây: Thiếu tá Thomas ghi nhận và tin cho HCM biết, chỉ một mình cụ Hồ thôi: “Cụ nên cố gắng quên đi Cộng Sản Chủ Nghĩa mà bảo vệ đoàn ngũ Việt Minh (Viet Minh League) nhưng làm sao Thomas hiểu nổi con người HCM, dù rằng cụ Hồ luôn luôn thể hiện khát vọng đem lại nền độc lập tư do cho VN, tái tạo xã hội ra khỏi chủ nghĩa thực dân Pháp theo lập trường độc lập dân tộc là người quốc gia chân chính, không bị ngoại bang hay CS quốc tế khống chế.
[B]KQ Trương Văn Vinh
vinhtruong
01-20-2012, 09:01 PM
Cái tinh ranh của siêu chiến lược gia hoàn vũ, William Averell Harriman (1891-1986) đã che dấu kín đáo mưu đồ thống trị thế giới qua phát minh ra Cộng Sản là phó sản (by-product) của Tư bản, trong lăng kính “Cold War” nên Nov/1970 tại đại học Michigan, trước đám đông 2000 sinh viên, Cô đào Jane Fonda nói rằng: “Nếu chúng ta am tường được chế độ CS, chúng ta sẽ quỳ gối cầu nguyện thế giới vào một ngày gần đây sẽ là CS”.
Đúng nửa thế kỷ sau, thằng bé Obama được lịnh Permanent Government phải vinh danh Fonda là một trong 100 phụ nữ, là danh nhân thế giới, dù rằng Harriman đang nằm dưới 9 tầng hỏa ngục. Sự thật CS là phó-sản phát minh ra từ sáng kiến của Harriman, còn món hàng giết người nó chính là thật đấy, nhưng cho một cuộc chiến giả tai VN?, khi tới decent interval miền nam không có viên đạn nào nhập vào, mà miền bắc thì có 700 triệu tấn vũ khí tối tân từ LX sản xuất theo đơn đặt hàng cũa Mỹ cho trò chơi được gọi là Cold War, chớ sự thật bề trái chả có con mẹ gì là Cộng Sản hết, mà nói về CS thì Mỹ là CS-Chúa và các nước nhỏ là phó sản (by-product) được Mỹ nhào nặn ra mà thôi, tuy nhiên Harriman lại muốn tránh cái danh-từ Cộng Sản mà dùng danh từ khác vui hơn, như là “Totalitarianism” là chế độ toàn trị nghe dữ-dội hơn (hãy đọc mục siêu chiến lược Eurasian thì rõ) Đức quốc xã, Quân phiệt Nhựt rồi Cộng Sản cho Cold War (vì Mỹ và Liên Xô không muốn tranh tài bằng nguyên tử, như hai tướng soái chơi cờ, thằng nào thua thi dâng đất cho thằng kia đỡ tốn xương máu) thì thấy rõ tất cả đều do Mỹ muốn nhào nặn ra các phó sản (by-product) nầy, nhưng chung quy chỉ là sản phẩm của Mỹ phát minh ra cho những nhu cầu dịch vụ làm ăn quốc tế phải có, được gọi là political business affairs.

Dưới đây là kiểu làm ăn của tình báo quân đội OSS rồi CIA tiếp nối sau đó:
PRUNIER được VN tuyên dương là người hùng OSS: 52 năm sau, 1997, Henry A Prunier là một cựu thành viện OSS của toán Deer Team duy nhứt còn sống và được phía chính phủ Việt Nam gởi qua cũng vài cựu thành viên Việt- Minh, họ đã trang trọng triệu tập một buổi họp mặt tại phòng khánh-tiết New York. Nơi phòng tiếp khách trang trọng nầy, Prunier được đại diện chính phủ Việt-Nam trao cho một bằng khen tặng với dòng chữ “Gift of Gratitude”, lồng trong một chiếc khung vàng sáng chói.
Cũng vào dịp 52 năm trước, bức tranh tơ lụa bề ngang 24-inch bề dài 54-inch, thêu thùa rất đẹp về cuộc thánh-chiến xa xưa của các vĩ-nhân nước việt mà cụ Hồ trao tặng cho thông dịch viên Prunier, hắn cất giữ như một bảo-vật ghi dấu những tháng ngày kỷ niệm cùng nằm gai nếm mật nơi rừng thiêng nước độc với Viêt Minh, ngày tháng cụ Hồ cùng toán Deer Team-13 trong hang động Patpó 1945.

Henry A Prunier với dáng người cao ráo đẹp trai, ngày ấy hắn với đôi mắt sáng ngời soi bói nhưng rất thông minh năng động như một siêu điệp viên James Bond. Chúng ta không thể phủ nhận hắn như một thần tượng lăn lóc điêu luyện trong rừng rú, nhanh nhẩu như một Tazan thời nay, nơi mà hằng ngày hắn làm việc với cụ Hồ và các bạn đồng cảnh trong một việc làm phối hợp, phải xong xáo khó khăn nhứt trong lịch sử làm gián điệp trong lòng địch, nhưng tinh báo Mỹ cho rằng: nếu không vào trong hang Cọp thì làm sao lại bắt được Cọp con của mầm mống Cộng Sản quốc tế?
Vì rằng đây là một đặc nhiệm thừa chết thiếu sống, nhưng hắn vẩn tình nguyện làm một nhiệm vụ mà đất nước đòi hỏi lòng yêu nước và sư can đảm, nhưng phải vô cùng linh động khôn khéo ứng xử. Vì thế hắn được đất nước Hoa Kỳ ban thưởng tuy muộn màng vì là mật vụ, “A long-delayed Bronze Star Medal” vào ngày Feb, 23 trong một nghi lễ nửa hở nửa kín tại tư gia Emeritus, cạnh bờ hồ thơ mộng Eddy, 667 Washington Street.
Còn tại viện bảo tàng quân đội nhân dân Việt Nam, tại Hà Nội, Bộ quân phục U.S Army của Prunier được trang trọng trưng bày như một vị anh hùng tiềm-ẩn trong cuộc chiến bí mật tại Việt Nam.

Khi Nhựt tuyên bố đầu hàng, Việt Minh và Toán Deer Team cùng mở tiệc mừng đồng minh chiến thắng, sau đó Prunier trở về lại Trùng Khánh BCH/OSS làm việc cho Ban sưu tra tội ác chiến tranh do Nhựt gây nên, cho đến khi OSS chuẩn bị giải tán để biến thành CIA 1947 cho đặc vụ tuyệt mật về sách lược Eurasia, [decent-interval-2 SURROGATE] giai đoạn hai về Á Châu.
Vào tháng October 1945 hắn được lịnh về lại Mỹ.

Tất cả những việc làm tại Patpó đều được lịnh không được hở môi, mặc dầu hắn đã được biết qua cấp chỉ huy trực tiếp, nhưng liền sau đó vẫn còn có công điện của trung ương Office of Strategic Services nhắc lại một lần nữa trong địa hạt tối mật việc làm tại lục địa Trung Hoa, Châu Á.
Làm sao ai hiểu được, Harriman người nắm giữ chính sách sẽ buộc các vị tổng thống không được nhận [tám] bức thư cầu cứu của Hồ để bảo đảm cho nền độc lập VN y chang Philippine, sự kiện nầy nhắc lại năm 1975, Tham mưu trưởng WSAG, Donald Rumsfeld ém-nhẹm công-văn cầu cứu của quốc hội VNCH gởi cho quốc hội Mỹ, vi Harriman cần thiết phải khuấy động lại chiến tranh để tiêu dùng món hàng giết người còn thặng dư sau thế chiến và tiếp tục thí nghiệm vũ khí mới (Bacteria, weather … weaponry) cách xa và an toàn cho nước Mỹ.

Nhắc lại chuyện xưa, trước khi thế chiến thứ hai chấm dứt, một toán sáu người có ám số 13 đã nhảy xuống miền thượng du phía bắc Đông dương để cố vấn, giúp đỡ vũ khí cho Việt Minh chiến đấu chống quân phiệt Nhựt, và cũng không ngoài mục tiêu giúp qua lại như một cuộc trao đổi để cứu những phi công nếu chẳng may bị bắn rớt trên lãnh thổ miền Việt bắc.
Toán Deer Team làm việc gắn bó với Việt Minh trong hang động, và cán-sự quân-y Paul Hoagland đã hết mình cứu giúp HCM và đã cứu được mạng sống của cụ Hồ, chăm sóc cho đến khi cụ phục hồi sinh lực, vượt khỏi cơn bịnh sốt rét rừng và kiết lỵ nhiệt đới. Trong quân sử của quân đội Mỹ thì cho rằng: Toán sáu người nầy là những anh hùng dám cả gan sống chung với người rừng (OSS’s friend of Forets), và phía Việt Minh cũng nhìn nhận như vậy vì trong thâm tâm họ không thích người da trắng, tượng trưng cho là bọn thực dân tây phương bóc lột phải bị tiêu diệt.

Sau khi qua được khoá huấn luyện căn bản, Prunier được chỉ định gởi qua trường đại học tại Berkeley, California, nơi đây hắn được huấn luyện qua môn ngoại ngữ tiếng Việt mặc dù tiếng Pháp là sinh ngữ mà rất thích hợp với hắn, vì hắn ăn nói rất mạch lạc. Chẳng bao lâu Prunier được chọn lựa bởi Office of Strategic Services, nhưng chuẩn bị sẽ biến đổi danh từ là CIA [Central Intelligence Agency] cho thích hợp với chỉ-từ “Surrogate=” “đổi màu da trên xác chết”, từ Trung Âu (Đức) qua Á Châu lấy Triều-Tiên và Đông Dương.là mục tiêu chính chia cắt để ăn từ từ, vì ăn ít no dai ăn nhiều mau đói mà tức bụng.

Prunier hét to lên để lấy tinh thần hay vì quá sợ hãi? “It was World War II. We all enlisted,” he said. “At first, I said no. They said, I would probably be sent overseas, and my chances of survival were less than 50 percent. Who wants to volunteer to die?”
Sáu tháng sau, Prunier được chỉ định là agent OSS, dù rằng hắn chả tự nguyện gì cả, và hắn được chĩ định hoạt động tại vùng Trùng Khánh bên Tàu, gần biên giới giáp ranh với Việt Nam vào mùa Hè năm nay.(1945)

Hắn được chỉ định làm việc mật thiết với sáu người dưới đây:
Với ám hiệu là Toán Deer Team 13 vào công tác khá đặc biệt cho mỗi cá nhân đều khác nhau. Đặc biệt riêng hắn là thông dịch viên tiếng Việt, dưới quyền cùa Toán trưởng là Thiếu Tá Allison Thomas, Trung úy René Defourneaux là phụ-tá toán- trưởng, Cán-sự quân-y là Paul Hoagland; truyền tin là Bill Zielski, huấn luyện viên vũ khí là Larry Vogt, và chuyên viên nhiếp ảnh là Aaron Squires.
“Chúng tôi nhảy dù phóng ra từ phi cơ C-47 không số, ở vào một nơi tuy rừng núi nhưng khá trong trãi, vào tháng July năm 1945, tôi may mắn rơi vào một thửa ruộng, nhưng vài bạn khác thì rơi vướng trên cây. Và cũng thật may lần đầu tiên tôi nhảy dù và cũng là lần đầu tiên tôi được thực hành tiếng Việt tại đây..Nơi nầy là Làng Kim luông, chúng tôi rất kích động đến kinh dị khi thấy một đám hơn trăm người rất trẻ, tuổi từ 16 đến 20, là các đồng chí của Việt Minh, đây là một tổ chức chiến đấu chống lại sự xâm lược của quân phiệt Nhựt. Những du kích nầy với sự tha thiết yêu tổ quốc nên họ học bắn súng rất mau về sử dụng và bảo trì vũ khí và chính họ là nhân tố của sự cách mạng cứu nước.trong phong trào phát động tương lai.
Prunier tự nghĩ thầm: Võ Nguyên Giáp luôn luôn trên đầu đội chiếc mũ “phớt nỉ đen”, chỏi lại hẵn với bộ đồ trắng tinh trong khu rừng rú, với đôi giày màu đen chõi ngược lại bộ y phục trắng, có đôi mắt liếc nhanh dò xét như muốn tìm hiểu những gì trong mắt đối tượng.
Nhiệm vụ chính của toán Deer Team là đánh giá và ước tính khoảng cách các phi- hành đoàn bị rớt và giúp hai thành-viên kết nạp OSS/1943 và 1945 lãnh đạo VM huấn luyện thành lập các tổ chức du kích để phá rối, gài mìn phá hoại các đường dây liên lạc ngăn chận không cho quân Nhựt tấn công qua Tàu.
Hắn được chỉ định cùng Larry Vogt dạy qua thông dịch cho du kích cách sử dụng súng cối 60ly và quăng lựu đạn. Một điều mà tôi nghĩ Prunier muốn nói cho vui trong nhựt ký, có nghĩa tướng Giáp ngây thơ không biết gì về quân sự như sự ghi nhận của hắn trong nhựt ký: Giáp thắc mắc hỏi tại sao quăng lựu đạn phải giang tay ra xa và đạn súng cối lại nhẹ nhàng thả xuống? Trong hồi ký, có một lần Giáp đưa mắt nhìn sâu vào lòng của súng cối để xem xét, làm tụi hắn bị shocked, sợ đến chín người, hỏi ông muốn bay đầu sao làm như vậy? Và hắn kéo Giáp ra khỏi nòng ống. Còn HCM thì không tò-mò như Giáp và cho rằng không cần thiết để biết và cụ Hồ cũng đang bị bịnh rất nặng, cụ bị sốt rét rừng nhiệt đới và kiết lị, Paul Hoagland cho cụ uống Quinine và được mật lịnh chăm sóc Hồ thật tận tình để lấy điểm, và Pruneir cũng đã dùng loại thuốc của người dân địa phương mà nấu sắc thuốc. Lúc nầy tính mệnh cụ Hồ vô cùng nguy ngập (xem hình chỉ còn da boc xương chờ chết) và thật sự đang kiệt sức, nhưng vẫn cố giữ được phong cách của người lãnh tụ, Hồ luôn luôn nghĩ đến người dân mà quên thân thể mình và ngược lại người dân rất yêu kính Hồ, họ coi Hồ đúng như vị cha già dân tộc, theo sự nhận xét của Prunier.
Hắn luôn luôn ở bên cạnh phiên dịch và nói chuyện với Cụ Hồ và Giáp được hơn ba tháng. Khi rỗi rảnh cụ Hồ nói chuyện riêng tư với hắn mới biết rằng Prunier ở tại tiểu bang Massasschusetts, cụ Hồ đáp lại cụ cũng biết Boston khi làm xếp Cook trên một chiếc tàu ghé qua. Hồ nhớ lại khi ghé Parker House stationery từ Boston có viết thơ về nhà là Hồ rất thích thú. Hồ nói được sáu, bẩy thứ tiếng mà đi được khắp nơi; Hồ cũng đã làm bếp trưởng ở các nhà hàng Angland và New York. Ông không ngờ người Tàu sống ở New York sống thật hạnh phúc trong sung túc, và Hồ cũng tự thú nhận, Hồ là người gia nhập đảng CS Pháp làm phương tiện duy nhứt để mưu tìm cách cứu dân Việt phục hồi nền độc lập, và chánh phủ Pháp cho Hồ là con ác quỷ đáng sợ và phải theo dõi, với giọng nói nhỏ nhẹ truyền cảm, nhưng vô cùng thông minh và sáng suốt quyết định nhanh các đường lối hành động. Hồ cũng thừa hiểu trong nội tâm thành thật rằng, chúng tôi là bạn thân thiết không đến nỗi phụ phàng lợi dụng lẫn nhau?, Và Hồ nói tại sao trên thế giới không hoà thuận với nhau dầu tư-bản hay CS vẫn sống và làm ăn với nhau trong hoà bình? Nhưng sau cùng cụ Hồ đặt hết niềm tin và hy vọng vào Mỹ chắc chắn sẽ bảo vệ nền độc lập cho Việt Nam giống y- chang Philippine.

Prunier trở về nhà cố gắng học lấy bằng Lý Hoá tại đại học Massasschusetts và làm việc với ông Nội, Cha và Anh cho một cơ sở nhỏ làm Gạch đấu thầu xây cất với cái tên“J. S. Prunier & Sons in Worcester gần 40 năm nay. Prunier về hưu và từ bỏ cơ sở vào 1990, sống với bà vợ già 61 tuổi Mariette, sau khi xây ngôi nhà nhỏ trên bờ hồ thơ mộng Webster và nuôi 5 đứa con. Hai ông bà Prunier có tất cả 12 đứa cháu và 2 đứa chắc nhưng lại bị chết hai đứa cháu gái vì bịnh Cancer
Trong suốt cuộc chiến Vietnam, Prunier không phải là vận động viên chống chiến tranh, mặc dầu với cương vị là người cựu OSS, Prunier thừa biết là cuộc chiến không bao giờ được quyền thắng. Prunier hiểu rằng, dù không phải là người CS, nhưng ông biết CSVN phải chiến đấu để tự tồn và họ không còn con đường nào hơn phải chấp nhận một cảnh cốt nhục tương tàn, nhưng rốt cuộc thì họ sẽ giành được độc lập như ý muốn của Permanent Government sẽ tạo dựng nền độc lập cho Việt Nam sau 30 năm chinh chiến để Mỹ khai thác và thí nghiệm vũ khi mới: 30/4 sẽ là ngày Quốc-Khánh đi vào lịch sử Việt Nam, đó là lý do duy nhứt Mỹ không chịu ký tên chia đôi VN trong hiệp định Genève-1954 theo đúng trên trục lộ đồ Eurasian.

Từ dạo xa xưa đó (1945) Prunier chưa bao giờ gặp lại cụ Hồ, nhưng năm 1995, hắn và thiếu tá Thomas trở lại thăm Việt Nam cùng với phái đoàn Mc Namara, D-Rumsfeld, John Kerry, Mc Cain …sau 50 năm và gặp lại chỉ còn tướng Giáp còn sống.
Hắn rất ngạc nhiên khi tướng Giáp còn nhớ lại gương mặt thông dịch của Prunier, thật lấy làm lạ, Giáp nhìn ngay vào gương mặt của Prunier, rồi chụp trái Cam và làm bộ quăng ra xa như quả lựu đạn, rồi Giáp cười xoà, ám chỉ Giáp đã nhận ra hắn cách đây 50 năm là giảng-viên thông dịch về vũ khí tác xạ. Thật là quái đản, Giáp vẫn còn nhớ và nói lên Prunier là người anh hùng ở vùng sơn lâm ám khí, vùng núi rừng tây bắc Hà Nội.
Trong thời gian thăm viếng Việt Nam do Hội bảo trợ gây quỹ của Hảng xe hơi Ford đài thọ, Prunier và Thomas được đưa đi thăm viếng 80 miles nơi vùng mà ngày xưa Thomas và hắn nhảy dù xuống giúp Giáp Hồ, Prunier nhìn lại thửa ruộng mà hắn nhảy xuống cách đây 50 năm với lòng rộn ràng vui sướng.
Chuyến trở về, hắn và Thomas ghé thăm ngôi mộ của HCM, người đã dựng lên phong trào VM, Hồ nằm giống như một vị thánh đã quá cố, do người người thương mến cụ muốn gìn giữ nơi đây để sùng bái, Prunier thì thầm trong đầu, nhưng thật ra đây là một sự đày đoạ ghê gớm nhứt, vì làm sao siêu thoát được dù rằng cụ Hồ ao- ước được chôn cất bình thường để trở về với cát bụi, nhưng bọn Việt gian Lê Đức Thọ không muốn như thế, mà muốn lợi dụng thân xác cụ như một phương tiện để củng cố sự độc tài thống trị trên toàn dân ba nước Đông Dương qua cái xác không hồn nằm đó bảo trợ.

KQ: Trương Văn Vinh.
vinhtruong
01-27-2012, 06:34 PM
Những mốc thời gian decent interval’s 30 năm (1945-1975)

Sau 30 năm khói lửa (1945-1975) để chấm dứt bằng một tài liệu mật của CIA được tiết lộ “sẽ có một cuộc chạy tán loạn của quân dân miền nam và CSBV sẽ trả thù bằng chiến dịch rã ngũ thần sầu quỷ khốc của CIA dựng lên vào thời điểm hoàn tất axiom-1, được Donald Rumsfel Tham mưu trưởng WSAG gọi là Cruel April.

Định nghĩa: Mốc thời gian (decent interval)
Widely regarded as a classic on the Vietnam War, Decent Interval provides a scathing critique of the CIA’s role in and final departure from that conflict. Still the most detailed and respected account of America’s final days in Vietnam, “The master piece of the New Legion” was written at great risk and ultimately at great sacrifice by an author who had believed in the CIA’s cause but was disillusioned by the agency’s treacherous withdrawal, leaving millions of Vietnamese allies to the mercy of an angry enemy. A quarter-century later, it remains a riveting and powerful testament to one of the darkest episodes in American history. Decent Interval: An Insider’s Account of Saigon’s Indecent End Told by the Cia’s Chief Strategy Analyst in Vietnam (9780700612130): Frank Snepp… highlighting the events examined in Decent Interval, is adapted from a television documentary featuring Frank Snepp: April 29, 1975

Hành quân bí mật của tình báo quân đội OSS (1945-1947)
-OSS trung ương Trùng Khánh, China – được lịnh phải sẳn sàng Toán bảy người nhảy dù xuống Tân Trào, Bắc Việt khi có lịnh.
-Tháng July, 1945 Toán khẩn cấp nầy nhảy dù xuống Patpó để giúp cụ Hồ, tuyệt đối không tuyên bố mục tiêu chính trị, mà chỉ có hai bên đều có lợi.
-Trước khi Nhựt đầu hàng, Toán OSS-13 với bảy người nhảy dù xuống mật khu Patpó để giúp HCM chống lại quân phiệt Nhựt, đánh dấu bắt đầu mốc thời gian 30 năm người Mỹ đã bí mật xâm nhập vào cuộc chiến Việt Nam, để tiếp tục giải toả cho hết một số lượng lớn vũ khí thặng dư còn tồn kho sau Đệ-II thế chiến.
Following the surrender of Japan to Allied forces, Ho Chi Minh and his People’s Congress create the National. Liberation Committee of Vietnam to form a provisional government, Japan transfers all power to Ho’s Vietminh.
Ho Declares Independence of Vietnam
-Có phải vì quyền lợi nên Hoa Kỳ phản bội cụ Hồ Chí Minh hướng dẩn British Forces Land in Saigon, Return Authority to French, nếu không vi America First thì cụ Hồ Chi Minh đã là vị tổng thống đầu tiên trong lịch sử Viet Nam dưới lăng kính CIA. Hơn nữa thế kỹ sau, cựu tù binh TNS Mc Cain được lịnh Permanent Government tuyên bố sự thật Hồ Chí Minh là người quốc gia chân chính đi tìm đường giành độc lập tự do cho Việt Nam (The Newsweek “Paris Match” on April 25, 2005 interviewed U.S. POW Senate John McCain, repeated Axiom-I, stance of U.S Permanent Government, was explained the Vietnam-War in universities 1960: “Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays. En Irak, les elections ont prouvé que les Irakiens croient que leur government est légitime…”)
-1945 First American Dies in Vietnam: Lt. Col. A. Peter Dewey, head of American OSS mission, was killed by Vietminh troops while driving a jeep to the airport. Reports later indicated that his death was due to a case of mistaken identity — he had been mistaken for a Frenchman.

1946
Sự đồng thuận giữa Pháp và VM, VN độc lập trong Liên Hiệp Pháp, Lính Pháp thay thế quân Tàu ở Northern French and Vietminh Reach Accord: France recognizes Vietnam as a “free state” within the French Union. French troops replace Chinese in the North. Trung tá OSS Alfred Kitts hướng dẫn quân đội Pháp chiếm miền bắc; Mỹ phãn bội cụ Hồ và từ chối bảo đảm nền độc lập cho Việt Nam giống như Philippine, mục tiêu khuấy động lại chiến tranh, và lấy cái lý do cụ Hồ đi theo Cộng Sản Quốc tế nên phải khai chiến với cụ, trong khi tình báo OSS móc nối với Mao Trạch Đông bảo đảm sẽ cưỡng bức Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm chạy ra khòi lục địa để cho Mao tóm thâu lục địa với điều kiện chia hai Triêu Tiên và Việt Nam theo trục lộ chia đôi như Đức trong ống kính của lý thuyết gia George Kennan và đây là mục tiêu thống lãnh thế giới của W A Harriman, thủ lãnh Bonesmen.
-Hiệp định tan vỡ do âm mưu của Harriman, người nắm chính sách Mỹ, Vi America First nên Negotiations Between French and Vietminh Breakdown.
-Indochina War Begins: bằng trung tá Alfred Kitts – Following months of steadily deteriorating relations, the Democratic Republic of Vietnam launches its first consorted attack against the French.

1947
-Bộ đội Việt Minh phân tán mỏng về mật khu tây bắc để tiêu thổ kháng chiến chống lại quân đội Pháp.
-Vietminh Move North of Hanoi; Valluy Fails to Defeat Vietminh: French General Etienne Valluy attempts, and fails, to wipe out the Vietminh in one stroke. Nhờ vũ khí Mỹ VM chống lại quân đội Pháp bằng chiến tranh du kích qua công đồn đã viện để cướp thêm súng trang bị cho du kích.
-Vì nhu cầu hành quân mật đổi vùng “Surrogate” Cơ quan tình báo quân đội OSS sẽ biến thành CIA trong năm nay 1947.

Những mốc thời gian Decent interval của CIA từ 1947-1975

1949
-Thoát thai từ OSS qua CIA cho mật vụ đặc biệt về Á-Châu được gọi là SURROGATE, đổi vùng hoại động từ Trung Âu (Đức) qua Á Châu theo đúng trên trục lộ Eurasian thay đổi màu da trên xác chết.
-Thành lập ngay tức khắc Phi đội CAT (Civil Air Transport) để áp bức Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm bay ra Đảo Đài Loan, sau khi CIA mốc nối được với Mao.
-Pháp nghe lời Mỹ vì đã nhận quân viện 80% nên dựng lên chính phủ Bảo Đại ở miền nam, Bảo Đại được Pháp nâng đỡ cho Bảo Đại chống lại quân Cộng Sản Hồ Chi Minh trong lăng kính nhờ lính Lê Dương Pháp tiêu thụ vũ khí lỗi thời thặng dư.
-Elysee Agreement Signed: Bao Dai and President Vincent Auriol of France sign the Elysee Agreement. As part of the agreement the French pledge to assist in the building of a national anti-Communist army theo sự cố vấn của CIA.
-Giai đoạn Mao ra kế hoặch chia đôi Triều Tiên rồi đến Việt Nam qua mật ước của CIA

(Còn tiếp)
vinhtruong
02-12-2012, 10:08 PM
1950
Năm 1950 nầy là điểm mốc thời gian quan trọng nhứt trong chiến lược toàn cầu Eurasian mà người thiết kế George Kennan cho rằng “SURROGATE”, có nghĩa là đổi màu da trên xác chết. Thế nên người nắm chính sách Mỹ, Hasrriman gọi điện thoại cho TT Truman, ông muốn từ Âu Châu về ngụ tại Washington. Vì đã quen việc từ Feb/1941 Harriman khuyên TT Roosevett nên giao cho ông trách nhiệm là người chịu trách nhiệm làm cho nước Anh hùng mạnh “to keep the British Isles afloat” Và chỉ có Harriman là người duy nhứt báo cáo thẳng cho tổng thống qua mặt Bộ ngoại giao và không màng gì các chính khách khác. Harriman tự coi mình là người đại diện nước Mỹ muốn làm gì thì làm, và cũng là người duy nhứt đứng trụ trì các buổi họp về chính sách đường lối ngoại giao của nước Mỹ xuyên suốt cuộc thế chiến.
Có một điều đặc biệt là, chính Harriman đã đề nghị mà dĩ nhiên là phải chấp thuận viện trợ cho Liên Xô hai lần (Aid to Russia 1941-1946 Plan) trong âm mưu gây chiến chia đôi 2 nước Triều Tiên và Việt Nam để thủ lợi.
October, 1943-1946, TT Roosevelt chỉ định Harriman làm đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Suốt cuộc chiến tranh, Harriman làm việc trực tiếp với Churchill và Joseph Stalin mà ai cũng xem như Harriman là TT nước Mỹ. Harriman quyền lực đến độ mà ông đề nghi TT phải chấp nhận ông George Kennan, người phụ tá Harriman mà cũng là chuyên viên về Liên Xô vào trách nhiệm quan trọng trong chính phủ as Minister Counselor, song hành Harriman là người đại sứ Mỹ tại Liên Xô có uy tín nhứt từ trước đến nay trong lịch sử ngoại giao Nga/Mỹ.
Thế là trong lăng kính của Harriman: Chinese, Soviets Offer Weapons to Vietminh (Đi vào mưu đồ của CIA khuấy động lại chiến tranh Triều Tiên rồi Việt Nam.
Sau chiến tranh Harriman trở nên chủ tịch hội đồng kiến thiết Âu Châu Marshall.
US Pledges $15M to Aid French: The United States sends $15 million dollars in military aid to the French for the war in Indochina. Included in the aid package is a military mission and military advisors.

1953
Trong khi người Pháp đứng sau lưng bảo vệ nền độc lập Laos có quân đội du kích VM giúp đỡ bên ngoài. Quân đội Pháp nhận 80% quân viện Mỹ nên nghe lời khuyến dụ của Mỹ cái gọi là cục đường dụ Ruồi tụ lại để dùng búa tạ B-29 đập tan đã bị sa lầy vì giờ chót Mỹ từ chối, Mỹ kẻ phản bội đồng minh lần thứ nhứt lần thứ hai tơi phiên VNCH cũng bằng B-52, theo mưu đồ của Mỹ Pháp rồi vào cái bẫy Điện Biên Phủ do mưu lược Mỹ.
France Grants Laos Full Independence Vietminh Forces Push into Laos.
Trong chiến tranh Triều Tiên, Harriman là người đặc trách phụ tá an ninh quốc gia cho tổng thống đồng thời là Mutual Security Agency, responsible for foreign-aid. Harriman đứng ra hoả giải giữa sự xung đột về đường lối giữa 2 ông văn võ Dean G Acheson,và Louis A Johnson. Đồng thời Harriman khuyên Truman cho phép ông cùng tháp tùng với phái đoàn Phó tham mưu trưởng Lục quân, Trung tướng Matthew Ridway qua Tokyo để họp với tướng Douglas MacArthur. Harriman bảo đảm các sư đoàn LX sẽ không can thiệp khi chúng ta đổ bộ Inchon vì Liên Xô đã ngậm việt trợ của Mỹ và có lời khuyên vừa cảnh cáo nghiêm trọng không được rủ rê Tưởng Giới Thạch giải phóng lục địa mà đánh với Mao Trạch Đông. Vì Mao cũng sẽ là công cụ của Mỹ là chia Triều Tiên và Việt Nam ra làm hai theo lịnh của Harriman. Sau cùng Harriman trở về Mỹ nhưng trong lòng không yên tâm. Có lẻ Harriman phải lột chức tư lệnh Thái Bình Dương của ông vì tội háo thắng làm bể kế hoạch siêu chiến lược Eurasian.
Trong lăng kinh của Harriman, thế là cuộc chiến Triều Tiên bùng nổ chống lại các nước thành viên LHQ (CIA thường tạo ra chiến tranh lúc sơ khởi có nhiều nước tham dự trong dự mưu của Harriman, như thế chiến-2 có tên đồng minh tham dư, rồi Triều Tiên, Việt Nam, Iraq có nhiều nước tham dự trước, rồi sau đó mới Mỹ ở lại một mình, điển hình ở Việt Nam).
Chú trọng nhứt là Nhóm Kỹ Nghệ Quốc Phòng (War Industries Board). Thế là một buổi họp quan trọng của NSC xảy ra ngày 28/November/1950, Harriman khuyến dụ TT Truman (1) bỏ thùng rác 8 văn thư cầu cưú của HCM về bảo đảm cho nền độc lập VN như Phi Luât Tân, (2) nhanh chóng ký sắc lịnh NSC-68 “United Objectives and Program for National Security cho việc chi tiêu một số lớn mục tiêu quốc phòng.
Harriman cùng hai bộ trưởng Quốc Phòng và Ngoại giao thấy chướng mắt khi tướng MacArthur dựa vào ảnh hưởng cũa TT Truman mà ăn nói vung vít chính sách Mỹ, nhân ngày Veterans of Foreign Wars, một bài diễn văn August/1950 hứa với Trung Hoa Quốc Gia sẽ gây chiến để giải phóng lục địa, dù rằng Harriman đã thường nói không được vượt qua đường lối và chính sách quốc gia là sẽ không đụng đến Mao và để cho Mao giúp đỡ Harriman chia đôi Triều Tiên và Việt Nam để tiêu xài cho hết món hàng giết người còn tồn kho quá nhiều sau thế chiến mà Harriman phải thành lập Phi đội CAT để áp tải Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm bay ra khỏi hoa lục.
Một chính trị gia lão thành như Harriman, đã rất bình tỉnh chờ cho Tướng Arthur làm xong trách nhiệm đổ bộ thành công Inchon rồi tính sau.
October, cuộc đổ bộ thành công, (Theo lịnh của Harriman) Cố vấn chính trị Charles Murphy và TT Truman bay qua đảo Wake để mặt giáp mặt với tướng MacArthur, mà Harriman đã nói với TT Truman chỉ cần 1:30 là xong để giải thích sự xung khắc chính sách giữa TT Truman và vị tướng tư lịnh và văn miễn giải nhiệm luôn bộ trưởng quốc phòng Johnson.
Chính trị thật khốn nạn và muôn mặt, vì Johnson tưởng rằng Harriman luôn luôn đứng sau lưng mình trong sự kiện xung khắc giữa ông và Acheson. Thế là Harriman khuyên TT Truman bổ nhiệm bồ nhà tướng Lục quân George C Marshall lên thế Johnson. Harriman đích thân thay mặt TT Truman viết văn thư sa thải tướng Arthur ra khỏi chức Tư lịnh TBD và công bố trên báo chí tướng lãnh không được tuyên bố chính sách.
Trong khi tướng Arthur gởi văn thư cho đảng Cộng Hoà thuộc thiểu số, người lãnh đạo là Joseph Martin và công bố trên báo chí ngày 5/April/1951, đó là nguyên nhân chính xảy ra cuộc họp mật giữa TT Truman, Harriman, Acheson, Marshall and Chairman of the joint Chiefs of Staff General Omar Bradley. Đi đền kết luận, Harriman quyết định tướng MacArthur phải bị cách chức tức khắc (Harriman advised that MacArthur be fired immediately, but Truman hesitated. After further consultation Truman agreed…) Cho ta thấy Harriman là người quyết định cuộc chiến Triều Tiên và Việt Nam, thế nên Harriman là đích thực thủ phạm ra lịnh giết TT Diệm-Nhu mà người Việt bấy lâu nay chi nói lờ mờ ngọn cây đưa qua lại theo chiều gió mà quên cái gốc đứng một chỗ không ai thấy.
Năm 1954, trong nhiệm kỳ Dwight D Eisenhower, Harriman được bầu làm Thống đốc TB New York, nhưng chỉ được một nhiệm kỳ mà thôi, vì người dân ít ai biết ông nên Harriman đã bị Nelson Rockefeller đá ra khõi chiếc ghế thống đốc New York.

(còn tiếp)
vinhtruong
02-23-2012, 04:49 PM
Một thiên-tài trẻ tuổi với tư tưởng lớn
– Xuất phát từ cuốn sách “Aid to Russia”: do tác giả Harriman vừa tốt nghiệp Yale với 26 tuổi đời đã trở nên một nhà triệu phú nhờ tài sản kết-xù của người cha để lại và là một thiên tài xuất chúng, một chiến lược gia có tầm cỡ hoàn vũ không như Gia Cát Lượng chỉ hạn hẹp trong đất nước Trung Hoa. Ông dám đi thẳng vào cuộc chiến tư tưởng hệ với Karl Marx (1818-1883) và Lenin (1870-1924) Nhưng đối với Harriman thì biến đổi giai cấp “công-nông” thành giai cấp “sản-xuất” (human resources) làm ra của cải cho xả hội. Và Harriman quyết đoán Tư Bản sẽ là sản phẩm chính mà Cộng Sản sẽ là thoát thai từ “phó-sản” (By-product) của Tư Bản qua ‘bửu-bối’ khống chế bởi Debit Card.

-Năm 1917 dựa vào thời kỳ chiến tranh, thiên-tài Harriman 26 tuổi nầy áp lực chính quyền phải ký hợp đồng thành lập Hạm đội thương thuyền lớn nhứt thế giới, đồng thời thuyết phục chính quyền tạo điều kiện giúp đỡ cách mạng Liên Xô qua Aleksandr Kerensky số tiền cho vay là $325 triệu để sản xuất chiến cụ tự vệ, nhưng nguyên vật liệu phải được xuất cảng từ Mỹ, dĩ nhiên phương tiện chuyên chở bằng tàu. Làm sao cách mạng LX tránh được ‘cái-bẫy’ đầy hấp dẫn như vũ khí tự vệ kinh qua quá trình bị đế-quốc xâm lược: Thành Cát Tư Hãn, Napoleon, và Ðức quốc Xả {Ðây cũng là chước: đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, nhưng đối với tầm nhìn bao quát của Harriman là nắm ngay nhân-lực [giai cấp sản xuất vũ-khí của LX] khi Cách mạng Nga mới vừa chớm nở)

-Năm 1920, sự làm ăn của Harriman nhắm vào mục tiêu trung tâm Liên Xô vùng Trung-Á, vì nơi đây có mỏ Manganese và dầu hỏa. Là một chiến lược gia tự tin, dám dấn thân vào làm ăn với Cộng Sản, Vladimir Lenin đang nắm quyền, lên án bọn tư bản gây ra nhiều tội ác bốc lột công nhân. Nhưng Harriman nhận thức rõ ràng bọn Bolsevik vẫn cần dollar và kỹ thuật Tây Âu để sống còn. Ðặt văn phòng tại Bá-linh, Harriman dám cùng chung với công ty Ðức và chính quyền LX tạo nên Công-ty Hỗn-hợp phục vụ ngắn hạn để chuyển vận các nguyên liệu thô xuất khẩu từ Mỹ. Ði xa hơn nữa, Harriman thương lượng trực tiếp với Lenin và Trotsky đã đem lại kết quả đáng kể. Năm 1924, một số mỏ kim-loại làm vũ khí lớn nhứt thế giới lại nằm tại Tiffis, Georgia mà LX không cán đáng nổi. Chụp ngay cơ hội, Harriman bèn chơi môn sở trường tình báo, ngày 12/6/1924 Harriman cho mượn tính dụng $1 triệu dollar đặt cọc và điều động J.Speed Elliot, Phó giám đốc Công-ty Harriman and Company của chính ông làm chủ qua Moscow ký thẳng với viên chức điện Kremlin nhóm Bolshevik do trùm mật vụ Felix Dzerzhinsky đồng ký [Vì thế chiến lược toàn cầu, tình-báo quân-đội Mỹ OSS được lệnh kết thân với KGB, như ở Việt Nam là Mai Chí Thọ, Trần Kim Tuyến, Cao Đăng Chiếm, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh để thành công cụ trung thành của Mỹ mà phải từ gốc tình báo công an]

Thế nên Georgia sẽ là núm ruột xa ngàn dậm của WIB (War Industries Board). “Kế hoạch Eurasian” đã lồng vào ống kính của thủ lãnh Harriman/Bonesmen về những nước Cộng hòa phía cực Ðông nam của LX sẽ rơi vào tay của Mỹ sau nầy với vô vàn tài -nguyên nằm sâu dưới lớp tuyết mà LX chưa đủ kỹ thuật để khai thác, bằng bửu bối “tối-huệ-quốc” (The US Freedom Support Act)

-Năm 1941 Harriman giúp đỡ Hitler qua công ty hỗn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”. Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Xúi Hitler xâm lược Liên Xô qua sự giúp đỡ ngầm của WIB do Chairman Prescott Bush (bất cứ cuộc chiến nào CIA cũng âm thầm trợ lực bên phía đối nghịch để thủ lợi mà nom na chúng ta gọi là: đòn sóc hai đầu của Tình Báo Quân Đội OSS) để góp phần với phe địch trong chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, quyền lợi xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-sa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!

-Sách “Peace with Russia” 1959 mô tả: Chủ nợ thường thường nói gì con nợ nghe nấy. Nhưng làm sao khuyến dụ LX nhảy vào trò chơi chiến tranh “Mặt Trận Giải Phóng” [National Liberation Front] để chống lại với “Kế hoạch Chống Nổi Dậy” [Counter Insurgency Plan] Harriman bèn renewed Aid to Russia 1941-1946 Plan, thế là Hà Nội sẽ có new batch vũ khí từ 1964 bằng cây súng bắn liên thanh tự động AK còn VNCH cứ chơi từng phát một Garant-M1 với kẹp đạn 8 viên.

Thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô Viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể là Trung Quốc cũng thích sự hiện hữu của 2 nước VN. Thật đã rõ là ngoài 2 phe VN, các thành phần tham gia hội nghị Genève-1954 đều thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Sau khi chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá, cầu cống sụp đổ tan hoang, hạn hán, bão lụt mất mùa, thêm vào cách mạng ruộng đất bị thất bại làm nhân dân Nghệ-An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung lập và giàu mạnh” có nghĩa là không đụng đến miền nam, với mong mỏi Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ có đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp thương sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc, thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959, (Stanley Karnow “VN Viking, New York, 1983, page 225, nhưng vì Harriman trong âm mưu lộ trình gây chiến phải tiếp nối theo đồ án của George Kennan đã có phát hoạ trước thế chiến-2, 1941 qua đó Harriman đã áp lực chính quyền Mỹ phải hai lần “Aid to Russia 1941-1946 Plan, và còn renewed, reactivated nên gần đây Việt Nam mới có tàu ngầm, máy bay tối tân của LX giao cho qua dollar Mỹ, chớ làm đếch gì Mafia-VN có tiền bỏ túi chưa đủ lấy đâu mua vũ khí?

Trong lăng kính của Harriman có hai bước nhảy vọt lớn nhứt là:
-(1) Dựa vào chiến tranh thứ-1, Harriman áp lực chính quyền phải cho phép thành lập một đội thương thuyền lớn nhứt thế giới để chuyên chở nguyên vật liệu trù phú tại Mỹ để kiến thiết Âu Châu sau mưu đồ gây chiến của Mỹ (thế chiến-2, chia đôi Triều Tiên rồi Việt Nam để thủ lợi)
-(2) Đặc biệt chiến tranh Việt Nam, Mỹ sẽ lập lại áp lực chính quyền Mỹ phải thành lập đội hàng không dân sự lớn nhứt thế giới với đầy đủ hành khách bằng hơn 500.000 lượt air-ticket bảo đảm không bị Bankrupcy hay Merge. Vì thế những ai thọc gậy bánh xe như anh em Kennedy và Ngô Đình Diệm phải bị nghiền nát dưới bánh xe lịch sử!!!???

Sau khi cụ HCM bị Harriman phỉnh gạt qua lợi dụng cứu các phi công Mỹ và phá hoại hậu tuyến quân phiệt Nhựt, ăn cháo đá bát xong, dùng công cụ OSS rồi CIA với một phương thức thần sầu quỷ khốc mà đến ngày hôm nay ai ai cũng tấn công cụ HCM một chiều rất quyết liệt, nhưng ngặt nỗi CIA không công bố những tài liệu mật để giải oan, mà chỉ hé hé nhé cạnh trên Internet, Youtube: (rồi đây các bạn sẽ xem trong Internet từ từ phát hiện: NVHN thì chửi CS, còn Mafia-VN thì dại gì nhận là Băng đảng ăn cướp nên chốp lấy danh từ CS nghe oai hơn, chỉ riêng có Mỹ thì hiểu hết mọi viếc, vì nếu họ là CS thì làm sao làm ăn với Mỹ vì vi phạm hiến quyền, đối với Mỹ họ là tư bản đỏ có thế thôi và đang keo sơn làm ăn với nhau. Và như sơ khởi tài liệu nhẹ dưới đây:

Between October 1945 and February 1946, Ho Chi Minh wrote eight letters to President Truman, reminding him of the self-determination…
libcom.org/history/1945-1957-vietnam

Letter from Ho Chi Minh to Harry S. Truman (28 February 1946 …

Aug 11, 2011 … In this letter dated 28 February 1946, Ho Chi Minh asks the US President, Harry S .Truman, for US support in its struggle to gain independence … nhưng Harriman cực lực phản đối và bỏ các bức thư vào thùng rác để tiếp tục lịch trình Eurasian

On February 16th, 1945 Ho Chi Minh wrote a letter to President Truman asking for American assistance in gaining Vietnamese freedom. The letter closed with the remarks:
… We ask what has been graciously granted to the Philippines. Like the Philippines our goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole world.
I am dear Mr. PRESIDENT,
Respectfully Yours,
Ho Chi Minh
Title: Letter from Ho Chi Minh to President Harry S. Truman, 02/28/1946
Production Date: February 28, 1946
Letter from Ho Chi Minh to President Harry S. Truman, 02/28/1946 (ARC ID 305263); Joint Chiefs of Staff. Office of Strategic Services. (06/13/1942 – 10/01/1945); Records of the Office of Strategic Services, 1919 – 1948; Record Group 226; National Archives.
Persistent URL: arcweb.archives.gov/arc/action/ExternalIdSearch?id=305263
Access Restrictions: Unrestricted
Use Restrictions: Unrestricted
Letter from Ho Chi Minh to Harry S. Truman (28 February 1946)
In this letter dated 28 February 1946, Ho Chi Minh asks the US President, Harry S. Truman, for US support in its struggle to gain independence for the Democratic Republic of Vietnam.

Lost Opportunities for Peace: Ý muốn nói lên sự hối tiếc, bất bình của Nhóm OSS-13, Thiếu tá Thomas và các sử gia, người viết để nguyên văn cho độc giả thông cảm lời văn của cụ HCM và họ không đá động gì đến cụ Hồ là người Cộng Sản, vì họ biết chắc chắn là chính Harriman xô cụ HCM vào cái thòng lọng CS để bị mỗi ngày một xiết chặt vào trong mưu lược khuấy động lại chiến tranh của Harriman, nên nhớ tổng thống, bộ trưởng tư pháp Mỹ mà Harriman còn giết huống hồ gì tép riu?
Vietnam, 1945-1950
Michael Keen
Senior Division
Historical Paper

In 1945, a U.S. intelligence team parachuted into the jungles of Southeast Asia to meet with America’s staunchest ally in Indochina’s resistance against imperial Japan, Ho Chi Minh.
Ho, who was already in his mid-50s, had spent his entire adult life working towards an independent Vietnam. As early as the Versailles Peace Conference in 1919, Ho had been petitioning the U.S. and other global powers to support Vietnam’s status as an independent nation, free from French rule. By the 1940s, with Japan occupying Vietnam, Ho had taken the side of the Allies and was directing a guerilla campaign against the Japanese. Following Japan’s surrender in August 1945, Ho quickly overthrew the French-backed feudal bureaucracy in a bloodless revolution and established an independent government in Vietnam. Throughout the next few years, Ho persistently wooed the United States as a potential ally of an independent Vietnam. These diplomatic overtures went unanswered. Instead, in 1950, the U.S., embroiled in the debate over communism, terminated this diplomatic opportunity, putting in motion a war for which both the U.S. and Vietnam would pay a terrible price. (Vì theo lộ trình Eurasian thì Việt Nam cũng như Triều tiên và Đức phãi bị chia làm hai theo sự thiết kế của lý thuyết gia George Kennan, từ năm 1941 qua hai lần Harriman chấp nhận Aid to Russia 1941-1946 Plan)
Midway through WWII, it was recognized that the fate of Vietnam would pose a major postwar diplomatic problem. In 1943, a publication of the Foreign Policy Association argued,
“The future status … of Japanese-occupied territory will be the first major decision affecting the reconstruction of eastern Asia. Part of the difficulty lies in the different … points of view of Americans and Europeans on this subject. Americans, from Mr. Sumner Welles to the corner.

8 bức thư của cụ HCM đều bị dấu nhẹm cho đến năm 1972 mới công bố giải mả, điều nầy lập lại các bức thư của Quốc Hội VNCH và TT Thiệu điều được công bố sau 30/ 4/1975.

The Ho’s letter was not declassified until 1972. What a damn shame that we never responded. Imagine how this would have changed Korea and the Cold war! How could responding to a Ho Chi minh letter have any effect on Korea?

Trên đây là lời nhận xét của các sử gia và toán hành quân đặc biệt của thiếu tá Thomas như trong tình trạng ở Triều Tiên, cho định mệnh của nước Việt Nam phải bị khổ nạn 30 năm.

(còn tiếp)
vinhtruong
03-01-2012, 10:31 PM
Một thiên-tài trẻ tuổi với tư tưởng lớn (tiếp theo)
Harriman vô cùng bấn loạn với số vũ khí thặng dư còn quá nhiều, dù chiến tranh Triều Tiên và Lính Pháp đã xử dụng trong 8 năm nhưng vẫn còn tồn kho, theo sự thiết kế của nhóm tham mưu dân sự, phải xử dụng cho đến cuối 1968 [Tết Mậu-Thân] mới hết, cho nên khi phía CSBV dùng AK.47 nhưng VNCH vẫn dùng Garant M.1 bắn từng viên một.

Harriman đã có ý đồ trong thời gian thế chiến-2, [trong sách Aid to Russia 1941-1946 Plan] khi là đại sứ Mỹ tại Liên Xô, ông cũng thúc dục công nhân LX sản xuất vũ-khí cứ tha hồ mà cho ra hàng loạt như T-34 chẳng hạn sẽ có chổ tiêu thụ sau nầy. Ðó cũng là ỷ vào vị thế chủ nợ nên buộc LX phải tham dự trò chơi chiến tranh CIP và NLF với điều kiện dễ dãi là không cần quân LX tham chiến như tại Triều tiên cũng như VN mà chỉ có lợi ích duy nhứt là công nhân LX có việc làm ăn như sản xuất vũ khí trong khi dư thừa nhân lực cần có công ăn việc làm sau Đệ II thế chiến.

Làm sao chúng ta hiểu được sự cấu kết giữa Liên-Xô và Mỹ về cái trò chơi nuôi dưỡng chiến tranh về những luật chiến tranh do họ đồng ý đặt ra (Rule of Engagement), cứ mỗi lần B.52 cất cánh ở ngoài Đảo Guam là tàu đánh Cá trá hình của Liên-Xô báo cho Lính BV biết để họ chuẩn bị xuống hầm; như đã có lần, vào tháng August/1968, có 3 Box B.52 (một Box là 3 chiếc) thả xuống ngay Bộ-chỉ-huy Tiền- phương của Bắc-Việt, Đoàn 559 tại núi Tam-Bôi, mà SOG Mỹ gọi là “Oscar-Eight” nằm phía Bắc của thung lũng Aluối-Ashau, nhưng không có dù chỉ một người thiệt mạng cũng không.

Rút một đoạn nhỏ trong sách lược như kim chỉ nam áp dụng cho quân đội Mỹ như “everything worked, but nothing worked enough.” Các binh chủng Mỹ đều phải đụng địch để tập-trận thao dượt, không cần thắng hay bại” trích trong tác phẩm “The Secret War Against Hanoi” Trung sĩ John Meyer được thả xuống Oscar-Eight giữa 1967 vì nơi đây mỗi ngày phát đi và nhận khoảng 2.300 công điện từ Hànội, Lào và có Tướng lãnh CSBV chi huy nơi đây (tướng một sao Võ Bằm). Còn Thượng-sĩ Billy Waugh nhìn từ trên cao điểm xuống Oscar-Eight cà ngàn trái bom 500 và 750-pounds từ Arc-Light B-52 trải thảm trên đó, liền sau hơn 50 tiếng nổ phụ là lính BV chạy ra lăn các phuy xăng ra chỗ an toàn ngay lập tức. Waugh liền gọi máy về Khe Sanh cho Trung tá Harold Rose: “I’ve got people out here scurrying around. That sonvabitch is loaded” đó là ngày 9/8/1968, Tướng Westmoreland định cho quân đội Mỹ vào càn quét thì bị gọi về Mỹ thăng chức Chủ tịch Tham mưu Liên quân ngay, ngồi chơi xơi nước không có quân trong tay và giải ngũ sau đó.

Có những điều thật là khó hiểu, dù rằng nơi đây có hang động và núi đá, nhưng phải được báo động mới chui vào hang, chứ B.52 bay cao cả 25.000 cho đến 35.000 bộ thì làm gì mà nghe được tiếng động-cơ để mà chạy xuống hầm, các hang động; nhưng đổi lại, Lính Mỹ ở Main-Compound, tại Phi trường Đà-Nẳng cũng được thông báo 1 lần trước khi hỏa-tiển chạm nổ và một lần vào buổi ăn sáng, cho nên có anh GI nào bị chết vì pháo kích đâu! Vì rockets 122 ly chủ yếu là tiêu hủy phi-cơ, càng nhiều càng đỡ tốn kém, khi Việt Nam hoá chiến tranh phải thành lập nhiều Phi đoàn? Còn trọng tài là chiếc Tàu Bệnh-viện của Ðức như Hope hay Hegolan chiều hôm ấy nhổ neo từ bến cảng chợ Hàn chạy ra biển.

Nhưng trong ống kính của WIB là phải tiêu xài cho hết hàng tiêu dùng [chỉ đơn giản là thiêu-hủy phi cơ mà thôi, thứ quỷ nầy không thể đem trở lại về Mỹ theo quy luật làm ăn của WIB cho nên mới có danh từ “Việt Nam hóa chiến tranh” rồi sau đó thành sắt vụn vì không có cơ-phận để thay thế. Với khách quan mà nhận xét lại lịch sử thế giới gần đây, phải nhìn nhận sự can thiệp khắp nơi của Hoa kỳ qua WIB, với sức mạnh quân sự vượt trội, mặc dầu có chủ đích là quyền lợi của WIB, nhưng đã đem lại hậu quả tốt nhiều hơn xấu cho thế giới. [Các nước láng giềng nhờ chiến tranh VN mà phồn thịnh hơn]

Một thời gian hoàn tất cho kế hoạch sản xuất chiến cụ là đến lúc phải tạo ra cái cớ: Sự nhẫn nại của Quốc-hội và người dân đã cạn và phải đem quân Mỹ về như chiến tranh VN và Iraq, Afghanistan … Nhưng điều chủ yếu là Hoa-kỳ vẫn còn là Siêu cường số 1 mạnh nhứt trên thế giới dù rằng với nguyên cớ là thua trận để nước bị tàn phá không oán trách tim kiếm tội phạm

Cuộc chiến nầy, Lực-lượng của hai miền Nam Bắc như con cờ Chốt để cho hai thế lực thí bỏ; Tình báo Phản gián Hoa-kỳ rất giỏi vì đã dành được phe thân Liên-Xô, gồm có Lê Đức Thọ, Lê-Duẩn, nhưng Mai Chí Thọ mới là người biết rất nhiều chi tiết tình báo của Mỹ qua điệp-viên Phạm Xuân Ẩn và đã cô lập Phe Hồ và thanh toán dùm Tướng Nguyễn Chí Thanh, đày ải tướng Chu Văn Tấn và hạ tầng công tác tướng Võ Nguyên Giáp, không thì cuộc chiến Hạ-Lào nầy có thể là một khúc quanh Lịch-sử.

Theo tôi nghĩ, nếu CIA không nắm chủ động tình hình, thì làm gì HĐAN (NSC) soạn thảo và đi đến quyết định tướng Giáp nghênh đón cuộc Hành Quân Lam-Sơn 719. “Tấn công là hình thức phòng thủ vững chắc nhất “Muốn giữ Căn-cứ Hậu cần 604 an toàn, không gì hơn đi đâu xa, tất cả các Sư-đoàn BV đang ở phía Bắc Vùng Phi Quân sự, thay vì tấn kích vào mấy Căn-cứ Hỏa lực xa-xôi chi bằng tấn công ngay Căn-cứ Khe-Sanh bằng ‘tiền pháo hậu xung’ có cả hơn 100 Chiến Xa T.54 và PT.76 xung trận đã dễ dàng giành chiến thắng mà lại gọn ghẽ, không cần di chuyển xa, ngoài ra còn bảo vệ được Hậu-cần 604! Cho chúng ta thấy rằng tướng Giáp là công cụ gián tiếp nhưng rất trung thành với Mỹ! Tại sao chiến trận gần không đánh mà đánh chiến trận xa? Harriman thật có óc nhìn xa “tay sai gián tiếp [Hà Nội] dễ thuyết phục hơn tay sai trực tiếp [Saigon] như Harriman thường tâm sự với đồng nghiệp; CIA Mỹ tài tình ở điểm nầy, nếu phe Liên-Xô không nắm chắc được cái đầu Hà-Nội, hoặc như cả phe Trung-Quốc đều ngang ngữa nhau, thì Bố bảo cho kẹo, Mỹ cũng không dám chơi Ván-cờ liều nầy. Cuộc chiến xảy ra đã chứng tỏ cả hai Miền đều là tay-sai ngoan-ngoản của hai Thế lực Xanh-Đỏ phản động và Mỹ vẫn là người chủ cái chia bài gian manh (card dealer).

Phái bộ Hoa-kỳ ở Trùng Khánh đã kết nạp được Cụ Hồ gia nhập vào cơ quan tình báo OSS, tiền thân của CIA từ năm 1943 khi Cụ làm việc cho sở Thông-tin Chiến-tranh ở Côn-minh (Service of War Information) và theo kế hoạch của OSS, để chống quân phiệt Nhựt, tháng 10, 1944 Cụ phải về mật khu Pác-Pó, Cao bằng thành lập chiến khu, nơi đây điệp viên 19 (Lucien Conein) sẽ kết nạp thêm Tướng Vỏ Nguyên Giáp, Conein sẽ nhảy dù xuống để huấn luyện Trung-đội Võ trang tuyên truyền của Giáp và Văn Tiếng Dũng làm phó. Nhưng đối với nhóm tham mưu của Harriman: “Cụ Hồ Chí Minh đáng khâm phục không phải vì sự thắng lợi mà chính vì sự thất bại của Cụ” Ðiều dễ hiểu WIB là thủ phạm của sự làm cho Cụ thất bại, nên phải, đối với thế giới, tìm mọi cách phục hồi danh-dự cho Cụ nhưng phải đánh lạc hướng thay vì sự thực: “Cụ Hồ Chí Minh đáng khâm phục không phải vì sự thắng lợi mà chính vì sự phản bội của Mỹ” [WIB] Thế nên tại sao cái lũ Skull and Bones nầy phải tài-trợ quảng cáo rùm beng bên Tây-âu và nhứt là kinh đô ánh sáng qua văn-hóa nghệ thuật tên con đường Hồ Chí Minh, Chiến dịch Hồ Chí Minh, và thành phố Hồ Chí Minh và dự trù đưa tên Cụ vào UNESCO là danh nhân thế giới như là một vĩ nhân Nguyễn Trải với danh từ quen thuộc trong lịch sử, cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn, Gươm Thiêng Ái Quốc…nhưng phải đợi một thời gian hữu lý, coi cho được [Decent Interval] rồi mới bạch hóa với chứng cớ hiển nhiên (có lẽ giữa thế kỷ 21) để phù hợp với thế siêu chiến lược Eurasian sau khi khai thác triệt để lợi nhuận qua chiến tranh.

Tuyên cáo độc lập ở vườn hoa Ba-đình, ngày 2/9/1945, Cụ Hồ long trọng với 5 lời thề, trong đó OSS khuyên cụ nhấn mạnh lời thề “Thà chết chớ không thỏa hiệp với Pháp” có nghĩa là tiếp tục khuấy động chiến tranh theo mưu đồ của WIB, hàm-ý lợi dụng Pháp ổn định tình hình rồi khai chiến với Pháp ngay. Theo ý đồ của OSS: Cụ Hồ cần dựa vào sự giúp đỡ của Pháp một cách hiển nhiên để củng cố địa vị và đè bẹp đối lập. Thế nên, tháng bảy, 1946 Tướng Giáp mở cuộc tấn công VNQDÐ từ Thanh Hóa trở ra, Tướng Giáp công khai hợp tác với Bộ tư lệnh Pháp ở Bắc Việt qua OSS sắp xếp [điệp viên 19 và Russell Flynn Miller nói tiếng Pháp rất lưu loát] Tướng Giáp xin Pháp giúp pháo binh tấn công VNQDĐ và ÐMH. Ngày 12/7/1946, Tướng Giáp mở cuộc tấn công vào trụ sở VNQDÐ ở phố Ðỗ-Hữu-Vệ, Cửa Bắc, Quan Thánh, chiến xa Pháp hỗ trợ Việt Minh theo lời yêu cầu của tướng Giáp, chận các ngã đường giúp VM hữu hiệu mở cuộc tấn công. Chiến xa Pháp bắn đại liên và trung liên xối xả (xem Võ Nguyên Giáp “Những tháng năm không thể nào quên” [Des journeés inoubliables] bản dịch Pháp văn HN 1975, trang 290-295.

Nhưng CIA và KGB tại sao không đưa Tướng Giáp lên thế mà đưa Lê Duẩn!? Vì Duẩn thân với Liên Xô nhứt là Stalin, ở tù nhiều năm lâu hơn ai hết và tham gia hoạt động cả 3 Miền, còn Tướng Giáp thì hình ảnh chụp chung với Cụ Hồ tại Pát-Pó bu quanh bởi thành viên OSS. Dĩ nhiên KGB phải chọn Lê Ðức Thọ đưa vào Nam thay thế Lê Duẩn về lãnh đạo Hà Nội với chức Quyền Tổng bí thư và kiêm luôn thường vụ Bộ chính trị và Mai Chí Thọ nắm toàn quyền sanh sát trong tay kể cả cẩn-thận chăm sóc Cụ Hồ, theo dõi Cụ ngày ngày tưới cây Vú Sữa miền Nam với cảnh vui thú điền viên của tuổi già. Kể từ 1960 Cụ Hồ bị lột mất quyền nhưng cái nhóm đầu trâu mặt ngựa nầy lại lợi dụng uy tín của Cụ để ăn nói với thế giới bên ngoài và lợi dụng uy tín Cụ trong các nghi lễ ngoại giao. Còn Cụ Giáp thì ngồi chơi xơi nước một thời gian coi cho được [decent interval] rồi phản gián CIA sẽ khuyến dụ KGB đưa Tướng Giáp, một thành viên trung thành của OSS vào lại quân đội cho cuộc hành quân Lam Sơn 719 nầy; Thế nên tại sao Giáp vẫn còn sẵn sàng giúp WIB mở đường Trường Sơn Tây (Xa-lộ Harriman hay Xa lộ Liên Bang Ðông Dương? Không đánh trận gần mà lại đánh trận xa?) xuyên qua phần đất Lào và Cambodia đến tận Sihanouk-Ville, trong khi các tướng lãnh BV kể cả Văn Tiến Dũng vẫn thích Trường Sơn Ðông hơn là thay vì 4 tháng mà chỉ có 1 tháng đi thẳng vào Nam. Hằng ngày B52 phải thả Bom theo chiến dịch Rolling-Thunder [có nghĩa quân CSBV chỉ nghe bên tai tiếng “Sấm rền” mà thôi và thử hỏi nhân chứng người anh em phía bên kia thì biết ngay] núi đá được khai quang, con đường chỉ dài 900 miles mà phải xử dụng 6 triệu tấn trong 14 triệu tấn Bom cho cả cuộc chiến Ðông dương. Trong khi Sư-đoàn-2 KQHK, mỗi ngày phải dùng ít nhứt 5 chiếc C-123 để phun thuốc khai quang, làm dấu tracking vàng lá cho chiến dịch “Hot-Tip,” và thả xuống hàng trăm ngàn máy sensor [hàng rào điện tử McNamara] ghim dưới đất hoặc móc trên tàng cây để theo dõi Lính của tướng Giáp dẫm chân trên vùng đất khai-mở đường, khi họ cần xê-dịch qua trái hay phải vài độ giạt để tránh khỏi phải bắt qua quá nhiều cầu-cống xuyên ngang nhiều con suối hay thế đất khá nhiều lồi-lỏm đồi núi gây tốn kém hay trở ngại cho việc phóng đường xa lộ Liên Bang Ðông Dương.

Ðiều dễ hiểu, Hoa Kỳ có những tư liệu cần bảo mật, vì nhu cầu chính trị đối ngoại tế nhị nên phải thuê mướn các ngòi viết có tiếng tăm để đánh lạc hướng, như tin mới đây TT Nixon đòi chặt đầu TT Thiệu… BBC, Cụ Hồ là người Tàu để làm sai lệch, gây hỏa-mù Cụ không là một thành viên OSS kết nạp 1943 …(y chang Cụ Diệm, 2 Cụ là người bạn của Mỹ chứ không phải là người của Mỹ, thế nên một người bị Mỹ giết còn người kia bị Mỹ cho công cụ Lê Đức Thọ cách ly như một nhà sư giam hãm trong một tu-viện, ngày ngày Mai Chí Thọ ra lịnh chỉ tưới cây Vú-Sữa miền nam để vui thú điền viên, không được tuyên bố điều gì được gọi là chính sách và đường lối của đất nước.

Sự kiện nầy hãy để cho lịch-sử sau nầy phán quyết, khi thế hệ dính dấp vào cuộc chiến nằm yên dưới 3 tấc đất, không thể ngoi đầu lên để lội ngược dòng lịch sử, mọi việc rồi sẽ bỏ sau lưng như có lần Kissinger trả lời phỏng vấn của Ðài BBC và các tài liệu mật sẽ nhé cạnh trên internet) Robert McNamara said that Diem used Nhu to contact Ho Chi Minh in the fall of 1963. Vì hai miền không muổn xảy ra cảnh nồi da xáo thịt.

Có bao giờ kẻ thù mà cho là người tử tế!? (Kindred peoples) Tôi tạm dịch theo tài liệu Mật của CIA, Memorandum, Washington, số OCI No 2352/63, ngày 14.9.1963, tiêu đề: “The possible of a GVN Deal with North Vietnam”. “…Vì thế, Họ có thể tìm ra các đầu mối nhằm thỏa hiệp với Miền Bắc, Họ tin tưởng rằng thỏa hiệp với người cùng một nước vẫn hay hơn là luồn cúi trước áp lực ngoại bang (Mỹ) (…Thus, they might at some juncture seek to work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures – Theo ý nghĩ của tôi, đọc-giả sẽ dịch chữ ‘kindred peoples’ là người cùng một nước phải thương nhau cùng? Sự góp ý phong phú, sốt sắng của quí vị và các chiến hữu thật vô cùng quí giá vào mục đích giải tỏa một “NGHI ÁN” lịch sử liên quan đến các vị Anh hùng Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống. Chư vị đã vì bổn phận trước lịch sử mà không ngại bày tỏ những gì mình đã hiểu biết về hiện vụ cũng như những suy tư về cái chết oan ức của quân lực cao quí VNCH; Hầu hết quí vị đã đóng góp ý kiến xây dựng trong sự tương kính và nhất là tôn kính với vong linh những người quá cố đã từng anh dũng xông pha nơi trận mạc để chúng ta mới có cuộc sống ngày hôm nay! Quí vị đã anh minh bày tỏ lấy sự rửa hận cái nhục mất nước làm trọng, còn hơn thua nhau đôi lời không phải là hành động thức thời trong nhiệm vụ thiêng liêng phục vụ xứ sở và dân tộc!

Sự chủ mưu phỉnh gạt tinh vi vô cùng thâm sâu là một ngón đòn đâm sau lưng đồng- mình trong cảnh dầu sôi lửa bỏng tháng Tư – 75 (Cruel April = Tham muu truong WSAG, Donals Rumsfeld) Đây là một “điểm mốc thời gian” (decent interval) trong âm muu hoàn thành “axiom-1”, bàn giao Saigon cho Hà Nội sau đúng 30 năm chinh chiến, (Mỹ đẻ ra hội Việt Tân và tài trợ để ghi vào lịch sử VN ngày 30/4 là ngày Quốc Khánh để sau khi thế hệ dính dấp vào cuộc chiến chết hết … thì ngày 30/4 là ngày mà người dân Việt phải mang ơn Mỹ, đây cũng là điều lập lại với Liên Xô phải mang ơn Mỹ bằng “Aid to Russia 1941-1946 Plan” đánh dấu ngày mà LX không còn bị nước nào xâm lược!
.
(còn tiếp)
hieunguyen11
03-03-2012, 10:36 PM
Kính thưa anh Vinhtruong, theo em nghĩ thì với trình độ, khả năng của Mỹ thì dư sức giải thể chủ nghĩa cộng sản một cách nhanh chóng chớ không cần phải mất một thời gian chiến lược lâu dài hơn nửa thế kỷ nay. Đối với Mỹ thì không ai là bạn, không ai là thù mà chỉ những gì có lợi cho Mỹ là trên hết cho dù cái lợi đó có tàn nhẫn như bỏ rơi chúng ta giữa lằn đạn của cộng sản nói chung, bắc Việt nói riêng.
vinhtruong
03-04-2012, 04:35 AM
Bạn hieunguyen11,

Ở Mỹ khi mình đi làm ở sở, thình lình, họ cho làm overtime liên tục, ngoài ra còn tuyển thêm người được gọi là nhân lực phụ, cho một công trình, xong một công trình họ nghỉ xả hơi để Lay-off những người mới thu nhận để tiết kiệm chi tiêu, đồng thời nhân lực phụ nầy chưa đủ điều kiện thời gian để cover heath-insurance medicare. Mà các nhà tư bản nầy gọi là political business afffairs. Thí dụ vô nhà người ta dùng toilette nghẹt cầu thì bỏ đi ra cho lẹ và tuyên bố bị chủ nhà sách dao và chổi chà đuổi ghê quá chạy có cờ, nên đồng minh phải tháo chạy (lịnh lạc do đơn đặt hàng sau bức tường Skull and Bones 322 nầy, rồi rút về qua Philippine, CIA bỏ tiền xúi người dân biểu tình đuổi Mỹ, nên Mỹ đành bỏ chạy nữa (save expense money) 2 căn cứ lớn nhứt là Subic Bay, và Clark Field AFB, rút về Hawaì, hù doạ mấy nước nhỏ coi chứng TQ bành trướng rồi mua vũ khí Mỹ kiếm bạc. Nhứt cử lưỡng tiện vừa giải lao vừa bán được vũ khi để miền nam thắng thì hao quá, Mỹ đâu có dại?

Nếu có rảnh bạn vào internet click ngôi mộ “Skull and Bones 322 conspiracy”, thì vô số kể các tin mật mà khi sưu tra, nghiên cứu bạn có thể bật ngữa, OSS rồi CIA xài người đúng nguyên tắc vắt chanh bỏ vỏ, nhưng đôi khi CIA ăn luôn vỏ bằng cách lấy vỏ làm mứt trần-bì trị ho như vụ Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh (TT Thiệu thì khôn ngoan sợ chết nên được Mỹ để yên). Bấy lâu nay người Việt mình tự cho rằng hiểu rất nhiều, nhưng sự thật mình bị trong bức tường nầy (secret society) phỉnh gạt một cách tinh vi, được gọi là bí mật cho một quyền lực thống lãnh thế giới. Việc cụ Diệm được họ cho rằng đáng lẽ cụ chết dưới tay HCM nhưng nhờ điệp viên 19, Lucien Conein cứu ra, sống thêm gần 20 năm thì người thủ lãnh Skull and Bones-22 (W A Harriman) Cái tội HCM không chịu theo lịnh Mỹ khuấy động lại chiến tranh lần hai mà ra lịnh rút 100.000 quân về bắc.

Lời kêu gọi quyết tổng nổi dậy Tết Mậu Thân là giả, cũng như Hà Nội bắn hết gần 1300 trái Sam mà không còn gì trong tay, muốn đầu hàng mà có được đâu, bể kế hoạch siêu chiến lược? Những năm 1967-68 cụ HCM nằm liệt giường, và trong tài liệu mật “will” của cụ là được “cremated” nhưng KGB/CIA buộc Lê Đức Thọ phải núp dưới cái xác ướp nầy mà chuyên chính độc tài như một đảng cướp Mafia, rồi gởi tiền cho con đi học Mỹ; dù bản chất là tư bản Đỏ nhưng cứ xưng danh là Cộng Sản cho oai.
vinhtruong
03-06-2012, 04:37 AM
Sự thật Hồ Chí Minh-2
Chị Ngọc Đan Thanh đã trình bày “Theo Cùng Mệnh Nước Nổi trôi” với nhiều hinh ảnh giải-mật mà tôi đã có in trong 2 cuốn sách Vietnam-War: Toán OSS đã khoe khoang trong mật khu Bat-pó họ đã cứu cụ Hồ thoát khỏi cơn bạo bệnh, nhìn hình thì rõ sau cơn sốt rét, kiết lỵ còn da bọc xương phải mặc quần cụt đi tước cho dễ; còn Võ Nguyên Giáp mặt hớn hở thề trọn đời phục vụ cho OSS.
Ngày nầy Toán Deer-Team-13 đang chụp kỷ niệm với VM, nên dù là ở rừng rú nhưng Võ Nguyên Giáp cũng thắt cà vạt đội nón phớt nỉ như thành viên Bonesmen, cho nên sau nầy 1971, chỉ có duy nhứt tướng Giáp chịu đem quân giúp sách-lược Mỹ đi đánh trận xa Tchepone, Lào chớ không dám đánh trận gần mà chắc ăn như bắp tại Căn cứ yểm trợ của Mỹ, Khe-Sanh như chúng ta ít người để ý tới. Và đây là ngày được gia nhập làm công-cụ cho OSS 1945 (còn cụ HCM 1943 ở Trùng Khánh).
Luôn tiện tôi giải nghĩa luôn những nhân vật trong chiếc hình nầy: Hình cụ HCM đang tập quăng lựu đạn theo cách hô của thông dịch viên Henry Prunier, phía sau Prunier là thiếu tá Thomas trưởng toán; hình Trung sĩ nhứt William Zielski đang biểu diển bắn phóng lựu bằng Guarant M-1, Hình Zielski khum lưng vác Bazooka, còn thông dịch viên Prunier thì thông dịch về cơ hành. ..
Đó là lý do hai tác phẩm nầy với lời tựa “Lê Dương Mới” cho hai miền trong khi có người nghĩ chỉ có ám chỉ miền nam cho nên … qua con mắt view of bird của phi công gián điệp, tất cả vũ khí xả rác dọc hành lang đường mòn HCM đều do tiền tài trợ debit trả cho công nhân LX, vì sau thế chiến dư thừa nhân lực mà thiếu công ăn việc làm, và nguyên vật liệu xuất khẩu từ Mỹ theo renewed “Aid to Russia 1941-1946 Plan. Liên Xô đã dính chấu debit card từ 1917 Cách mạng tháng 10 Nga (xem trong những bài trước) cho tới ngày nay lại tái diễn, dollar không đủ cho chóp bu Mafia-VN bỏ túi có đâu mà mua tàu lặn, phi cơ tối tân, hoả tiễn phòng thủ hải phận thềm lục địa. Cái kiểu làm ăn can dự của Mỹ lúc đầu thì nhiều quốc gia tham chiến rồi sau đó Mỹ êm-re một mình dự trận để lấy thế chủ động. Về viện trợ cũng vậy, lúc đầu Việt Nam làm bộ cứ mua vũ khí Nga, Do-Thai, Hà Lan, Pháp, Ấn-độ … trong thời gian rồi khi Mỹ cảm thấy đến thời điểm rồi thì cắt bỏ lịnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN, rồi chính Mỹ đơn phương trực tiếp giao vũ khí cho Việt Nam thẳng phức cho rồi khỏi phải màu mè tốn giấy tờ qua lại, nhưng đừng tưởng bở cũng chỉ là cộng cụ của Mỹ mà thôi, nhưng mà giữ được chủ quyền Biển Đảo.
Sau cuốn DVD sự thật HCM, dù Cha Nguyễn Hữu Lễ bị tù, người tranh đấu giành lại tên Saigon, viết sách chống CS nhưng vẫn bị một số người hung-hăng tấn kích tơi bời, sự thật ngài chỉ có tiết lộ quá ít sự thật mà hậu-quả quá ghê gớm. Qua kinh nghiệm đó, cái đĩnh cao chói lọi nằm nơi ngôi mộ vây kín trong bức tường Skull and Bones 322 tự cao ngạo cho âm mưu phỉnh gạt dân Việt mình quá cao, cho nên đến tận giờ nầy họ (người Việt) vẫn thề không đội trời chung với cái gọi là CS, chả lẽ Bonesmen nói toạc móng heo ra VN không phải CS mà Mafia do tao dựng lên thì bể kế hoạch chiến lược? Vì vậy Bonesmen bèn ra lịnh mỗi ngày hé một tí, tháng sau nhé cạnh thêm chút nữa và sau cùng nói toạc ra sexy ra hết 100%, như cái Will của HCM ao-ước được cremated, nhưng Bonesman W A Harriman nói với Lê Đức Thọ phải núp dưới cái xác khô nầy mà hưởng thụ làm tiểu bá 3 nước Đông Dương với sự độc tài chuyên chính như một bạo chúa dưới cái dù CIA/KGB, sơ khởi (vì HCM đang nằm bệnh liệt giường) dùng ghi âm ngụy tạo tiếng nói HCM tuyên bố tổng nổi dậy trong Tết Mậu Thân-1968, nhưng không ai để ý năm sau HCM chết mà rán cổ nói lên vài điều trước khi tắt thở? nhưng có khác một tí là lời nói khá hùng hồn?
Lê Dức Thọ xem lời dặn dò của Harriman tại một chỗ họp kín ngoại ô Paris 1968, như khuôn vàng thước ngọc, và đến 2014 NVHN sẽ có đủ tài, chứng liệu, hình ảnh về cuộc chiến vừa qua để khi nhắm mắt yên tâm hơn, chỉ tội những người chết trước đang trăn trở nằm dưới mộ. Nhưng không sao nhờ vào thế hệ hậu sanh khả quí sẽ mau chóng phát hiện ra sự thật bằng vi tính sẽ email xuống cỏi âm sau!
Người viết đang chờ đợi sẽ có ngày Hoa Kỳ tiết lộ thêm nhiều tài liệu mật, tôi nghĩ nên nhấn mạnh rằng mục đích của hai cuốn sách nầy là để soi sáng những vùng tối của lịch sử chờ hợp thức hoá sau như chị Ngọc Đan Thanh đã trình sơ sơ vài tài liệu mà tôi vừa giải nghĩa ở trên, để đưa ra những sự kiện trung thực về con người và sự nghiệp của Hồ Chí Minh vào khi có quá nhiều thông tin trái ngựơc nhau về nhân vật lịch sử ấy. Và hơn nữa vừa qua trên diễn đàn nầy, cộng thêm những tài liệu đang phổ biến trên internet để tùy trình độ chính trị và tự tìm hiểu, đây cũng là mưu đồ trò chơi chính trị để tùy theo trình độ hiểu biết mà đánh giá, qua sáng kiến của CIA tạo ra vụ Wikileak, trò chơi phản tình báo sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy. Từ đây Bonesman Harriman-22 đã tung ra hàng trăm triệu dollar để dựng lên phong trào phản chiến khủng bố chính quyền, làm rung chuyển cả nước Mỹ cho mục tiêu axiom-1 (There was never a legitimate non-communist government in Saigon) và tài tử phản chiến trung úy John F Kerry, đại học Yale là diễn-viên chính, cũng từ sau bức tưồng đó, cũng chịu dấn thân ra trận tại vùng sông ngòi Cửu Long để trét son phấn trước khi ra sân khấu, và lãnh một hơi 3 chiến thương bội tinh. Nhưng nếu không ra tranh cử tổng thống thì chả ai biết, vì bị đối thủ TNS Bob-Dole tố cáo là 3 huy chương Lèo chỉ có băng First-Aid, không có một giờ phút nào nằm nhà thương.
Hàng ngày tài tử mặt ngựa Kerry xuất hiện trên TV mà ai ai cũng quen mặt để thình lình đột nhập vào Hà Nội chỉ vẽ cách đánh đấm với phái đoàn Mỹ và VNCH tại Paris, dĩ nhiên là trong quỹ đạo của ngôi mộ Skull and Bones 322, cái đau nhứt là đưa phóng đồ hành quân Lam Sơn 719 cho tướng Giáp; chúng ta đi hành quân phát hiện thấy hầm hố đào sẵn xung quanh các căn cứ hoả lực VNCH có nghĩa là BV đã biết trước nên mới đào công sự và chuyển vận 67.000 tấn đạn đủ loại mà QLVNCH phải đội trên đầu thật là dã man không thể tưởng tượng được. Nếu không nhờ có phi đội trực thăng vỏ trang PĐ-213 thì quân bạn sẽ chịu cái cảnh Điện Biên Phủ, VM tháo gỡ súng lên sườn núi bắn thẳng xuống đến nỗi viên đại tá Pháp không cựa quậy được phải tự tử bằng trái lựu đạn của mình.
Câu chuyện nầy nói ra dưới nhân chứng của Lữ Đoàn-2/ Dù khi bỏ CCHL/Đồi-30 phải chịu sơn-pháo 85ly cường tập, bắn trực xạ từ trên núi bắn xuống phủ đầu Tiểu Đoàn-2/Dù đi trước, anh em pháo binh đi giữa, và đại đội BĐQ đi tập hậu, các Topgun/213 phải ưu tiên tác xạ vào các hầm miệng ếch trên núi với cái miệng vàng nghệ trong 8 tiếng liên tục trọn một ngày để cho quân bạn tiến đến một chổ an toàn cho Trực thăng Mỷ bốc anh em Pháo binh về thay súng mới, còn Dù và BĐQ rán tiếp tục mở đường máu dưới sự yểm trợ của Topgun VNAF, tôi nghĩ tức thật tại sao Mỹ không đá động gì đến VNAF?

Dưới đây tôi đưa ra một tài liệu mật mà giữa CIA và bộ phận liên đới tình báo Mỹ họ nói chuyện với nhau để biết ý đồ thâm độc của người bạn đồng minh:
Robert McNamara said that Diem used Nhu to contact Ho Chi Minh in the fall of 1963…

Có bao giờ kẻ thù mà cho là người tử tế!? (Kindred peoples) Tôi tạm dịch theo tài liệu Mật của CIA, Memorandum, Washington, số OCI No 2352/63, ngày 14.9.1963, tiêu đề giữa nhân viên tình báo với nhau “The possible of a GVN Deal with North Vietnam”. “…Vì thế, Họ có thể tìm ra các đầu mối nhằm thỏa hiệp với Miền Bắc, Họ tin tưởng rằng thỏa hiệp với người cùng một nước vẫn hay hơn là luồn cúi trước áp lực ngoại bang (Mỹ) (…Thus, they might at some juncture seek to work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures.
Theo ý nghĩ của tôi, đọc-giả sẽ dịch chữ ‘kindred peoples’ là người cùng một nước phải thương nhau cùng? Ở điểm nầy chúng ta khoan kết án ai giữa hai nguyên thủ hai miền nam bắc thương yêu nhau, thiệt hay giả? Nhưng câu nầy cho thấy CIA phải kính trọng người Việt vì TT Diệm không muôn đổ máu dù ngài có nhượng bộ quyền lực cho miền bắc để mua lấy cái cảnh phải nồi da xáo thịt. Người Mỹ xúi tướng lãnh cho rằng “Traitor”.
Người viết cũng không phải lợi dụng ngòi bút để mạt sát, đả kích, không phải bài viết tố cộng, mà là một sự mong muốn trả lại tính trung thực cho lịch sử theo quan điểm mà những gì mình tìm ra, biết được cho bà con xem để thẩm định thiệt hư như thế nào? Tôi muốn trình bày sự thật về một con người, mà trục ma quĩ CIA/ KGB dựng lên để cố tình che dấu bằng những huyền thọai, người ta coi như là một vị thánh, vị thần theo chi thị phát ra từ ngôi mộ Skull and Bones 322 (Bạn nên click vào internet sẽ tìm thêm dữ kiện data, hình ảnh giải mật như ta đã thấy trên diễn đàn nầy).

Nhưng thật sự, sau khi nghiên cứu ra kỹ, thì HCM cũng chỉ là một con người binh thường, mà là một con người có rất nhiều điều phải nói, một trong những điều phải nói là để lại một di sản rất là tai hại cho dân tộc VN do sự lôi cuốn của vận nước bởi một thế lực mà nước VN nhỏ bé không thể tránh khỏi trong vòng xoáy của cơn bão? muốn trình bày sự thật về một con người, mà KGB/CIA đã nhào-nặn, họ đã cố tình chỉ dẫn cho Lê Đức Thọ che dấu bằng những huyền thọai, người ta coi như là một vị thánh vị thần để núp sau đó mà độc tài chuyên chính đôi khi dùng cả bạo lực như một đảng cướp Mafia để vơ vét tài sản của dân, ăn cắp tiền viện trợ, tham nhũng để recycling thành dollar xanh gởi qua Mỹ. Mỹ đưa tay trái bằng công nhân đàn em và nguyên liệu, lấy về tay phải nhẹ re bằng dollar xanh.

“Hồ Chí Minh lẩn khuất sau những lớp màn che tối tăm hay mờ ảo để cho người ta không nhận diện được ông, cho nên từ đầu chí cuối, tôi tìm kiếm thấy từ ngày sanh cho tới ngày chết của ông Hồ Chí Minh đều dối trá.”
“Với lòng kính trọng của một người phương Đông, tôi hết sức tôn trọng, không chỉ trích nặng nề, và cũng không ca tụng ông Hồ Chí Minh. Những gì tôi có biết được qua tài liệu tìm thấy trong internet, bây giờ quí bạn có thể check lại cho rõ hơn. Tôi không thể cả quyết được rằng tôi đã tiến đạt đến tuyệt đỉnh của sự thật, và chỉ nói rằng, tôi đang mò-mẫm tiến tới sự thật về Hồ Chí Minh. Mà đã đến thời điểm Permanent Government âm-thầm nhé cạnh trên Internet Youtube chứng liệu và hình ảnh, thì dụ như phun thuốc khai hoang trên vùng rừng núi Trường Sơn Tây là một sự phỉnh gạt chính trị/kinh-tế tinh vi nhứt của thế kĩ 20 chĩ dành cho sự giải quyết vào 21
Di sản Hồ Chí Minh?
Nội dung tổng quát của bài “Sự Thật về HCM-2” được trình bầy mạch lạc trong 6 lãnh vực: Thân thế, đạo đức, tư tuởng, bản chất, di sản và tội ác của HCM.

Trong mỗi lãnh vực nêu lên những gì đang được rao giảng về HCM ở trong nước và đưa ra những chứng tích lịch sử dưới nhiều hình thức để chứng minh là những gì đang được truyền bá trong nước hầu hết là những điều được thêu dệt lên để thần thánh hóa ông do sách lược sau bức tường Skull and Bones 322.
Về việc ra đi tìm đường cứu nước: Thật ra HCM đã đi ngọai quốc để tìm đường giải quyết mưu sinh cho gia đình. Dưới đây là chứng cớ:

“Kính thưa tổng thống Cộng Hòa, tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm cửa ngài ban cho tôi đặc ân được vào nội trú trường thuộc địa.”
Đây là cái văn thư mà ông giám đốc trường thuộc địa Paris từ chối đơn của Nguyễn Tất Thành, và như vậy ông ra đi là để tìm cách giải quyết sinh kế gia đình, chứ không phải ông ra đi để tìm đường cứu nước.” Có một điều chúng ta nên nhớ OSS rồi CIA họ dụng nhân như dụng mộc, khi họ cố tìm ra công cụ cho nước Mỹ bằng đồng dollar quá rộng rãi điệu nghệ miễn đạt cho được mục tiêu?
Thật ra HCM có rất nhiều vợ chứ không phải đã chọn sống độc thân vì hy sinh cho quê hương. Có nghĩa khi tình báo Mỹ đã để cặp mắt phù thủy rồi thì phải nghe theo lời không thì hoạ vào thân ngay (trong những đoạn sau tôi sẽ nói trường hợp và điệu kiện nào Nguyễn Cao Kỳ được William Colby chọn cho cả hiện tại và hậu chiến VN) Ở đây tình báo Mỹ ra lịnh Lê Đức Thọ phải cách ly cụ HCM bằng cách sống như một nhà tu hành gương mẩu và phải tôn vinh Hồ là cha già dân tộc mà Thọ cứ dựa vào hòn đá tảng đó mà tác oái với danh xưng 6-Búa.
Có nguồn tin, thế nên Không những thế HCM còn tàn nhẫn cho giết cô Nồng Thị Xuân, người vợ đã có con với ông (điều nầy không thể tin được, hồ sơ mật sẽ tiết lộ với đầy đủ chứng cớ, hãy chờ xem sẽ hé ra cùng lược với cái wìll của chính cụ Hồ xin được cremated) Hùm, Cọp có dữ cách mấy cũng không nở ăn thịt con, thôi thi chờ khi các bạn đọc trong tài liệu mật sẽ tìm ra: Cụ HCM có cái will xin được chết rồi hoả táng mà có được đâu, HCM có được thoả mãn không, rồi hãy kết tội ông, tại sao phải ướp một cái xác không hồn để khỏi được siêu thoát?

“Sự tàn ác của HCM để cho đàn em thủ tiêu Nông Thị Xuân, người đã chung chăn gối với Hồ, và có một đứa con là Nguyễn Tất Trung. Cô Xuân bị giết thì cô em là Nông Thị Vàng chạy về Cao Bằng thì cũng bị giết luôn?” Câu nầy sẽ có một ngày không xa sẽ lộ ra trước ánh sáng, chính tài liệu hình ảnh của Mỹ sẽ đưa ra tuần tự theo chương trình cái trước cái sau theo nguyên tắc làm việc của CIA, cho biết bằng lịnh từ tam đầu chế: Đức-Thọ, Chi-Thọ, và Lê Duẩn đã ra mật lịnh nầy! Cũng giống như quí bạn đã thấy hình giải mật cụ HCM óm bịnh sắp chết chỉ còn da bọc xương và tướng Giáp ở trong rừng mà vẫn thắt cà vạt, chỉ vì ngày nầy là ngày Giáp được kết nạp OSS.
“Đối với người ngọai quốc chuyện đó thì người ta nói rằng ồ, chẳng có cái gì mới cả, bởi vì dầu sao về HCM thì chúng tôi đã biết rồi. Có người thì đọc sách, có người thì nghe băng, có người thì coi hình, thì nói … ồ dầu sao tôi đã biết rồi, HCM có vợ có con, HCM lấy đàn bà con gái, HCM làm chính trị phải giết người, HCM v.v…, HCM cũng đặt điều nói dóc về mình khi mà tự lấy tên là Trần Dân Tiên, nhưng mà giới trẻ trong nước có biết đâu. Người dân trong nước không biết gì cả, cho nên mục đích chánh bài này, la tôi viết để phổ biến cho qui bạn tức khí sưu tra thêm trong internet để tìm hiểu giúp thêm, tại sao ông tự ca ngợi hay ai làm việc đó với mưu đồ gì? HCM đã nhiều lần tuyên bố tôi chỉ là người hành động bình thường, người ta nghe Maoist, Leninist… chớ chắng ai nghe Hoist cả … điều nầy hãy nghiên cứu lại không nên vỏ đoán với dụng ý không công bằng? Cho tới khi các tài liệu sẽ update hàng ngày vì đây là một việc làm hết sức quan trọng đối với lịch sử mà Mỹ có trách nhiệm phải làm sáng tỏ để phục hồi danh dự cho nước Mỹ và xoá bỏ “Vietnam’ trauma”.

“Cái phi nhân bản nhất của chủ nghĩa CS là nhồi sọ con người, không cho con người được biết sự thật. Sau khi CS Liên Sô sụp đổ rồi, người ta phải hủy bỏ cái kỳ thị về lịch sử, phải bỏ hết tất cả những sách về sử do CS tạo ra, bởi vì không có cái gì là sự thật hết.
Đây là điều tôi muốn nhấn mạnh cho các bạn biết trên góc cạnh tình báo và danh dự của nước Mỹ: Hoa Kỳ, vì danh dự và trách nhiệm trước hết là gần 60.000 thanh niên Mỹ hy sinh tại Việt Nam chỉ đơn giản là giúp một nước Việt Nam nhỏ bé có được dân quyền dân chủ bằng “the social scientists’ war” trong lăng kính của Skull and Bones-22, đồng thời hoàn toàn xóa bỏ Hội Chứng Việt Nam (Vietnam’ Trauma đã làm người dân Mỹ trăn trở gần nửa thế kỷ nay được giải toả) mà bây lâu nay CSVN tha hồ ăn nói vung vít ngạo mạn. Thế nên Hoa Kỳ có bổn phận phải toát ra sự thật lích sử về cuộc chiến VN cho thế giới biết; Các sử gia VN và thế giới sẽ viết lại cho đúng sự thật hoàn toàn mới mẻ lịch sử VN và quăng bỏ những chuyện vẽ vời huyền thoại của thiên đàng CS với các chứng liệu rõ ràng không thể chối cãi được là Cộng Sản Chủ Nghĩa là tội đồ của dân tộc VN

Thành ra cái giá trị của việc làm của LM Nguyễn Hữu Lễ về Sự Thật HCM-1 là cho thấy được cái sự thật như thế nào, đó là một điều rất là cần thiết cho những thế hệ sau này của chúng ta trong lúc sơ khai.
“Đây là một công trình hết sức là công lao, và rất là khó khăn mà quý vị ấy đã bỏ công bỏ sức ra trong vòng hai năm vừa rồi để mà thực hiện. Tôi nghĩ là không cần cả cuốn phim, chỉ cần một phần của cuốn phim này, một phần tư của cuốn phim này thôi, mà về tới cho tất cả những người ở Việt Nam thì chắc chắn là họ biết là từ trứơc đến nay họ bị phỉnh gạt, họ bị nhồi sọ một cách sai lầm.” Và dĩ nhiên thế hệ trẻ sẽ như chúng ta sưu tằm thêm dữ kiện trên internet thì sẽ ra đâu là sự thật; Lịch sữ hiện tại với hệ thống vi tính siêu việt và thế hệ hậu sanh khả quí, không ai dễ gì nói ba xạo được đâu để bôi bác lịch sử?

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
03-10-2012, 02:19 PM
(Có một điều chắc chắn là bấy lâu nay người Việt tấn công lên án Henry Kissinger là bị lừa phỉnh từ ngôi mộ sau bức tường Skull and Bones-322conspiracy mà Kissinger chỉ duy nhứt là cái ‘tổng đài phát thanh’ những gì mà quyền lực trong đó muốn la lên cho thế giới biết.
Bài nầy người viết chỉ viết ra theo cảm quan, còn độc giả nên phối kiểm sưu tra thêm trên Internet để suy diễn thiệt hư như thế nào với những chứng liệu, hình ảnh hiện ra và đồng thời người viết khuyên NVHN nên thức thời một tí: Dân tộc VN vẫn luôn luôn trường tồn và chế độ được tạm thời gọi là CS chỉ tồn tại vào một giai đoạn ngắn do thế lực nầy ấn định decent interval; Hiện nay quân đội của VN mạnh hơn quân đội TQ bằng vũ khí hiện đại hơn, cái đà nầy vẫn đang tiến triển không thể đảo ngược được theo siêu chiến lược của Mỹ dù là thể-chế nào cũng không ra ngoài quỹ đạo của Mỹ. Hay nói cách khác 2014, chính Permanent Government sẽ nói toạc ra 2 miền nam/bắc từ xưa đến nay, Mỹ xem như là hai đứa con, hay tệ hơn là hai công cụ gián tiếp và trực tiếp: Một được đối xử cưng chiều hơn, đi đánh giặc mà dùng xe GMC, M-113, máy bay trực thăng, còn thằng con kia phải lặn lội dưới dãy Trường Sơn ám khi rừng thiêng nước độc, biết bao thân xác nằm trải dài dọc hành lang, thì người cha nào không thương thằng con chịu quá nhiều gian truân để thi hành một việc làm hiếu thảo “America First” cho người cha.
Năm 2014, NVHN sẽ… ú-ớ qua tiếng loa phát ra từ bức tường Skull and Bones 322 conspiracy vì không còn gì phải giữ bí mật nữa và cũng đúng vào thời điểm phải xoá bỏ “Hội Chứng VN” phục hồi danh dự cho người lính Mỹ hy sinh cho đại nghĩa dân quyền dân chủ VN)

Cuộc chiến ‘giả’ mà hai miền chiến đấu ‘thực’, chém giết nhau tận tuyệt, thề không đội trời chung?
Sau khi bức tử miền nam, và cũng để che dấu nguyên nhân cúp viện trợ cho VNCH (hoàn thành axiom-1) bởi một siêu quyền lực trong bức tường “Skull and Bones 322 conspiracy”, tài trợ cho xuất hiện 13 thiên truyền hình, diễn nghĩa hết sức sai lệch về cuộc chiến VN… dĩ nhiên trong mưu đồ chính trị để đánh lạc hướng dư luận thế giới. Ngoài ra các tài liệu quan trọng còn bị ràng buộc bởi những quy tắc bảo mật và giải mật phải đúng cái-mốc thời điểm decent interval, tùy theo mức độ nhạy cảm của sự kiện. Thêm nữa, những học-giả, sử-gia và những nhà nghiên cứu ham dollar có thể bị mua chuộc, buộc đưa ra những quan điểm chính trị khác biệt do đơn đặt hàng, từ Ngôi-Mộ sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy, nhưng phải che dấu hoàn toàn tên tuổi các tội phạm chiến tranh (như các bạn tìm thấy trong tài liệu mật bị bôi đen dòng chữ tên các tội phạm chiến tranh, ngoài trừ Henry Kissinger chỉ là con múa rối nên phải hiện nguyên hình để làm bình phong che kín mít những tội phạm chiến tranh như: W A Harriman, Prescott Bush, Donald Rumsfeld, George H W Bush…).
Cũng có thể vì thiên kiến nên đã có những phân tích, những nhận định thiếu vô tư và rất thiên lệch. Cuộc chiến phát động lần thứ 2 (1954-1975) đoạn sử cận đại nầy được minh chứng theo khoa học về sự khổ-nạn của dân-tộc Việt bởi bọn tư bản War Industries Board: “Hai thập niên bạo-lực đẫm-máu” nhưng tất cả đều đổ tội lên đầu Cụ Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh vì đơn giản hai vị nầy không muốn máu đổ trên mãnh đất của hai miền (“The possible of a GVN Deal with North Vietnam”…Thus, they might at some juncture seek to work out a modus vivendi with the North, out of belief that a deal with kindred peoples was better than submitting to foreign (US) pressures “…Vì thế, Họ (hai cụ) có thể tìm ra các đầu mối nhằm thỏa hiệp với nhau qua Miền Bắc kín đáo hơn, Họ tin tưởng rằng thỏa hiệp với người cùng một nước vẫn hay hơn là luồn cúi trước áp lực ngoại bang – US’ pressures) Trong khi soạn giả Harriman quyết liệt phải khuấy động lại chiến tranh lần 2 thì hai cụ phải hy sinh cho mục tiêu của người nắm chính sách Mỹ.

Tôi tự nhận thức dù có đào sâu thêm về những sự việc đã xảy ra hơn nữa thế kỷ cũng không thay đổi được những thảm hại do trục Ma Quỷ CIA/KGB đã gieo rắc trên quê hương Việt Nam suốt mấy chục năm từ Bắc vào Nam bằng “cuộc bỏ phiếu bằng chân” (vote on foot) trong cuộc chiến tranh lạnh mà cái thế lực đỉnh cao trí tuệ trong bức tường Bonesman-22, đã sắp-xếp qua nhiều giai đoạn từ Ðức Quốc Xã, Quân phiệt Nhựt rồi Cộng Sản, riêng khốn-nạn cho VN bằng cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn: “căm thù giai-cấp” đối đầu với “căm thù Cộng Sản” chém giết nhau tận tuyệt… thề quyết không đội trời chung… Sự thật cái trục Ma-Quỷ nầy tạo ra cuộc chiến-tranh “giả” nhưng người Việt hai Miền lại chiến đấu “thực”: Hãy hình dung thay vì Hoa Kỳ trao cho KQVN 2 ngòi nổ [warhead] của Bom BLU-82s đã thả tại Long Khánh mà cho hàng trăm ngòi nổ warhead của cả BLU-82AL và CBU-55 thì quả là đại hoạ, thiện tai, thiện tai? CBU-55 có thể dùng trên trực-thăng UH-1 để thả!
Nhưng đau đớn thay! Mục tiêu sau cùng qua ống kính của trục Ma-Quỷ, chúng ta hãy hình dung: “Một cậu bé 15 tuổi đội nón tai bèo non choẹt chĩa họng súng AK vào một cựu chiến binh đầy kinh nghiệm chiến trường mà cây súng M-16 đã hết đạn phải dơ cao tay đầu hàng!” Vì đây mới thật là đoạn kết của vở bi-kịch: ngày 30/4 là ngày Quốc-Khánh do Bonesman Harriman 22 là soạn giả của vở bi-kịch ấn định sau 30 năm thu hoạch vô vàn lợi nhuận và nhắc lại tại sao HĐ/ Genève/1954 Harriman không chịu ký chia đôi và đợi đến ngày nầy, 30/4 là ngày Quốc Khánh thống nhứt vì hai chữ America First đã thành đạt là do Harriman ấn định an bàì.
Nếu chúng ta nghiên cứu lại với định kiến-1 (axiom-1) Bonesman-22 luôn luôn cưng quí công cụ gián tiếp và tìm mọi sự dễ dàng giúp đỡ những khó khăn cho Hà Nội chiếm miền nam, như bằng vũ khí luôn luôn trên cơ công cụ trực tiếp (VNCH), cho đến ngày hôm nay trục ma quỉ nầy cũng tiếp-tục dành cho Việt Nam loại vũ khí trên cơ Trung Quốc? Với Mỹ, không ngoài mục tiêu chiến lược là một nước Do-Thái phương đông để trông coi 2 chữ America-First cho Mỹ.

Làm sao trả lại sự thật cho lịch sử khi cái Tập đoàn thống lãnh 6 người nầy thừa khả năng bóp méo sự thật qua truyền thông văn hóa bao trùm khắp nơi trên thế giới! nhưng đến ngày sự thật phải lòi ra dưới ánh sáng như TT Kennedy bị tới 2 người bắn, nhưng phải đợi sau một thời gian cần có mới đưa ra ánh sáng! Đến thời gian coi cho được [decent interval] khi mà các sử gia hậu cận-đại Hoa kỳ lý giải, hay bạch hóa giữa sự khác biệt về 2 vị Tổng thống Richard Nixon và Thái-tử George W Bush dựa vào hiến-luật có quyền tự ân xá cho chính mình: Sử gia sẽ thuyết giải rõ rệt về một vị tổng thống chỉ nghe lén [Watergate] mà phải từ chức trong khi Nixon có quyền tự ân xá cho mình, so với trong lịch sử Hoa Kỳ chưa có vị nào sau khi ứng cử phải đợi một thời gian khá lâu chờ Tối Cao Pháp Viện quyết định! Một TT đã lừa gạt dân chúng và Quốc hội khi gây chiến với Iraq bằng sự vu cáo vũ khi giết người hàng loạt; một vị TT có số ủng hộ của dân ít nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ, có thành tích abuse of privilege, draft-dodging Vietnam, và đồi trụy thiếu phẩm cách là ‘a cocaine habit’… nhưng vẩn hiên ngang ngồi trên chiếc ghế quyền lực nhứt thế giới cho đến cuối nhiệm kỳ… tại sao? Có lẽ quí vị sẽ tìm thấy sau bức tường Bonesmen 322 là những nhân vật nào trong đó!!!???

Trong cuốn sách bảo vệ lịch sử, “In Defense of History” giáo sư Richard J Evans có nêu lên những xung đột ý kiến giữa những sử gia tên tuổi trên thế giới về: Sử là gi? Giá trị lịch sử “cận-đại” đối với “hậu-cận-đại” ra sao! Sự khủng hoảng về nhận thức luận trong việc ghi nhận lịch sử v..v.. Cuốn sách nầy xuất bản năm 1997, W.W. Norton & Company, Inc-New York, Ông Evan là giáo sư Sử Học Cận Ðại tại Cambridge University. Ðọc thoáng qua cuốn sách nầy, khiến tôi suy luận về lịch sử cận đại Việt Nam trải qua muôn vàn sự mâu thuẫn trái ngược nhiều đoạn nghịch-lý; Từng đoạn trong tác phẩm nầy là do sự suy diễn riêng tư với liên hệ kinh nghiệm thực tế về quan điểm nhận thức của riêng tôi qua nghề nghiệp là phi công gián điệp. Giai đoạn lịch sử cận đại dùng trong cuốn sách “The New Legion” nầy xin được giới hạn trong 55 năm, từ năm 1954 cho tới 30/4/1975 và từ 1975 đến 2009; Chỉ trong thời gian 55 năm nầy đã xảy ra nhiều diễn biến lịch sử quan trọng tại Việt Nam đã được nhiều học giả, sử gia trong và ngoài nước ghi chép với những quan điểm hoàn toàn mâu thuẫn đối nghịch nhau khác hẳn những gì tôi đã suy diễn như là bài khảo luận (essay) [một số nổi tiếng đều được cặp mắt xanh đầu-tư bằng đơn đặt hàng với mục tiêu theo chủ trương, đường hướng chỉ đạo của Bonesman-22 và Chủ tịch WIB, Prescott Bush (Hội Đồng Kỹ Nghệ Chiến Tranh), đại-để dựng lên thần tượng Hồ Chí Minh một thời gian coi cho được [decent interval] …rồi dùng đòn hiểm độc dìm xuống truất phế huyền thoại cho thế giới không còn thấy hình ảnh Cụ Hồ như trước nữa, có nghĩa không còn là chỗ dựa của Ðảng CS để kèm kẹp người dân, bức tường thép nầy đã đến điểm mốc thời gian bị chiếc đũa thần biến thành bức tường đất bùn trộn lẫn với rơm-rạ. Ðây là điềm báo trước sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống Ðảng CSVN ngay sau khi cuốn DVD/2009 “Sự thật HCM” đầu tiên được nhé cạnh, nhưng người Việt đừng nòng lòng, vì quyết tâm của Permanent Goverment không muốn tắm máu một lần nữa, nên phải bình tĩnh đi theo lịch trình diễn biến hoà bình ngoạn mục bằng những con rối trung thành của Mỹ như đảng VT, N-C-V phối hợp cùng N-T-D … hậu duệ cũa Lê Đức Thọ, Nguyễn Cơ Thạch… mà CIA đã gài nửa thế kỷ trước … điển hình thế hệ hậu duệ nầy đã dựng lên như trân trọng chưng bày chiếc áo Army của Thông dịch viên OSS Henry Prunier ở Viện Bảo Tàng Hà Nội để nâng bi ông thầy? Hà Nội là lính Lê Dương gián tiếp nhưng được Mỹ kín đáo đùm bọc từ dạo ấy 1945-1995 mới hợp thức hoá là đứa con được thừa nhận danh chính ngôn thuận, cho nên TQ không bao giờ dám đụng đến Việt Nam, vụ 1979 là Đặng Tiểu Bình có qua Mỹ xin phép Mỹ chỉ là dạy bài học thôi, còn những biến cố trên Biển Đông là do Mỹ muốn TQ vướng mắc vào cái bẫy, để các nước nhỏ sau khi mua vũ khí Mỹ rồi cũng chưa yên tâm, phải mong đợi Mỹ trở lại cái vùng Sa Mạc mà gần mấy thập niên nay chưa có cơn mưa đổ xuống. Tháng July/2010 Hoa Kỳ sẽ trở lại Biển Đông như một hiệp sĩ thế thiên hành đạo bằng slogan After Eagle pull 1975 for overhauling the damage control, then Roll-Back 7/2010 trong sự mong đợi của các nước vùng ĐNÁ.

“Giá trị mà Cụ Hồ Chí Minh coi trọng nhứt trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền “CỘNG-HÒA” dựa trên cơ sở “TỰ-DO, BÌNH-ÐẲNG, BÁC-ÁI”; Trong khi quốc tế CS cho rằng Hồ khẳng định: “Ðối với các dân tộc thuộc địa ở phương đông, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”, đó là lý do OSS đã nhấn mạnh nhiều lần như: “Did Ho Chi Minh’s collaboration with OSS officers earlier make him more likely to connect his own nation’s emerging independence with the others?
Prunier pointed out in 1968 that Ho Chi Minh believed the U.S. “would help him in throwing out the French and in establishing an independent country” In 1945, translator Henry Prunier (far right) and Major Allison Thomas (center) got to know aspiring nationalist leaders Ho Chi Minh (left) and Vo Nguyen Giap (in suit) better than any American before or since. (Photo courtesy of David Thomas) Nhưng trong thế siêu chiến lược PG cần phát động lại chiến tranh lần 2 nên đành phản bội HCM (trích một đoạn trong tài liệu internet).
Điều quan tâm của Cụ Hồ không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập, tự do của Việt Nam (dĩ- nhiên cái thế lực ghê gớm 6 người nầy sẽ phục hồi danh dự cho Cụ Hồ, sau khi buộc phải phản bội Cụ vì quyền lợi sống còn, và hiện nay chúng ta đã tìm thấy trên Internet, đầu thế kỹ 21, đang hé mở như chúng ta cũng đang ngạc nhiên qua những tin tức giựt-gân từ truyền thông văn hóa làm đảo lộn khá nhiều về thành kiến đã đông đá trong khối ốc chúng ta tự bấy lâu nay.
Tôi đưa ra một sự kiện đáng chú-ý: Ngày 25/4/2005 qua The News-week Paris Match, có một cuộc phỏng vấn dành cho cựu tù binh Thượng nghị sĩ John McCain, người đã bị cai tù Hà-Nội hành hạ đến nỗi ông phải toan tự sát 2 lần nhưng đều thất bại. Ông tuyên bố: (vì quyền lợi dân tộc Mỹ, lương tâm kẻ sĩ, hay một siêu thế lực trong bóng tối cần tiếng nói của ông để giải bày bí mật của lịch sử đã đến điểm mốc thời gian phải toát ra từ cuối đường hầm tăm-tối, và hiện tại đang xán lạn đối với McCain trong sự tài trợ để trở thành một tổng thống tương lai? thể theo tạ-từ của Emperor-1 nhưng với Emperor-II thì lại chọn Thái-tử George-Bush con của mình).

“Les Sud Vietnamiens n’ont jamais cruque le gouvernement en place à Saigon était legitime. Ils savaient que Hồ Chí Minh était un nationaliste qui rechercherait l’unification du pays” Người dân miền Nam không bao giờ cho rằng chánh phủ hiện tại Saigon là hợp pháp; Họ cho rằng Hồ Chi Minh mới là người quốc-gia tìm kiếm sự thống nhứt đất nước.

Ðã đến lúc phải nên làm sáng tỏ thêm câu nói trên của Mc Cain, cái đỉnh cao trí tuệ lại khai-thác các nhà truyền giáo như Linh mục Nguyễn Hữu Lễ. Ngày 11/7/2009, Trần Quốc Bảo, giám đốc sản xuất cuốn phim (dĩ nhiên CIA đưa các tài liệu mật và Linh mục Lễ mới thực là người đứng mũi chịu sào, rút kinh nghiệm từ hậu quả nầy, nên Premanent Government dùng nguyên tắc phản tình báo là kế sách Wikileak thật mầu nhiệm vô cùng) DVD: “Sự Thật Về Hồ Chi Minh” là người yêu nước, có công giành được độc lập cho dân tộc, thống nhứt đất nước …thì dân tộc Việt vẫn phải mãi mãi nhớ ơn Hồ Chi Minh! Và chắc chắn một thời gian ngắn sau đó, cái thế lực ghê-gớm nầy trong bức tường Skull and Bones 322 sẽ cho ra nhiều tài liệu minh xác Cụ Hồ phải được vinh danh vì chiến công cứu nguy dân tộc, vì chỉ có người thầy thuốc bỏ độc dược mới có thuốc giải độc? (hình ảnh mà chị Ngọc Đan Thanh vừa trình bày là chỉ một phần nhỏ).
Nhưng họ lại lờ đi cái đoạn (1954-1975) “kỳ đà cản mũi” vì quyền lợi hẹp hòi của Mỹ mà buộc phải có được sự hoàn tất cho xong chiến lược CIP [Vì sự hạn hẹp của đề-mục nầy, xin đọc giả nghiên cứu thêm chi tiếc nơi Chapter-9: Comment, critical analysis/ The New Legion, Volume-II nếu nhà xuất bản VN nào dám in ra bằng tiếng Việt còn người viết thì xin chịu thua].
Dĩa DVD nầy cũng không khác gỉ cuốn phim “Chúng Tôi Muốn Sống” 1955, do CIA Mỹ tài trợ có sự trợ giúp kỹ thuật của Phi Luật Tân. Hậu thuẫn cuốn DVD nầy quy tụ nào là giáo-sư, luật-sư, kỹ-sư, bác-sĩ…họ đều là những tinh hoa của người Việt hải ngoại; Cuốn phim nầy theo tôi nghĩ nó có nhiều giá trị, vì có những nhân chứng sống là những nhà nghiên cứu thật sự nổi tiếng, trong đó có những nhà nghiên cứu ngoại quốc, họ dựa theo những tài liệu cũa nhiều tác giả có giá trị khác nhau ở trên thế giới, rồi đúc kết lại. Cuốn phim nầy sẽ bị những người chống cộng cuồng tính hung-hãn tấn công … trong khi chúng ta đối xử lịch sự có văn hoá với kẻ thù tại sao không thể đối xử lịch sự có văn hoá với những người không đồng quan điểm với mình?
Làm sao ai hiểu được tháng 4, 1959 trong đại hội đảng 15 cái thế lực Ma Quỷ nầy đã dựng lên một tam đầu chế Mafia “Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ và Mai Chi Thọ” Chúng được mật lệnh dựng lên thần tượng Hồ Chí Minh như là hòn đá tảng, ca tụng như cha già dân tộc để dựa dẫm làm bức bình phong áp bức độc tài chuyên chế lên toàn dân, nhưng chúng lại âm thầm trong bóng tối giết hại vợ con Cụ. “Hùm, Cọp có dữ thế mấy nhưng không nở ăn thịt con!” Cụ đã bị tước đoạt hết quyền hạn từ ngày đại hội đảng thứ 15; Chúng tìm mọi cách suy tôn thần tượng, tạo nên huyền thoại Hồ Chí Minh, nào là Cụ là nhà tư-tưởng, nhà văn hóa để đưa Cụ vào danh sách danh nhân thế giới vì là tác giả hàng chục cuốn sách do Liên Xô và Trung Quốc phiên dịch, nhưng tất cả đều do chúng dựng đứng lên với sự tài trợ của trục Ma Quỷ vì mưu đồ chiến lược. Như có lần Cụ thành thật thú nhận mà có được đâu?: “Tôi chỉ là người ‘hành động’ không phải là ‘lý-thuyết gia’ như người ta gán-ép như Leninist, Stalinist, Maoist, dĩ nhiên không ai nghe chữ Hôist cả! [Nhóm tham mưu cũa Harriman thiết kế để vinh danh Cụ như Ðường Mòn Hồ Chi Minh, Chiến dịch Hô Chi Minh, Thành phố Hồ Chi Minh, và đưa Cụ vào danh sách danh nhân thế giới UNESCO; Nhưng thử hỏi người anh em phía bên kia gọi là đường 559 thay vì đường Mòn Hồ Chi Minh, có phải không?]

Trên đây là giai đoạn hậu Việt Nam, còn tiền Việt Nam: Nhóm tham mưu của Harriman cho giải nghĩa cuộc chiến VN tại khuôn viên đại học và rộng khắp về định-đề-1, đặc biệt khuyến dụ được Thượng-tọa Thích Nhứt Hạnh thêm mắm thêm muối: qua cuốn “Lotus on Sea of Fire” 24, 25/9/2001 New York Time “… chỉ vì 7 du-kích bắn vu-vơ mà Mỹ thả bom tiêu diệt 300.000 dân Tỉnh Kiến-Hòa đồng-khởi, qua buổi thuyết trình ở thánh đường Riverside, New York “Ôm mối giận hờn” [Embracing The Anger] Cái thế lực trong bóng tối tạo dựng sự kiện với ý-đồ rất tinh ranh, làm sao con người bình thường như chúng ta phân định được? Lời tuyên bố của Thích Nhất Hạnh có tính cách nhân đạo, vì dân tộc, dù rằng dân thị xã Kiến Hòa làm gì tới 300.000 dân mà chết hết! Dĩ nhiên người Việt yêu nước khắp nơi đều có quyền nổi lên để đánh đuổi quân xâm lược Mỹ, nên ngài đã lên án sự tàn sát nhân dân vô tội mà cũng theo đơn đặt hàng của một Siêu thế lực sau bức tường 322 cho phù hợp với thời điểm hậu-quả Hoa Kỳ sẽ rút lui sau khi hoàn tất kế hoạch CIP [Counter Insurgency Plan] Ðiều chứng minh hùng-biện của Thích Nhất Hạnh là ngày 30/4/1975 khi lá cờ MTGPMN dựng lên nốc dinh Ðộc lập, thì người dân toàn cõi Việt Nam và thế giới sẽ chứng giám số thành-viên LHQ chấp nhận lá cờ nầy nhiều gần gắp đôi lá cờ Đỏ CS và cờ vàng 3 sọc đỏ; Thế là Thích Nhứt Hạnh có lý đối với LHQ. Cũng như trước đây Walter Cronkite đã bao phen bóp méo sự thật với ý đồ đơn giản là bị đồng dollar lôi cuốn làm bất ổn chính tình miền Nam có thượng-tọa Thích Trí Quang, do CIA giúp sức. Tất cả đều nằm trong trò chơi qua chiếc đũa thần của phù thũy Bonesman-22 !?

Năm 1983, như để ru-ngủ người dân Hoa Kỳ hãy quên đi tấn bi thảm kịch về Việt Nam – Một loạt TV trình chiếu về chiến tranh Việt Nam trên đài PBS gọi là “Vietnam: A television history” chương trình nầy tốn kém 4.6 triệu dollar để thực hiện (Cái nhóm Tài phiệt WIB hốt quá nhiều lợi nhuận trong chiến tranh VN, đã bảo trợ chương trình nầy, để xác định việc làm của Quốc hội cúp viện trợ do họ áp lực là hoàn toàn đúng) Chương trình TV rất hấp dẫn lôi cuốn số người xem lên đến khoảng 9.7 triệu khán giả coi vào mỗi buổi trình chiếu trong suốt 13 buổi. Kiều bào mình khi xem qua nhiều lúc tức giận, nghẹn ngào, không lẽ lấy chân đá vào cho vỡ màn ảnh TV, vô cùng thiên lệch, hết sức là phi lịch sử, bóp méo lịch sử và chỉ là tô son điểm phấn cho lý tưởng Việt Cộng và Hà Nội mới thật có chính nghĩa theo đường lối chủ trương định sẵn của WIB. Rồi “Việt Nam: truyền hình lịch sử” Một trường hợp nghiên cứu trong cuộc tranh luận triền miên giữa bọn truyền thông được thuê mướn và người Việt lưu vong cho đến ngày nào [decent interval] các Giáo sư và các Sử-gia Mỹ sẽ dùng để dẫn chứng và làm sáng tỏ trong các công trình nghiên cứu của giới nầy qua cái nhìn cảnh tỉnh vì ánh sáng chân lý của lịch sử Hoa Kỳ và lịch sử VN – lịch sử cuộc chiến VN.

Thêm vào câu nói dưới đây chưa được phối kiểm mà tự vì người viết suy diễn qua 20 năm miệt-mài nghiên cứu nơi thư-viện, internet: Cụ Hồ khi còn ở trong tù đã được OSS móc nối, và đã được Quốc Dân Ðảng thả tự do qua Tướng Trương Phát Khuê. Vào tháng Tám, 1944 Cụ Hồ được QDÐ Trung Hoa thả và chuẩn bị về Việt Nam để vào mật khu Pat-Pó chống lại quân phiệt Nhựt theo mưu-đồ của OSS và chính OSS, bởi điệp-viên 19 sẽ nhảy dù tiếp tế súng đạn xuống Pat-pó để giúp Cụ sau nầy, như huấn luyện quân-sự cho Trung đội Vỏ trang tuyên truyền của Vỏ Nguyên Giáp và Văn Tiếng Dũng là trung đội phó. Lời tâm sự đáng chúng ta ghi nhớ khi tỏ-bày với Tướng Trương Phát Khuê, “Tuy tôi là người Cộng Sản, nhưng bây giờ vấn đề mà tôi quan tâm không phải là chủ nghĩa CS mà là độc lập tự do cho dân tộc; Tôi xin hứa với ngài một lời hứa đặc biệt trong vòng 50 năm tới sẽ không còn thực hiện chủ nghĩa CS ở Việt Nam [Vì đã đến 50 năm sau, 1945-1995 thiết lập bang giao, cựu thành viên OSS tiết lộ cụ HCM lấy CS làm phương tiện, mà cứu cánh là giành lại độc lập trên tay thực dân Pháp với đặt niềm tin và hy vọng nơi người Mỹ … chỉ còn có Cụ Giáp còn sống, nên Giáp luôn luôn ở phía Mỹ như vẫn còn là một thành viên OSS trung thành).

(còn tiếp)
vinhtruong
03-17-2012, 02:45 PM
Hoa Kỳ ra mặt bảo vệ VN trong tiềm ẩn

Tháng July/2010 (decent interval roll-back) có chỉ thị sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy: Năm 1995, bắt đầu là ‘điểm-mốc’ sau đúng 20 năm thù địch (1975-1995 hostility) giải thể chế độ CS tại VN thành Bộ chính trị Tư bản Ðỏ qua nghị quyết 36 (mà mọi người Việt đều tin rằng sáng kiến phát ra của CSVN? Nhưng thực ra, Mỹ muốn tạo nên một điều-kiện pháp lý hiệu quả cho các tư bản Đỏ bỏ tiền của qua Mỹ) để thu-gọn cung-cách trao đổi bằng đưa nguyên liệu, nhân công qua tay Trái, rút về bằng tay Phải với dollar Xanh qua trương mục tín dụng ngân hàng thâu gọn trong tay một số ít người mà Mỹ trân quí như “đại-cồ tư-bản Ðỏ” vào các trương mục tại Hoa Kỳ, trong ấy Việt Kiều cũng được đặc-ân dễ-dãi, vui vẻ hàng năm gởi về hàng tỉ dollar, (trong khi Cuba-kiều không được đặc ân nầy) các nước Nhựt, Nam Hàn, Thái Lan, Phi, Mả-lai … cũng vui vẽ giúp Mỹ một tay xây dựng hậu chiến cho VN. Tiền ở đâu mà VN phát triển to thế!? Nhưng họ lại cứ kích-thích truyền thông văn hóa thúc đẩy Việt-kiều mãnh liệt với luận cứ hung-hãn tấn công CSVN hầu che dấu kín-đáo, làm lu-mờ âm mưu độc-ác của WIB về “cuộc bỏ phiếu bằng chân” tạo nên một nghĩa trang vĩ đại nằm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương mà Việt kiều đang trong cơn mê ngũ, hoặc chệch đi mục tiêu căm thù thay vì lò thuốc súng trong ngôi mộ Skull and Bones 322; Tuy nhiên cái đỉnh cao chói-lọi của ngôi mộ nầy cũng chứng minh cho Việt kiều thấy rằng tự bấy lâu nay “What you get what you pay”.

Bà Clinton: Hoa Kỳ khẩn định sẽ vẫn là một cường quốc ở Thái Bình Dương, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói rằng chiến lược hướng tới Châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ sẽ là ưu tiên hàng đầu khi Washington chuyển tiếp ra khỏi một thập niên thực hiện các nỗ lực quân sự nắm chặt vòi xăng ở Iraq, Trung Đông, và roll back July/2010 trở lại cam kết với trách nhiệm cùng các đồng minh tại Châu Á hay nói thẳng ra vì dầu hoả dưới thềm lục điạ của Biển Đông.

Bà Clinton phát biểu tại một cuộc họp của các nhà ngoại giao ở Washington ngày hôm qua rằng tương lai của châu Á sẽ vẫn vô cùng quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ, và rằng toàn các thành phần của chính phủ đang được thực hiện một nỗ lực để phát triển những mối quan hệ mới ở Châu Á/TBD.

Bà Clinton nói rằng Hoa Kỳ đang tăng cường các mối liên minh ở châu Á, phát động các cuộc đối thoại chiến lựơc và các sáng kiến kinh tế mới, tạo lập và tham gia các định chế đa phương quan trọng để nhấn mạnh rằng Mỹ hiện là và sẽ vẫn là một cường quốc ở Thái Bình Dương và sẽ đánh bật Trung Quốc ra khỏi ngôi vị cường quốc số-2 mà do Mỹ đã đưa TQ lên trong những 1970s qua sự yễm trợ tối đa về khoa học kỹ thuật, nhưng càng ngày TQ càng quái quấc, nhưng cũng không qua khỏi khối óc của Bonesmen sau búc tường 322. Vì đơn giản Biển Đông không thể có hai mặt trời cùng mọc vào buổi sáng.
Bà Clinton nói rằng tương lai của châu Á sẽ vẫn vô cùng quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ có nghĩa phải trù dập TQ theo trục lộ đồ Eurasian vào dead line decent interval là 2020.

Trong thế kỷ tới, không có khu vực nào có tầm ảnh hưởng hơn đối với tương lai của Mỹ trong lăng kính của Bonesmen-322.
Trong bài diễn văn về nhiều vấn đề tại hội nghị Trưởng Phái bộ Ngoại giao Toàn cầu, bà Clinton đã phác họa các ưu tiên ngoại giao của Mỹ trong năm tới.
Bà nói rằng các nhà ngoại giao Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tập trung vào các chương trình phát triển bền vững trên toàn thế giới, giúp xây dựng một hệ thống kinh tế công bằng và minh bạch, và cổ vũ cho dân chủ ở Trung Đông cũng như các khu vực đang phát triển khác như Việt Nam và Miến điện.
Trong diễn tiến hoà bình lấy dân-quyền làm ‘điểm’ và kinh tế làm ‘diện’ mục đích là tóm thâu lại các tài khoảng mà tư bản Đỏ ăn cắp từ tiền viện trợ, tham nhũng, cướp của cải của dân để trả lại cho người dân VN bằng hàng tiêu dùng sắp hết hạn, tất cả diễn biến nầy cũng từ mưu đồ sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy nầy trong thế kỷ 21: Thế nên ngôi mộ ra chỉ thị Bà Clinton theo chương trình phải hứa tiếp tục ủng hộ các nhóm tranh đấu cho nhân quyền; Ngoại trưởng Clinton nhắc nhở các nhà ngoại giao Hoa Kỳ về sự cần thiết phải ủng hộ xã hội dân sự và các tổ chức nhân quyền tách rời độc tài và quân phiệt, rồi đây TQ và VN sẽ bắt chước LX đổi lá cờ mới cho thích hợp dân-quyền dân-chủ. Đó là mục tiêu sau cùng của Ngôi Mộ 322 là phục hồi danh dự cho người lính Mỹ hy sinh trên chiến trường Đông Dương và hoàn toàn xoá bỏ “hội chứng VN” (Vietnam’ trauma).

Dân Quyền: Tuy nhiên, biện pháp đem lại hiệu quả cao nhất sẽ phải gây được ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người đưa ra quyết định đàn áp vi phạm nhân quyền thay vì đơn giản là hạn chế thương mại?
Ở vị thế của Hoa Kỳ, những biện pháp này có thể bao gồm ngưng cấp visa du lịch, du học, khám chữa bệnh (điều rất phổ biến ở tầng lớp thống trị hiện nay) cho những đối tượng liên quan trực tiếp đến chính sách nhân quyền ở Việt Nam và các thành viên trong gia đình, hay phong toả tài khoản ngân hàng của những người này ở các ngân hàng Hoa Kỳ, hay vận động hành lang để những chính sách tương tự được thực thi ở các quốc gia phát triển khác.
Bằng cách đánh vào quyền lợi trực tiếp của những nhà cầm quyền, những biện pháp này có nhiều khả năng đem lại hiệu quả cao hơn là hạn chế thương mại chỉ làm khổ người dân? Kinh tế cô lập sẽ chỉ gây khổ cho người dân lao động có phải không các bạn? Vì thế, người viết mong rằng chúng ta nên thông cảm, cũng đừng mong đợi Thượng Viện sẽ cho qua, trong đó phải kể Quân đội VN phải mạnh để không bị TQ thừa cơ làm ẩu?
Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ có thể xem xét một dự luật nhằm trừng phạt các cá-nhân đã và đang lạm dụng nhân quyền tại Việt Nam, nhưng giờ chót khôn hồn thì sắp-hàng sau lưng bà Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Minh Thuyết… thì tài sản sẽ còn nắm trong tay. Mục đích dự luật nhắm tới những người bị xem là đồng lõa trong việc vi-phạm nhân quyền đối với công dân Việt Nam, hoặc thân nhân của họ; Dự luật có tên là “Ðạo luật chế tài (vì) vi phạm nhân quyền ở Việt Nam” được trình Hạ viện bởi “dân biểu” Mỹ gốc Việt đầu tiên, Nghị sĩ Cao Quang Ánh và năm nghị sĩ khác tại Hạ viện là Ileana Ros-Lehtinen, Christopher Smith, Frank Wolf, Ed Royce và Loretta Sanchez. Dự luật cũng được ba “Thượng nghị-sĩ” Sam Brownback, John Cornyn và Richard Burr trình lên Thượng viện; Văn bản trích dẫn điều được mô tả là ‘nhiều vi phạm nhân quyền mà chính phủ Việt Nam gây ra đối với công dân Việt Nam’ và tìm cách áp đặt lệnh trừng phạt đối với cá nhân đồng lõa. Theo thủ tục ngoại giao như hiến định, bốn TNS do Mc Cain làm lead sẽ đem lại hậu quả sau đó không xa từ lúc rời khỏi VN, các bạn chờ xem đã đến lúc mà NVHN chờ mong từ bấy lâu nay giờ đã đến!!!
Trừng phạt có mục tiêu: Các biện pháp trừng phạt bao gồm cả việc bác thị thực (visa) Các tay ăn cướp Mafia nầy không vào Mỹ được, mà chỉ chạy qua Trung Quốc mà thôi. Dĩ-nhiên sau cuộc đảo chánh không có tiếng súng do một thế lực thần-sầu-quỷ-khốc sẽ lấy từ chỉ thị sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy, dùng chiếc đũa thần để biến hoá như tôi đã đoán chắc như vậy, hoặc thanh trừng các giao dịch tài chính hoặc mua bán bất động sản ở Hoa Kỳ, nhưng có điều chắc chắn không có tắm máu.

Trở lại giai đoạn thời OSS, lúc nầy, làm sao Tướng Khuê biết trước được, Tình báo quân đội OSS sẽ biến thể thành CIA và năm 1947 để qua giai đoạn-2 của Eurasian, có nghĩa dời điểm Nóng từ Âu qua Á, bắt đầu cuộc chiến Triều Tiên 1950 và tiếp nối cuộc chiến Việt Nam qua sự chủ đạo của Mỹ [Tam đầu chế W.A.Harriman, Prescott Bush, và Robert A Lovett] tước đoạt trên tay người Pháp để tiếp nối cuộc chiến 1954-1975? Dĩ nhiên Tưởng Giới Thạch và nhóm phái của ông sẽ phải bị cưỡng bức bỏ lục địa chạy qua Ðài Loan 1949 do CIA đảm nhiệm bằng phương-tiện phi cơ CAT. Ðây là cái y chang như Miền Nam sẽ phải di tản bỏ xứ để giao lại cho Cộng Sản (Mỹ giúp Mao và Duẩn trong cái thế “bên kẻ mạnh”) Tháng 10 năm 1949, phản tình báo CIA khuyến dụ Mao Trạch Ðông sau khi chiếm trọn Trung Hoa lục địa, liền tức khắc phát động ngay với đàn em Bắc-Hàn ngang nhiên tấn công Nam Triều Tiên ngày 25/6/1950 với sự hỗ trợ tích cực trực tiếp của Mao từ quân cụ tới nhân lực; đồng thời ngày 10/10/1953 Mao thông báo cho Ủy Ban TUÐ Lao Ðộng VN, Tướng Wei Guoping sẽ là cố vấn quân sự và Tướng Luo Guibo sẽ là cố vấn chính trị cho Cụ Hồ với mục đích “đánh cho Pháp cút, quân đội Lê-Dương nhào” … và Mao sẽ được người Mỹ gốc Tàu yêu nước lội vào lục địa để giúp Mao phát triển nguyên tử với ý-đồ giúp Mỹ chận bước tiến đang mạnh của Liên Xô. Còn Lê Duẩn sẽ chiếm trọn Ðông Dương và Hoa Kỳ sẽ tái thiết và tái lập bang giao qua cái cớ coi cho được (Decent Interval) “Người Mỹ mất tích (MIA) và Chất độc màu Da-cam” để nối lại bang giao sau 20 năm thù-địch (1975-1995) Ðó là thế siêu chiến lược toàn cầu của 6 người nắm vận mệnh thế giới. Khi chấm dứt thù địch, món quà sơ-khởi mà Trung cộng và Việt Nam là củ càrốt Boeing rất hấp dẫn.
Theo như thế chiến lược Eurasian vào đoạn cuối, bây-giờ đã đến lúc là thời điểm “quá độ” của Tập-đoàn lãnh đạo CS biến thái, đảng viên và tay chân thời cơ đang tâm cấu xé đất nước dân tộc để sống điếm đàng huy hoắc. Chúng đang lo ngại cho số phận bấp bênh của họ khi chỗ dựa Hồ Chí Minh đã đến lúc hết còn là chỗ dựa như hòn đá tảng mà là đất bùn trộn với rác-rưởi, theo như mục tiêu sau cùng của thế chiến lược toàn cầu Eurasian của Mỹ. Thế kỷ 21 là hòa bình, hợp tác dưới cái dù của Liên Hiệp Quốc, tất cả những gì xưa nay phía Việt Nam [Hà Nội] đã vi phạm luật quốc tế, (do Mỹ xúi giục trong bóng tối) nay hoàn toàn phải chấm dứt, và trở nên một cường quốc có uy tín để còn là một lực lượng gìn giữ hoà bình cho LHQ.

Ngày nay, với sự phổ biến khoa học kỹ thuật về mạn lưới thông tin, cho nên thế hệ hậu sanh khả quý sẽ hiểu biết nhiều hơn, vì lý do tại sao đã có, và do ai gây ra “CUỘC CHIẾN VN 54-75, hoàn toàn đảo lộn không phải như chúng ta nghĩ, vì ám ảnh cũng như thành kiến đã bị đông đá từ bấy lâu nay. Khi chúng ta đọc xong hai cuốn sách “The New Legion” sẽ thấy rõ đáp số của thế Siêu-chiến-lược thuộc nhóm 6 người nầy, gọi là Eurasian Great Game; Dĩ nhiên Hoa-kỳ phải là số 1 nhưng số 2 là Liên Xô trong tầm ống kính của tập-đoàn 6 người nầy đã quyết tâm chỉ định như vậy. Harriman khai thác tài thao lược của giáo-sư George F Kennan, Giám đốc kế hoạch về chính sách của Bộ ngoại giao và chuyên viên lão thành về Liên-Xô-Vụ thiết kế; Ðó là nguyên nhân chính của WIB muốn Hoa Kỳ trực tiếp quản lý chính sách phong tỏa tại Ðông Dương, nên bằng bất cứ giá nào cũng phải khuyến dụ Pháp bị sa lầy tại Ðiện Biên Phủ hầu dùng Việt Minh làm đòn bẩy đẩy vĩnh viễn Pháp ra khỏi Ðông Dương như OSS đã có lời cam-kết với Cụ Hồ Chi Minh 1943 và nhắc lại một lần nữa 1945 tại mật khu Pat-Pó [hình giải mật Allan Squires 1945].
Ngày nay, với sự phổ biến khoa học kỹ thuật về mạn lưới thông tin, cho nên thế hệ hậu sanh khả quý sẽ hiểu biết nhiều hơn chúng ta, vì lý do tại sao đã có, và do ai gây ra cuộc chiến tương tàn cho đến 30/4/75 được Rumsfeld đạt cho cái tên là April cruel”.

Vì đề-mục có hạn, nên người viết chỉ quanh co gói trọn trong phạm vi hai cuốn sách: Cả thế giới làm sao quên được là năm 1957, Liên bang Xô-Viết từng đề nghị 2 chính phủ đương đại của VN cùng được gia nhập LHQ, không kể Trung quốc cũng thích sự hiện hữu của 2 nước VN. Thật đã rõ ra ngoài 2 Cụ Hồ và Diệm cùng đồng lòng với các thành phần tham gia hội nghị Geneve 1954, đều một mực thiên về cách giảm thiểu nguy cơ đụng độ toàn cầu; Thế nhưng cái gọi là “đỉnh cao trí tuệ” vì quyền lợi của bọn đại tư bản đã không chịu ký mà còn khuyến dụ “con nợ” Liên Xô phải khuấy động chiến tranh bằng cách chỉ có sản xuất vũ khí cùng Mỹ nhưng không cần đem quân tham chiến như trước đây ở Triều Tiên, trong khi công nhân Liên Xô cần có công ăn việc làm sau thế chiến vì quá dư thừa nhân lực, còn nguyên vật liệu thì từ Mỹ sản xuất như truyền thống đã có từ tháng 10/1917 cách mạng Nga.
Thế nên chúng ta phải khẳng định: “Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi của người Việt Nam mà vì quyền lợi của WIB (War Industries Board), bọn tư bản thống lảnh nước Mỹ; và nền dân chủ của người Mỹ biểu dương khi can thiệp vào Việt Nam, dù nền dân chủ đã định nghĩa theo quyền lợi của tập đoàn tư bản Mỹ, [American First] một thứ phó sản làm bình phong để thực hiện sách lược chia để trị, mua chuộc, tài trợ cơ quan ngôn luận, báo chí địa phương, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, rối loạn trật tự như chính tình miền nam xưa, còn bây giờ toàn cõi VN… để dễ bề khuynh đảo và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính, ám sát lãnh tụ quốc gia đó bằng dollars qua bàn tay cũa bọn tay sai bản xứ…chính sách viện trợ, hoặc bồi thường hậu chiến hoàn-toàn bằng hàng tiêu dùng, bằng hàng thặng dư hồi thế chiến-2 (Súng Guarant, Carbin M-1 cho đến 1968; trong khi khối Cộng sản viện trợ súng tự động AK-47 từ 1964, nhưng lại muốn khi hoàng tất “axiom-one”, người Việt chạy qua Mỹ đem theo trương mục, vàng, hột xoàn và dollar xanh để phải trả giá cho vũ khí M-1 nầy).

Ðể rồi tại sao … tại sao! Sau thế chiến-2, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thâu hồi độc lập toàn vẹn mà không phải tốn đến giọt máu nào; Ngày đó, chúng ta có đủ các yếu tố khách quan của tình hình thế giới hầu thu hồi độc lập trong xu hướng giải thể chủ nghĩa thực dân ‘decolonization’ trước sau như vết dầu loang đứng trước nguy cơ tranh chấp của các siêu cường, giữa Ðức quốc xã, Quân phiệt Nhựt và Cộng sản trong quỷ kế dự mưu của 6 người trên. Nhiều nước bị trị đã giành lại độc lập mà không cần mang sinh mạng người dân ra thế chấp; Nhưng trái lại Việt Nam đã trở thành một quốc gia bất hạnh nhất thế giới, một [B]“nghĩa trang” vĩ đại trong lịch sử loài người nằm sâu dưới đáy biển Thái Bình Dương mà cái thế lực trong bóng tối không dám dựng lên một cuốn phim thời cuộc sống động, trong khi cuộc vượt biên tương đối an toàn từ Bắc vào Nam dọc theo bờ biển thì cái gọi là đỉnh cao trí tuệ đã tài trợ một số tiền to cho cuốn phim để đời “Chúng tôi muốn sống” do một phi công trực thăng tài giỏi, tài-tử Lê Quỳnh đóng vai chính, có sự cố vấn kỹ thuật của chuyên viên Phi luật Tân làm cho cuốn phim gây xúc động nhân loại? What’ the hell different? Chiến địch “bỏ phiếu bằng chân” (Tôi viết ra đây để cảnh tỉnh người Việt mình có nên câm thù nhau nữa không, sau khi đọc hết 2 tác phẩm của tôi cùng phụ hoạ với vô số tài liệu phải giải mật với chứng cớ hiển nhiên không thể chối cãi được đang từ từ mỗi ngày hé ra, nhé cạnh trên Internet, Youtube, điển hình là cụ Hồ muốn được cremated nhưng phải bị ướp xác để không được “siêu-thoát”?)
Trong khi Pháp cũng đồng quan điểm với trào lưu thế giới, nên ngày 8/3/1949, tại điện Élysées, Paris: Theo ký kết giữa tổng thống Pháp Vincent Auriol với vua Bảo Ðại, trong đó nước Pháp công nhận VN được độc lập, thống nhứt trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp nhưng có được với Mỹ từ sau bức tường Bonesman-22, William Averell Harriman?
Do đâu sinh ra ý thức hệ Cộng sản và Tư bản để hậu quả phải nhận lấy cuộc chiến ủy nhiệm dưới áp lực của trục Ma-Quỷ Mỹ-Xô đưa tới một cuộc chiến kéo dài 30 năm với hậu quả vô cùng tàn khốc mà thế giới cho rằng cuộc chiến VN giống Iraq [giai đoạn 3 của chiến lược “Eurasian”] Nhưng có một điều tuyệt đối giống nhau là kẽ tử trận của hai bên khi lật ngữa ra nhìn mặt đều là người bản xứ, chỉ khác là cây súng không phải do nước họ làm ra. Dân tộc Việt phải nhớ và nguyền rủa cái Tập đoàn tư bản từ trong Hội đồng kỹ nghệ chiến tranh (WIB) đã quyết đưa cuộc chiến Việt Nam lần thứ 2 (1954-1975) bằng chương trình CIP (Counter Intergency Plan), làm cho nhân dân 2 miền phải còng lưng hứng chịu 14 triệu tấn Bom, không ngốc đầu lên được để thấy ánh mặt trời, để sánh vai song hành, hưởng cơn gió mát phồn vinh cùng mọi dân tộc tự do trên thế giới. Dân tộc Việt đã là nạn nhân thãm khốc trong cuộc chiến tranh hủy diệt và tuyệt kỹ của bọn WIB; Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến kéo dài, đẩm máu, tàn khốc nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại; Cuộc chiến mang nhiều tính chất bi thảm và hài hước, cho tới bây giờ vẫn được nhắc đến và gây nhiều tranh cãi sôi nổi: Nó bi thảm, bởi thế giới có ý muốn phủ nhận chính nghĩa cuộc chiến đấu để tự vệ của dân miền Nam vì sự xảo quyệt tinh vi của Tập đoàn WIB đem trên nửa triệu lính Mỹ vào Việt Nam mà không có ai mời, hầu tạo nên quân đội xâm lược tước đoạt chính nghĩa của người dân Miền Nam bằng cách thảm sát TT Ngô Đình Diệm. Nó hài hước vì chỉ còn lớp trẻ non choẹt (lớp già đã chết gần hết) nhưng đạn dược thừa thải để chiếm lĩnh miền Nam, trong khi lính VNCH không còn viên đạn để chống đỡ, cuộc tương tranh rõ ràng không đồng cân đồng sức và bị đồng minh qua lũ Skull and Bones chủ đạo bội phản trắng trợn.

Trong Nam Cụ Diệm cương quyết không cho quân Mỹ vào với bất cứ hình thức nào, còn ngoài Bắc, Cụ Hồ không muốn gây thêm chiến tranh cho người dân lầm than, vì quá nhiều khó khăn tàn phá sau chiến tranh, cầu cống xụp đổ tan hoang, hạn hán, bảo lụt mất mùa, thêm vào sự lỡ lầm làm cách mạng ruộng đất bị thất bại, làm nhân dân Nghệ An nổi dậy chống đối. Trong bối cảnh nầy, Cụ Hồ quyết định qua bút tích “Miền Nam độc lập, trung-lập và giàu mạnh” Có nghĩa là không đụng đến Miền Nam, (những tài liệu nầy quí bạn có thể bất chợt tìm thấy trên Internet) với mong Miền Nam sẽ phồn vinh chỉ đứng sau Nhựt và sẽ “hiệp-thương” sau đó, Cụ Hồ ra lệnh rút 100.000 quân về Bắc. Thế nên Miền Nam được hưởng một sự thanh bình tuyệt đối từ 1954 đến 1959 (Stanley Karnow: VN Viking, New York, 1983, page 225)
Vì lý do khắc-nghiệt tối quan trọng là cụ Hồ không muốn khuấy động lại chiến tranh, dù rằng Cụ Hồ là thành viên OSS 1943 và Võ Nguyên Giáp là thành viên kết nạp tại Pat-Pó 1945 [Những sự kiện nầy hoàn toàn che dấu không thấy nhắc nhở trong cuốn DVD của Linh Mục N.H.Lễ] nhưng trục Ma-Quỷ nầy không còn cách nào hơn buộc phải thay ngựa giữa dòng bằng Tam đầu chế Lê-Duẩn, Lê Ðức Thọ, và Mai Chí Tho. Hậu-quả, Ðại hội Ðảng thứ 15 vào tháng 4, 1959 chỉ định Lê-Ðức-Thọ vào Nam thế Lê Duẩn về Hà Nội làm Quyền tổng bí thư và Mai Chí Thọ mới là siêu-Mafia nắm quyền sanh sát trong tay và hằng ngày lo trông nôm Cụ Hồ tưới cây Vú-sữa miền nam, giết hại vợ con Cụ. Cụ Hồ không còn quyền hành mà là bức bình-phong hiện ra trong những nghi lể tiếp khách ngoại giao như là người máy biết nói; Vì thế Cụ Hồ được khâm-phục không phải vì sự thắng lợi mà vì sự phản bội của Mỹ [War Industries -Board].
Do áp lực của trục Ma-Quỷ tháng Năm Hà-Nội thành lập Ðoàn 559, tháng Bảy thành lập Ðoàn 759, và tháng Chín thành lập Ðoàn 959. Còn chủ-trương và đường lối phải đợi phía chủ-nợ Mỹ cho chỉ thị qua KGB- Ngay lập tức điệp viên 19 Lucien Conein và Russel Flynn Miller báo cáo Washington phát động sách lược “Commando Vault”, Second Indochina Wars. Kể từ tháng 4/1959 đánh dấu khúc quanh lịch-sử nhắm vào đại hội đảng thứ 15 cho đến ngày bàn giao Saigon cho Hà Nội không tắm máu, không thành đống gạch vụn, và Tổng thống VNCH đuổi Mỹ. Ðây là điểm mốc thời gian hoàn thành định-đề-1 [axiom-1: 30/4/1975]

Ngày 21/9/1960, tại Washington, HÐANQG (National Security Council) họp ra quyết định:
-Phát chuẩn đưa lính Mỹ qua Nam VN, thiết lập Huy chương Chiến-dịch tham chiến tại Viet Nam 1960.
Ðể giải nghĩa rõ ràng về cuộc chiến nơi khuôn viên học đường cho thế hệ thanh niên thông suốt với 3 đáp-số dưới đây, trước khi phát động cuộc chiến:
– 1) There was never a legitimate non-communist government in Saigon (sẽ phải giải thể VNCH).
– 2) The US had no legitimate reason to be involved in Vietnamese affairs (phải tạo ra biến-cố Hà-Nôi khiêu khích để “trả-đũa” không có “tuyên-chiến”, để sau nầy thuận-lý rút lui trong “danh-dự” Thế là “Gulf Tonkin Incident” xảy ra 1964 và đưa quân Mỹ vào 1965 bằng 2 Tiểu đoàn USMC.
– 3) The US could not have won the war under any circumstances (Hoa-kỳ sẽ rút danh dự bằng Hiệp định Hoà-bình Paris 27/1/1973, nhưng sự thật Mỹ đã rút từ lâu, chỉ riêng trong chiến dịch Lam-Sơn 719, 1971, họ đã rút 60.000 quân. (Hà-Nội không hiểu chữ Decent Interval là thời gian coi cho được, hay thời gian hửu lý, nên đem nướng 100.000 quân trong mùa Hè đỏ-lửa-72 thay vì phải đợi có Hiệp định hoà bình tại Paris 1973 đễ danh chính ngôn thuận. Nói cho cùng thì cũng tội nghiệp cho tay sai gián tiếp Hà Nội, làm sao họ hiểu được mục đích của Tướng Pavel Batìtski qua Hà Nội đầu tháng March/72 là để kiểm kê (Inventory) số chiến cụ lỗi thời phải xài cho hết để nhận 700 triệu tấn vũ khí tối tân hơn sau khi ký hiệp định Paris 1973. Thế nên vì không hiểu quỷ-kế nầy, Tướng Võ Nguyên Giáp liền phát động tổng khởi nghĩa ngày 30/3/1972 sau khi Batitsky rời Hà Nội, hậu quả Tướng Giáp phải thân bại danh liệt giao lại cho Tướng Văn Tiến Dũng nắm quân đội).

Bây giờ tới phía công cụ gián-tiếp của Mỹ là Hà-Nội cho ra đời MTGPMN ngày 20/12/1960 để thi hành những mật lịnh từ sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy bằng 3 đáp-số trước khi quân tác-chiến Mỹ chưa dẫm chân vào Nam VN:
– 1) quyết tâm chống lại ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ
– 2) Vì chế độ kềm kẹp khát máu Mỹ/Diệm
– 3) Quyết tâm đánh cho Mỹ cút ngụy nhào

(còn tiếp)
vinhtruong
03-24-2012, 02:41 PM
Tung hỏa mù từ Wikileak qua youtube

Vì đã đến thời-điểm decent interval hoàn thành mục tiêu, nên từ ngôi mộ chôn dấu nhiều bí ẩn sau bức tường Skull and Bones 322 conspiracy, nay đã đến lúc phải nói toạc móng heo ra bằng đòn phép từ wikileak qua internet: là cả hai miền Nam Bắc đều là công cụ trực-tiếp hay gián-tiếp cho mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ đó biến dần theo thời gian như:

– Tại Việt Nam, Mafia phải bớt ồn-ào láo-khoét đánh cho Mỹ cút ngụy nhào đi

– NVHN nên chấm dứt biểu tình đả đảo CS… lộn mục tiêu rồi, VN chỉ là Mafia đội lốt CS nên mới được phép làm ăn theo đúng hiến pháp, cũng như những điều kiện bạn thi vào công dân Mỹ? Tại sao Cuba-kiều không được gởi tiền về xứ thoả mái như Việt Nam?

Đây là đòn phép chính trị “Kill two birds with one stone’ strategy” Những chuyện ruồi bu từ nửa thế kỷ đến nay, bây giờ 2 bên nên chấm dứt, rồi đây nó sẽ tan dần và mất dạng như cục nước đá để trước sân!!!???

Nếu các bạn đã xem qua chứng liệu Video trên Internet, sau bức tường “Skull and Bones-322 conspiracy” mà những chính trị gia gộc cho là “Secret Society” thì đã nhận rõ chân tướng của Bonesman (Bush cháu nội) cần đáng phải để ý là Thái tử George W Bush, người nầy là thế hệ thứ ba từ 2 dòng tộc Bush và Harriman; Chính hai dòng họ nầy bám trụ đại học Yale từ đời nầy qua đời nọ, họ cho rằng đây là chỗ tựa căn bản, là bức tường thành để nắm chặt chính sách Mỹ (policymaker) trong tay và thực thi siêu chiến lược Eurasian từ 1920-2020. Mà từ ngôi mộ nầy (secrets of the Tomb) nơi đây tôi chỉ nhấn mạnh Thủ lãnh Bonesmen là W A Harriman, người sáng lập ra CIA 1947, thoát thai từ OSS cho kế-hoạch Surrogate, để “đổi màu da trên xác chết” bằng cách di chuyển “điểm nóng” từ trung Âu (Đức) qua Á Châu, và Prescott Bush là chủ tịch War Insdustries Board, là lò thuốc súng tàn ác nhứt khuấy động chiến tranh khắp thế giới để kiếm lợi nhuận bằng món hàng giết người.

Vì thế trong quá khứ, nếu chúng ta cho đây là tư tưởng đứng đắn của một thành- viên OSS nhận xét tìm ẩn qua Bonesman-22 (W A Harriman) cho là đúng, thì thông dịch viên Henry Prunier pointed out in 1968 that Ho Chi Minh believed the U.S. “would help him in throwing out the French and in establishing an independent country” In 1945, hình giải mật: translator Prunier (far right) and Major Allison Thomas (center) got to know aspiring nationalist leaders Ho Chi Minh (left) and Vo Nguyen Giap (in suit) better than any American before or since. (Photo courtesy of David Thomas)

Nhưng trong thế siêu chiến lược nhóm Bonesmen cần phát động lại chiến tranh lần 2 nên đành phản bội HCM (trích một đoạn trong tài liệu internet – News and Document archive source Originally Posted by Bonesmen) If the American’s had kept the promises given to HCM by the Team Deer people the whole history of the Far East might have been a different Kettle of Fish. There was a recent program on one of the history Channels where they interviewed members of Team Deer and they all agreed. The world began to enter the Cold War between the two blocs led by the Soviet Union and the USA. Both sides advocated liberation of colonies to win them over…

Làm sao trả lại sự thật cho lịch sử khi cái Tập đoàn thống lãnh Bonesmen nầy thừa khả năng bóp méo sự thật qua truyền thông văn hóa bao trùm khắp nơi trên thế giới; nhưng đến ngày sự thật phải lòi ra dưới ánh sáng như TT Kennedy bị tới 2 người bắn, nhưng phải đợi sau một thời gian cần và đủ mới đưa ra ánh sáng! Đến thời gian coi cho được [decent interval] nhưng Bonesmen rất khôn ngoan không để cho sự nghi kỵ giữa hai cơ quan FBI và CIA có sự nghi-ngờ hiềm khích lẫn nhau, chúng đã tỏ bày mướn Mafia chuyên-nghiệp ám sát anh em Kennedy để khai thông xa-lộ Eurasian.

Biến cố nầy cũng có ngày khi mà các sử gia hậu cận-đại Hoa kỳ lý giải, hay bạch hóa giữa sự khác biệt về 2 vị Tổng thống Richard Nixon và Thái-tử George W Bush dựa vào hiến-luật có quyền tự ân xá cho chính mình: Sử gia sẽ thuyết giải rõ rệt về một vị tổng thống chỉ nghe lén [Watergate] mà phải từ chức trong khi Nixon có quyền tự ân xá cho mình, so với trong lịch sử Hoa Kỳ chưa có vị nào sau khi ứng cử phải đợi một thời gian khá lâu chờ Tối Cao Pháp Viện quyết định; Một TT đã lừa gạt dân chúng và Quốc hội khi gây chiến với Iraq (vi phạm hiền quyền Power-Act chỉ dành cho Quốc-hội) bằng sự vu cáo Iraq có vũ khi giết người hàng loạt; Một vị TT có số ủng hộ của dân ít nhứt trong lịch sử Hoa Kỳ, có thành tích abuse of privilege, draft-dodging Vietnam, và đồi trụy thiếu phẩm cách là ‘a cocaine habit’ … nhưng vẫn hiên ngang ngồi trên chiếc ghế quyền lực nhứt thế giới cho đến cuối nhiệm kỳ … tại sao? Có lẽ quí vị đã xem Video, tìm thấy sau bức tường Bonesmen 322 là những nhân vật nào? Và trong 2 tác phẩm “The New Legion” đã giải rõ các tên tuổi tội phạm chiến tranh khác với tài liệu giải mật bị bôi bằng mực đen trong các chứng liệu mật declassified.

Trong Năm 1941 Harriman giúp đỡ Hitler qua công ty hỗn hợp Hamburg-Amerika, tờ báo New-york Herald Tribune đăng trang 1 “Hitler’s angel has $3 million in US bank”. Tại sao Harriman chơi với kẻ thù!? Xúi Hitler xâm lược Liên Xô qua sự giúp đỡ ngầm của WIB do Chairman Prescott Bush (bất cứ cuộc chiến nào CIA cũng âm thầm trợ lực bên phía đối nghịch để thủ lợi mà nôm na chúng ta gọi là: đòn sóc hai đầu của Tình Báo Quân Đội OSS, nhưng đối với Bonesman-22 là thế bên kẻ mạnh “on the strong man side” cho chắc ăn) để góp phần với phe địch trong chủ trương bá-đạo của Harriman là không có người bạn lâu đời cũng như không bao giờ có kẻ thù truyền kiếp, quyền lợi trên hết, America First xác định thế liên minh! Chơi với ma-quỷ thì phải lấy cái đảng hội “Skull and Bones” làm vũ khí, Vì đi với Bụt thì mặc áo Cà-xa, nhưng ở đây đi với Ma thì mặc áo giấy! Gentlemen thông cảm!… như thái-tử Bush vẫn hiên ngang ngồi trên chiếc ghế quyền lực nhứt thế giới cho đến cuối nhiệm kỳ thì làm gì nhau … tại sao? Có lẽ quí vị sẽ tìm thấy sau bức tường Bonesmen 322 là những nhân vật nào trong đó!!!???

Khi Bonesman-22 dùng triết học Socrate (a great Greek philosopher 399-470) quăng cục xương Indochina ra cho 2 con chó CS, thì chúng nó tha hồ mà giành nhau cấu xé, cho đến khi nào giành được khúc xương mới thôi, thế nên những biến cố dưới đây phải có xảy ra:

– Ngày 9, June, 1967 một cuộc xung đột dữ-dội xảy ra giữa LX và TQ, trong khi LX không muốn đồ viện trợ từ LX xuyên qua biên giới TQ phải được khằn-kín lại thì TQ không chịu mà bắt buộc để TQ mở ra khám xét để cọp-dê kỹ thuật. Đó là lý do Lê Đức Thọ ngầm báo cho W A Harriman biết: “Nếu có khó khăn như vậy … thôi chúng tôi nghỉ chơi” Harriman lên cơn sốt di-ứng kinh hoàng vì muốn nuôi dưỡng chiến tranh, bèn nói nước nhỏ “Thôi tạm thời chúng tôi cho C-130 thả dù tiếp liệu xuống đường mòn HCM …” (tài liệu thả dù hoả tốc, nên chưa bôi kịp những thùng cây có chữ Handle with care bị phóng viên Đông Âu chụp được, hình trang 95 “The New Legion”, Vol-1)

– Mậu thân 1968 Tet-Offensive, Quân lực VNCH vũ khí bắn từng viên một (garant-M1 với kẹp đạn 8 viên) trong khi quân BV có AK-47 bắn liên thanh, nhưng vẫn bị VNCH đánh bại hoàn toàn trên tất cả mặt trận làm ngạc nhiên các Bonesmen trong ngôi mộ-322. Secret society nầy, bèn dùng nhà truyền thông đang lên Walter-Cronkite bôm tinh thần Hà Nội bằng: “Quân BV vẫn thắng trận về mặt chiến lược và cuối cùng sẽ đem chiến thắng toàn vẹn, cùng phụ hoạ với các cái loa nổi tiếng được thuê mướn như Bill O’Reilly, Dan Rather, nói láo khoét cách nào miền để cho Hà Nội chiếm miền nam bằng thực thi axiom-1.

– November 1970, có sự bàn giao giữa thế hệ thứ-1 qua thế hệ thứ-2, (từ W A Harriman qua George H W Bush) thình lình US force đáp xuống Sơn Tây để cứu tù binh, nhưng nhóm phản tình báo trong ngôi mộ đã cho Hà Nội biết để di chuyển tù binh nhưng lấy cái cớ vùng nầy sắp có trận lũ lụt. CIA/KGB có lý do để áp lực Hà Nội tập trung các tù binh vào một chỗ để được an toàn và có chế độ ăn uống khá hơn, vì có những bức thư của tù binh Mỹ được thoát về Mỹ, POW than phiền ngày nào cũng bị cho ăn Cỏ, vì POW không hiểu rau muống là rau-cải của người Việt, nên họ cho là Cỏ làm xúc động các thân nhân, đồng thời CIA áp lực KGB đừng để Hà Nội đem POW nhốt vào những gầm cầu chiến lược, nhà máy điện… để Mỹ không dám oanh tạc. Đổi lại Mỹ không thả bom runways để cho LX có thể chuyên chở các đồ điện tử phòng không bằng vận tải cơ khổng lồ AN-12 và giữ an toàn các đường runways cho Mig-21 lên cùng tập với Mỹ Dog-Fight với mục tiêu sau hậu chiến Mỹ sẽ làm gương ‘hoà hợp hoà giải’ trước giữa 2 kẻ thù trên bầu trời và không lý do gì người Việt với nhau không hoà giải đưới đất?

Để rồi có Khách Sạn tên là Hilton, nơi tập trung các POW Mỹ xuất hiện.

– Đầu năm 1970, cựu chánh án Justice Department Ramsey Clarke, Jane Fonda, David Ifshin đã có mặt tại Hà Nội như là vận động viên Vietnam antiwar protester, nơi đây David Ifshin cảnh cáo qua vô tuyến: Hoa Kỳ dính líu vào tội ác chiến tranh đến các loa chuyển khắp cả trại Hilton nơi đây các POW rất lấy làm bất mãn ấm ức co ro trong các thành tường chật chội và cô đơn. Họ đã chịu biết bao khổ hình chỉ vì không muốn viết bản tự-khai những gì mà họ không muốn trong phạm vi tù tội với điều khoản tù binh ấn định theo điều khoản Genève POW code of honor.

– Ngày 21, November 1970, cô đào Hollywood, Jane Fonda at University Michigan, audience-2000 students “If you understood what communism was, you would hope, you would pray on your knees that we would some day become communist.” Nhưng thực tế Hoa Kỳ là tổ sư Cộng Sản nhưng họ lấy chữ toàn trị, slogan totalitarianism khác đi.

– July 1971, Ping pong ngoại giao qua trung gian mediator President Yahya Khan, Pakistan, Henry Kissinger có một cuộc gặp kín giữa thủ tướng China Zhou Enlai để cho một cuộc họp thượng đỉnh giữa Mao Zedong and Nixon, vào ngày February 21, 1972 mục đích bình thường hoá bang giao Mỹ/Tàu.

– Ngày 20, June 1972, Henry Kissinger gặp Zhou Enlai, bàn thảo về những sự kiện ba nước Đông Dương. Ngay sau khi quân Mỹ rút lui, người dân ba nước Đông Dương hoàn toàn định đoạt thể chế chính trị cho riêng họ mà Hao Kỳ sẽ không còn dính dấp gì nữa (Có nghĩa vào nhà người ta làm ngập hầm cầu rồi bỏ rút ra).

– Ngày 23, August, 1972, Nixon đang thanh thản lên các diễn đàn trong mùa tái ứng cử với lời hứa rút quân Mỹ đang tiến triển tốt đẹp, nhưng Nixon có biết đâu sau bức tường Skull and Bones đang ra lịnh công cụ Richard Helms ngụy tạo ra vụ Watergate để đẩy Nixon rời khỏi chiếc ghế quyền lực? Không biết Nixon có nhớ hiểu trong mùa tranh cử đầu tiên, công-cụ Kissinger đã bị ngôi mộ nầy bảo phải đã phá hết mình ứng cử viên Nixon như hồ sơ dơ-bẩn “dirty-file”, nhưng dù ai thắng cử cũng phải chọn Kissinger là Trưởng NSC và kế là BTNG để thi hành mưu đồ chiến lược của Bonesmen.

– Ngày 14, November, 1972 Nixon gởi TT Thiệu: President Nixon’s message “… I repeat my personal assurances to you that the United States will react very strongly and rapidly to any violation of the agreement.” (Theo lịnh từ ngôi mộ: WSAG should proceed to initiate a scandal Watergate, prying his seat off power out of US government for being his “pledges letters” to President Thieu no longer valid)

– Ngày 27, January, 1973. Vì các cuộc biểu tình quy mô, nó cũng nằm trong thời điểm Bonesmen phải dùng chúng để khủng bố chính quyền Nixon qua ngôn từ đã đến lúc người dân Mỹ quá mỏi mệt cho cuộc chiến quá dài, và …

“… Nixon tiếp, tôi sẽ gởi Phó TT Agnew qua với lời cam kết như tướng Haig đã nói với ngài, đến Saigon để bàn thảo chương trình viện trợ hậu chiến … (Làm sao TT Nixon biết được, trước tiên ngôi mộ nầy sẽ loại Phó TT Agnew và thế vào Gerald Ford, chủ tịch quốc hội theo đúng hiến pháp, vì Harriman không muốn tái diển cái cảnh ông Phó lên thế như TT Johnson lại đi theo vết xe của người tiền nhiệm, mà để một TT không có dân bầu sẽ dễ xỏ mũi hơn)
Bây giờ chỉ chờ đợi đến thời điểm decent interval vụ Watergate scandal là vô hiệu hoá các bức thư riêng tư từ TT Thiệu với Nixon sẽ không còn giá trị khi Nixon rời khỏi chiếc ghế quyền lực. Chơi đòn phép chính trị nầy thật thần sầu quỷ khóc huyền biến do lịnh từ secrets of the Tomb!

Tôi (Nixon) thành thật tỏ bày với ngài (TT Thiệu) những bảo đảm dưới đây:
– Trước tiên, Hoa Kỳ nhìn nhận chánh phủ của ngài là duy nhứt là chính phủ VNCH
– Thứ-2, Chúng tôi không nhìn nhận bất cứ quân đội ngoại nhập nào còn ở tại Nam VN
– Thứ-3, Hoa Kỳ sẽ phản ứng ngay và cực mạnh nếu có ai vi phạm những điều khoản đã ký

-Để có thêm nhiều chi tiết chứng minh Kissinger chỉ là cái loa phát thanh của Bonesman-22, mà các Sến làm chính trị cứ oang oang kết tội Kissinger, như George H W Bush bắt đầu nhiệm kỳ Nixon (Bush-Cha thế hệ-2) người nắm vận mệnh thế giới, trước khi bàn giao, một cuộc họp bí mật giữa hai nhân vật William Averell Harriman và Lê Đức Thọ ở một nơi ngoại ô Paris 1968 … hậu quả: Ngày chết của HCM thật ra chưa ai quyết định vào ngày nào? Nhưng điều chắc chắn là HCM phải có lời ghi âm tuyên bố về vụ Tổng công kích trong dịp Tết Mậu Thân-1968 và năm sau mới có tin tức là HCM thật sự chết?

Tháng 11/1972, Kissinger tuyên bố “Peace is at hand” nhưng Thọ tỉnh bơ vì Thọ biết tháng sau sẽ có cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ trên không với B-52/Linebacker-II campaign

– Ngày 8, July 8, 1972, Jane Fonda arrived to Hanoi by Russia Aeroflot airline– She left the United States to French. From French to Moscow by Aeroflot and secretly fly to Neutral Laos and from Laos fly to Hanoi. At Hanoi, she seat on a position of gunner of antiaircraft made by Russia to shot US fighter side be side with AAA gunner. She praised the communist. She wore the Red “ao-dai” Vietnamese dress with the Red Color proclaimed “I feel shame the US into doing something like inhumanity” (Câu nầy sẽ được Bonesmen ra lịnh nửa thế kỷ sau thằng bé Obama phải vinh danh bà Fonda là 1 trong 100 phụ nữ được vinh danh của thế giới).

– Kissinger gởi gấm người bạn thân Nguyễn Xuân Phong trong phái đoàn VNCH, Thọ vẫn bắt nhốt như thường nhưng thả ra sớm hơn, cũng vừa đủ thời gian tù để đi dạng HO tiếp nối ODP. Giải hoà binh Nobel sẽ thưởng cho Kissinger, còn Thọ phải lo chiếm miền nam và Cambodia nên không thể nhận theo lời yêu cầu của W A Harriman …

Lính Mỹ vào VN bằng Incident Gulf of Tonkin 1964, rút ra bằng tác phẩm đặt hàng “Khi đồng minh tháo chạy” chớ còn có chưa tới 100 lính Mỹ gác những nơi quan trọng, thì đánh đấm cái đếch gì mà không chạy? (còn lần nầy do sự tự nguyện của Báo Người Việt cho in ra cuốn sách có 62 chuyện Wikileaks có dính vào VN, tuyên truyền dùm Bonesmen với giá Free, thế là Sến Chính Trị đua nhau mua đọc) và với công hàm danh chính ngôn thuận cuối cùng của tổng thống VNCH 72 tiếng là đuổi Mỹ trong vòng 24 tiếng đồng hồ theo đúng như phóng đồ lịch trình đã thiết kế của George Kennan, người Mỹ ra đi không ràng buộc trách nhiệm gì cả … nhẹ re như bò kéo xe!!!

QUEENBEE-ONE
vinhtruong
06-02-2013, 06:56 PM
Tại sao người Việt hải ngoại muốn Việt Nam phải trở lại CPC? Nếu VN trở lại CPC thì sẽ không bao giờ là thành viên Khối TPP! Có là thành viên TPP thể hiện rõ rệt là một “nước VN không cộng sản”. Bởi thế nên Bonesman John Kerry phải ngồi chần dần nơi Thượng viện để chận lại bất cứ Nghị-quyết nào làm hại VN! Và nếu rời chiếc ghế ngăn chận nầy thì Kerry sẽ không giữ bất cứ chức vụ nào trong chánh quyền ngoài chức Bộ trưởng ngoại giao để tiếp tục chận nữa: Bằng chứng Kerry vừa tuyên bố: “Việt Nam có tiến bộ về tôn giáo” để mong VN trở thành thành viên TPP. Như tôi đã viết trong bài “TT Nguyễn Tấn Dũng sẽ tự ý xuống” (bài thứ 12 ngày 22/12/2012) với lời tựa “Phải chọn Kerry thế bà Hillary” (xin check lại ngày giờ để xác định) và đoán trước đại hội-6 và -7 chiếc ghế quyền lực của Dũng vẩn vửng như bàn thạch. Vì chỉ có một mình Dũng là biết chắc Việt Nam không còn cộng sản nữa, mà phải trả lại Hiến pháp 1946/HCM, cũng như chỉ có một mình Sáu Búa Lê Đức Thọ là biết trên 10.000 sỉ quan viên chức miền nam bị đày ra vùng rừng núi tây bắc BV là những người ưu tiên đi Mỹ sau diện ODP, Con Lai, rồi HO. Chúng ta không nên lầm lẩn chính quyền Mỹ là chống cộng trên mặt nổi, còn Secret Society nắm chính-sách, Việt Nam là con Ó-Con phải được bảo vệ để gìn giử quyền lợi Mỹ từ bên kia Thái Bình Dương. Vì thế cho nên Old Crocodile mới giết 2 anh em Kennedy và Diệm và hù doạ không cho TT Johnson tái ứng cử ky-2 vì tội cản trở siêu chiến lược Eurasian.

Mốc thời gian theo kế sách chuẩn bị thời điểm Roll Back 2010.
10 Sĩ Quan CSVN Lên Thăm Mẫu Hạm Mỹ George Washington cùng ngày, và sẽ thăm dài dài khi HKMH chạy ngang qua. Hải Quân TQ Diễn Hành dương oai diệu võ tại Biển Đông, các sĩ quan cao cấp của quân đội VN thăm tàu sân bay Hoa Kỳ, theo bản tin đài VOA hôm Thứ Năm 23-4-2009. Điều đặc biệt, những ngày vừa qua cũng là ngày Hải Quân Trung Quốc diễn binh lớn ngoàì Biển Đông để kỷ niệm 60 năm thành lập Hải Quân TQ. Chưa rõ sự trùng hợp này có ý nghĩa nhắn nhủ gì của Bắc Kinh… mà chắc chắn Mỹ sẽ dùng VN, cái nước ưa chịu đánh đấm, mà thật đánh đấm rất giỏi mới có thể làm cho TQ chùn bước, mà mục tiêu Mỹ dành cho VN là căn cứ tàu ngầm nguyên tử tại đảo Hải Nam.

Bản tin VOA cho biết đây là lần đầu tiên các sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam đã thăm một tàu sân bay Hoa Kỳ. Sự kiện này cho thấy những cải-thiện rõ ràng trong mối quan hệ quân sự giữa hai nước đã đến thời điểm keo sơn, 10 năm trù dập TQ phải vào quỹ đạo của Mỹ kể cả kinh tế, cô lập chính trị và ngay đến quân sự nếu cần.

Bản tin của hãng AP trích nguồn tin báo Tuổi Trẻ cho hay một đoàn sĩ quan gồm hơn 10 người đã được ‘đón tiếp nồng hậu’ trên tàu USS John Stennis, ở ngoài khơi bờ biển miền nam Việt Nam, cách bờ khoảng 460km. Đoàn sĩ quan Việt Nam do Đại tá Nguyễn Hữu Vinh phó tham mưu trưởng quân chủng hải quân và Đại tá Đỗ Minh Tuấn, phó tham mưu trưởng quân chủng phòng không không quân dẫn đầu đã thăm các thủy thủ đoàn, xem các máy bay chiến đấu Hoa Kỳ trình diễn hạ cánh và cất cánh.

Đại tá Vinh nói rằng đây là một bước tiến trong quan hệ quân sự giữa hai nước và chuyến thăm cũng cho thấy mong muốn của hai bên trong việc duy trì hòa bình trong khu vực. Các vị nầy cũng thừa hiểu muốn giữ được chủ quyền biển đảo phải ôm chưn Mỹ thật chắc. Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak người đã cùng đi với đoàn sĩ quan Việt Nam phát biểu với báo Tuổi Trẻ rằng chuyến thăm cho thấy ‘một sự cải thiện rõ ràng’ trong quan hệ giữa hải quân hai nước và là một bước tiến tới quan hệ gần gũi hơn giữa hai quốc gia cho năm tới, 2010 mốc thời gian roll-back. Lúc nầy người trong và ngoài nước vẩn cho rằng tướng Nguyễn Chí Vịnh là con cờ của TQ, làm sao họ hiểu được qua đến sau cái mốc thời gian 2010, Vịnh sẽ là tam trùng làm việc trong bóng tối với CIA một cách gắn bó như người Cha-Nuôi Lê Đức Thọ đã từng làm công cụ cho CIA, nhưng phải bắt đầu điểm móc thời gian decent interval sau 2010 mới được lộ diện nguyên hình là người của Mỹ, không thì kế hoạch bị bể ngay?

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã được cải thiện nhanh chóng trong những năm gần đây, nó nằm trong lộ trình diễn tiến hoà bình mà Hoa Kỳ đã trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt hơn 12 tỉ đô la trong năm ngoái. Nhưng hãy coi chừng làm kẻ thù với Mỹ thì dễ làm bạn với Mỹ thí khó, nhưng suy đi nghĩ lại thì cũng dễ thôi: Kinh tế là diện, dân quyền là điểm, cứ như thế mà thi hành là êm đẹp ngay, yên chí, lần nầy Mỹ cố tránh đổ máu, vì máu đã đổ quá nhiều rồi!!! Secrets of the Tomb sẽ huyền biến thành một nước VNCH không đổ máu.

Quan hệ quân sự giữa hai nước cũng đã dần ấm lại với chuyến thăm Washington lần đầu tiên của bộ trưởng quốc phòng Việt Nam vào năm 2003 như là một triệu chứng gió đổi chiều trong giao mùa mờ mờ ảo ảo theo Mỹ [người viết thì thấy đã đến vào decent interval 2010 roll-back rồi … và từ từ sẽ hiện nguyên hình bằng thể chế biến đổi một cách ngoạn mục]. Nhiều sĩ quan quân đội Việt Nam cũng đã được đào tạo tại các học viện quân sự Hoa Kỳ. Một số tàu hải quân Mỹ cũng đã tới thăm Việt Nam kể từ tháng 11 năm 2003 như là giai đoạn chuyển mình kín đáo.
Trong khi đó, cũng tường thuật tương tự, đài BBC đã phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia về bang giao quốc tế ở ĐH George Mason ở Washington DC, và được đáp rằng Hoa Kỳ thoải mái hơn Việt Nam trong việc tăng cường bang giao quân sự.

BBC kể lại:
Theo ông Hùng, trừ một số dân biểu, các chiến lược gia Hoa Kỳ không coi Việt Nam là “nước cựu thù” và “Việt Nam cũng không có tiềm năng để thành đối thủ của Mỹ như Trung Quốc”. Bởi vậy, việc mời lên thăm tàu lần này là động tác “nối dài” các hoạt động từ lâu nay từ phía Mỹ muốn Việt Nam thấy được sức mạnh quân sự của họ.

Đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak, người đi cùng phái đoàn Việt Nam, nói rằng chuyến viếng thăm cho thấy có “sự cải thiện rõ ràng” trong việc hợp tác giữa lực lượng hải quân hai nước. Cũng cần ghi nhận rằng hôm Thứ Năm là ngày CS Trung Quốc diễn binh lớn ngoài Biển Đông để mừng 60 năm thành lập Hải Quân CSTQ, nhưng VN chẳng chút nào run sợ vì có Mỹ sau lưng.

Mỹ giúp đảng X ổn định an-toàn nhân sự
Dù rằng CIA đã giúp Mafia-Lê Đức Thọ cày người vào các binh chủng QLVNCH cũng như cơ quan chính quyền VNCH để khi bàn giao nắm giữ những hồ sơ nhân sự ngay ngày 30/4/75, chúng ta đã phải ngạc nhiên khi thấy người trong đơn vị mình đương nhiên mang K-54 và tiếp thu bàn giao như chuyển hoán một business bên Mỹ.

Dĩ nhiên, trên trục lộ đồ Eurasian, CIA (Secret Society) đã bao che cho Mafia Lê Đức Thọ thi hành axiom-1 thì phải bảo-vệ thể chế nầy trong sự trường tồn trong vòng tay của họ. Chưa yên tâm, sau khi giúp Hà Nội thôn tính miền nam, CIA đã tiềm-ẩn lồng ngay trong đầu não của ngành công an một cách kín đáo, ngay sau khi Hà Nội cưỡng chiếm 1975. Việc giúp đỡ đầu tiên là quản lý và kiểm soát nhân-viên quan chức miền nam qua máy tính điện-tử để lại, CIA cũng sẽ huấn luyện, trang bị giúp Mafia-VN xiết chặt an ninh qua đội lốt viên chức người Nga da trắng hay người Nga làm việc nhị trùng double cross cho Mỹ (như trong trục lộ-đồ KGB/CIA đã thiết kế).

Tất cả bí mật nầy chỉ có duy nhứt công cụ gián tiếp Mafia Lê Đức Thọ biết mà thôi, Thủ-tướng Phạm Văn Đồng và các đảng viên chẳng biết gì cả nên cứ rang-rảng bô bô tuyên bố chính sách đối với tù cải-tạo bị gọi là có nợ máu với nhân dân: “Cho chúng ăn thật ít, bắt chúng làm thật nhiều” để chết lần chết mòn mà không tốn viên đạn, lại được tiếng khen là nhân đạo để tiếp tục ngữa tay xin viện trợ nước ngoài… Chỉ có công cụ thủ lảnh đảng X-Mafia duy nhứt là Sáu Búa, Lê Đức Thọ mới biết rằng những người có nợ máu nầy sẽ đi diện HO nối tiếp ODP, sau diện con Lai.

San Francisco (Vietastic.com) — Nguồn tin ẩn danh từ Hoa Thịnh Đốn cho hay một phái đoàn an ninh tình báo cao cấp nhất của Mafia-VN gồm trên 10 vị tướng lãnh an ninh CSVN đã do đại-tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An CSVN hướng dẫn đã đến làm việc với các ngành cao cấp nhất về an ninh của Hoa Kỳ trong suốt tuần lễ vừa qua. Phái đoàn nầy hôm Thứ Hai 20-4-2009 đã rời Washington DC bay về San Francisco để nghe Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco tường trình về những vấn đề liên quan đến tình hình Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và các việc thi hành chính sách vận động Việt Kiều mà CSVN coi là khúc ruột nghìn dặm, phải nghe theo lời Mỹ để còn tiếp tục mỗi năm có thêm hàng chục tỷ dollar NVHN giúp đỡ, nhưng đặc biệt không được ồn ào treo cờ tại Little Saigon dù ở Mỹ là nước tự do và quý vị có quyền đó.

Và cũng đã đến thời điểm decent interval ngày 26/March/2004, (theo chỉ thị của Secret Society, nhóm nắm chính sách Mỹ: đồng dollar Xanh phải trở về Mỹ) phải có cái gọi là nghị quyết 36 để hợp thức hoá đồng dollar do Mafia-VN ăn cắp, ăn cướp, tham nhũng (sau 10 năm ăn cắp tiền viện trợ, cướp tài sản của dân… recycling thành green dollar. Dĩ nhiên NVHN làm sao hiểu được vì bị nhốt trong hũ chai World paranoid, qua cơn ác mộng trong dung tích chật hẹp, đâu đâu cũng ám ảnh là CS nên la-ó, ồn-ào về nghị quyết 36 nầy. Hảy xem Video mới nhứt về “Kennedy assassination …” thì biết tại sao Old Crocodile giết anh em Kennedy và Diệm thì biết ngay: về mặt nổi, chính quyền Mỹ chống cộng sản, còn Secret Society thì bảo vệ đảng Mafia-X cho quyền lợi tư bản Mỹ) sẽ có nơi an toàn gởi qua Mỹ cùng con cháu du học, kết hôn … có gì sau nầy sẽ đoàn tụ với gia đình theo như ước mơ của CBCS, nhưng thật ra họ là tư bản Đỏ. Riêng đối với người Việt hải ngoại, Secret Society dễ dãi cho tự do gởi tiền về Việt Nam để nuối đồng bào họ, như là khúc ruột xa ngàn dậm, và đây là đặt ân “lịch-sự” của chính phủ Mỹ (Secret Society) nhường cho NVHN lo chăm sóc đồng bào mình, như hằng năm gởi 10 tỉ hay hơn cũng Okay, trong khi kiều bào Cuba không được đặc ân theo kiểu “lịch-sự” nầy.

Tin tiết lộ cho biết phái đoàn cao cấp nhất ngành an ninh của CSVN lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông Robert Muller, Giám Đốc cơ quan FBI Hoa Kỳ (Federal Bureau of Investigation) Cuộc tiếp đón có cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các ngành an ninh quốc nội và quốc tế của Hoa Kỳ cùng tham dự. Trong khi đại tuớng Lê Hồng Anh sinh năm 1949 tại tỉnh Kiên Giang là cùng quê với Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng. Lê Hồng Anh cũng giữ chức đại biểu quốc hội các khóa 11 và 12.

CIA đã chọn cặp bài trùng nầy làm công cụ nổi, nhưng Nguyễn Chí Vịnh mới thật là công-cụ chìm nằm trong bóng tối, nhưng lại có nhiều quyền hạng như Robert Gate BTQP dù tổng thống nào cũng phải giữ ông lại cho tình hình biến đổi đột xuất.

NVHN ít ai hiểu, Mafia-VN không phải là CS cho nên ông Nguyễn Phú Trọng TBT đảng CSVN chẳng ra cái thá gì cả mà Dũng nắm mặt nổi, còn Vịnh nắm mặt chìm. Thí dụ khi Mỹ cần VN dở trò hù doạ TQ không được đem giàn khoan tối tân trụ neo vào thềm lục địa VN, thì Mỹ bấm đít Nguyễn Chí Vịnh chơi đạn thật bằng cách gọi là thực tập bình thường, nhắm vào loại hoả tiễn made in Ấn Độ, Do Thái, Nga để tập dượt và hù doạ TQ đừng có làm ẩu, mà đại sứ Mỹ cho rằng TQ đừng hòng Nắn-Gân Nguyễn Chi Vịnh?

Trong tình hình Trung Quốc đưa tàu chiến vào biển Đông, công nhiên chiếm các đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, muốn tấn công vào tàu thăm dò hải dương của Mỹ và khiêu khích chiến hạm Mỹ; tin nhận định rằng cuộc họp an ninh cao cấp nhất Việt Mỹ trong tuần qua có tính cách cấp bách và nêu lên sự chu toàn chuẩn bị sự hợp tác sâu rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẵn sàng cho đúng lộ đồ Roll Back-2010 của Mỹ trở lại chốt trụ tại Á Châu/TBD. Và kể từ sau 2010, tướng Vịnh sẽ được thường xuyên triệu hồi qua Mỹ để nhận chỉ thị khẩn cấp. Điều dễ hiểu khi Secret Society muốn Hà Nội cưỡng chiếm miền nam để thống nhứt thì họ có trách nhiệm bảo vệ sự sống còn của thế chế siêu Mafia toàn trị nầy.

Cũng theo tin nầy thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu việc dẫn độ các người phạm án tại Hoa Kỳ bị trả về cố quốc Việt Nam, trong khi những Việt Kiều Mỹ về Việt Nam hoạt động băng đảng, buôn lậu, trốn thuế và những hình thức phạm pháp khác đều sẽ bị an ninh của Bộ Công An bắt và chuyển thẳng cho Hoa Kỳ truy tố trước luật pháp Mỹ. Những động thái nầy đồng thời hù doạ NVHN đừng có quá ồn ào mà khi ra toà bị CIA đội lốt luật sư, (ngày xưa CIA đội lốt nhà báo nói xấu VNCH cho mục tiêu chính trị, axiom-1) cho rằng phần tử nguy hại cho an toàn nước Mỹ sẽ gởi trả về VN thì te-tua ngay.

Tin cũng nói rằng Hoa Kỳ sẽ giúp huấn luyện về nghiệp vụ an ninh, cung cấp cho ngành an ninh Việt Nam những trang bị tối tân nhất để chống tội phạm, chống xâm nhập biên giới và sẽ giúp Việt Nam có một hệ thống theo dõi công dân như hiện nay tại Hoa Kỳ. Tại sao Mỹ phải lo cho Việt Nam (Hà Nội) vì họ bảo vệ Hà Nội lên ngôi theo như kế hoạch Eurasian siêu chiến lược toàn cầu. Việt nam có trên 86 triệu dân, đi đâu cũng phải khai báo, nhưng cuối cùng rất khó theo dõi. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đơn giản hóa và quản lý bằng hệ thống điện tử nối mạng trên toàn quốc để trở thành một nước Do Thái phương đông cho quyền lợi Mỹ sau nầy trong chiến lược an toàn thế giới Mới (The New World Order).

Việt Nam đang rất lo ngại việc Trung Quốc sẽ tiến thêm nhiều bước xâm lược và hai quốc gia Hoa Kỳ-Việt Nam sẽ cùng hợp tác trong việc chống lại chính sách bá quyền nầy; Điều khó khăn là nếu như để cho Trung Quốc tiếp tục khai thác Bauxit thì có thể có những khủng hoảng chính trị trong nội địa Việt Nam và phong trào bài xích từ bên ngoài Việt Nam; Nhưng nếu không để cho Trung Quốc tiếp tục thi hành hợp đồng khai thác Bauxit mà Việt nam đã đặt bút ký tên, thì có thể có những đụng chạm đưa đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây là đòn tâm lý mà Mỹ muốn sự căm thù vốn đã có truyền kiếp nầy đi sâu đến tận xương tủy người dân Việt yêu nước, theo như âm mưu CIA đã có kế hoạch trong thiết kế mật nhưng giao cho Nguyễn Chí Vịnh đặc trách “khổ nhục kế” trước decent interval roll-back 2010, và đây cũng là cơ hội tốt nhứt để nhổ cái gốc của các CBCS thân TQ ra khỏi cơ quan quyền lực.

Đó cũng là vấn đề mà theo tin tiết lộ, có thể là nội dung chính của cuộc hội đàm cao cấp Việt Nam và Hoa Kỳ về ngành an ninh vừa qua. Việt Nam đang cần Hoa Kỳ che chở trước hiểm họa Trung Quốc bành trướng, trong khi Hoa Kỳ cần Việt Nam như là điểm khai hỏa gần trái tim Trung Quốc nhất. Có thể một ngày gần đây, lá chắn phi đạn vùng Á Châu của Hoa Kỳ sẽ đặt tại phía Bắc Việt Nam; Hoa kỳ cũng cần VN nơi xuất phát ngòi nổ để cho Mỹ thêm một lần nữa trắc nghiệm vũ khí “trọng tài” (Arbitrary Weapons) hầu hoá giải để giữ an ninh trật tự cho trái đất qua sự thống lãnh đáng tin cậy của Mỹ cho hoà bình an toàn thế giới. Hoa Kỳ muốn đích thân hoá giải, hủy diệt 2 tìm lực đang giao chiến với nhau bằng trao đổi vũ khí nguyên tử qua lại, mà Việt Nam và Philippine là nơi chạm tuyến (front line) an toàn vi xa lục địa Mỹ.

Trong một bản tin của Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn loan rằng: Nhận lời mời chính thức của một số cơ quan Chính phủ Mỹ, đoàn đại biểu Bộ Công an Việt Nam do đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, dẫn đầu thăm và làm việc tại Mỹ từ ngày 12/4/2009 đến ngày 21/4/2009 để có kế hoạch chuẩn bị qua năm tới 2010 là năm roll-back, Hoa Kỳ trở lại đóng trụ và cam kết với khối Asean tại TBD, sau một thời gian nghĩ xả hơi mà vẫn make money nhờ TQ hù doạ nên các nước xung quanh mới chịu mua vũ khí, Mỹ bán được một mớ vũ khí để tự vệ, save một số tiền lớn là rời bỏ 2 căn cứ Subic và Clarkfield, nhưng đến khi nào cần thì trở lại trong vòng tay khẩn khoảng thỉnh cầu của Philippine như hiện nay, vì thế CIA phải xui bẩy thế hệ trẻ quân sự TQ làm quậy sóng Biển Đông để Mỹ bán một số vũ khí và thỉnh cầu Mỹ trở lại TBD theo đúng lộ trình Eurasian 10 năm sau cùng trù dập TQ, nếu TQ ương ngạnh.

Tại các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật của Mỹ, hai bên đồng ý cần tiếp tục củng cố và khai mở các quan hệ hợp tác trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động chống khủng bố, các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, tham nhũng, buôn người và rửa tiền, lạm sát động vật hoang dã… để chuẩn bị thành một nước VNCH trong sạch, giàu mạnh của vùng ĐNÁ bằng cách thay Mỹ lãnh đạo Khối thương trường TPP.

KQ: TRƯƠNG VĂN VINH
vinhtruong
06-10-2013, 01:22 AM
Trung Quốc cho rằng “trục-xoay” của Hoa Kỳ tại châu Á là một mối đe dọa là hoàn đúng như quý bạn đã xem bài “Siêu chiến lược Eurasian” (những bài trên) nó nằm trên trục lộ đồ 10 năm trù dập TQ (2010-2020, ngay bài đầu với lời tựa…) để đưa Ấn Độ lên cường quốc hạn NHÌ thế TQ, thế nên Mỹ khuyến khích Ấn Độ nên thăm dò dầu khí và đem Hạm đội tuần tra qua tới Biển Đông thỉnh-thoảng ghé Hải-Phòng, Đà Nẵng cho vui thay vì quanh quẩn trong phạm vi ao nhà Ấn Độ Dương.

Thật bất công khi TQ hù doạ Mỹ không nên tập trận với Nam Hàn tại ao nhà Biển Hoàng Hà nhưng Mỹ cứ phây phây tập trận, nếu mình là người TQ cũng thấy khó chịu và nực nội? Thế nên biến cố Hoàng Sa 1974 là cái bẫy tham dầu-khí mà Mỹ giăng ra để làm mất mặt bầu cua TQ và đồng thời chuyển biến vị trí Ấn độ thế chỗ TQ để kích thích kinh tế về vùng nam Á thuộc Á Châu và từ VN loang qua Trung đông bằng hệ thống lưới nhện xa lộ trong đó Xa lộ Liên Bang Đông Dương là khởi điểm vào đầu thế kỷ 21 vì thế Hoa Kỳ sẽ lôi xềnh-xệch VN nhập vào Khối TPP.

Hoa kỳ lột chức Tư lệnh TBD của tướng Mac Arthur là muốn rằng khi TQ đã phải ngồi tại LHQ cho người ta đặt ra trò chơi những điều quy ước (COC) mà là nước lớn phải lấy “Niềm Tin Chiến Lược” làm kim chi nam (Mỹ dạy TT Dũng phải nói như thế dù phải hơi run-run chút đỉnh. Vì biết trước kịch bản (Program) nên tôi viết trước vài tháng, cho rằng TT Dũng sẽ là người khai hoả mở màn cuộc họp Shangri-La)
Ảnh hưởng sau cuộc họp Thượng đỉnh Mỹ-Trung
Vừa qua Hai ông Tập Cận Bình và Barack Obama gặp nhau lần đầu từ khi ông Tập nhậm chức chủ tịch. Cuộc họp thượng đỉnh kéo dài hai ngày tại tiểu bang California. Hai vị lãnh đạo bắt tay nhau trên con đường nhỏ ở trang trại Sunnylands ngoại ô Palm Springs. (Mục tiêu nơi đây thanh tịnh, thơ mộng, 2 vợ chồng Tập Cận Bình dễ thiện cảm với nước Mỹ qua cuộc đối xử như một vị khách ngoại hạng, không là chính khách). Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa hai vị nguyên thủ từ khi ông Tập nhậm chức chủ tịch hồi tháng Ba. Cuộc gặp được xem như cơ hội cho lãnh đạo hai nền kinh tế lớn nhất thế giới trao đổi trong bối cảnh có nhiều vấn đề gay cấn.

Nghị trình cuộc họp được cho sẽ có các chủ đề như tình báo mạng, Bắc Triều Tiên, an ninh châu Á và thương mại. Ông Obama nói: “Việc chúng tôi quyết định gặp nhau sớm như thế này cho thấy tầm quan trọng của quan hệ Mỹ-Trung”. Ông nói Hoa Kỳ hoan nghênh sự trỗi dậy của một Trung Quốc hòa bình, và muốn thấy “trật tự kinh tế, nơi các nước cùng tuân thủ một luật lệ”. Tổng thống Mỹ cũng kêu gọi hai nước cùng hợp tác để chấn chỉnh tình trạng an ninh mạng. Ông nói thêm: “Dĩ nhiên văẫn có các chủ đề căng thẳng giữa hai nước chúng ta”. Ông Tập thì nói ông và ông Obama gặp nhau “để vạch ra tương lai cho quan hệ Trung-Mỹ và thiết kế mối quan hệ”.

“Thái Bình Dương mênh mông đủ chỗ cho hai nước lớn Hoa Kỳ và Trung Hoa.” Một số dân biểu Mỹ và các nhóm vận động nhân quyền đã yêu cầu ông Obama kêu gọi Trung Quốc trả tự do cho 16 tù nhân được nhiều người biết tiếng, trong đó có Lưu Hiểu Ba, người được giải Nobel hòa bình. Mỹ là chặng dừng chân thứ tư của ông Tập Cận Bình trong chuyến công du hiện tại, trước đó ông đã tới Trinidad và Tobago, Costa Rica và Mexico. Ông cùng với vợ, ca sĩ Bành Lệ Viên, đã tới sân bay quốc tế Ontario ở California vào hôm thứ Năm.
‘Trung Quốc sẽ nhượng bộ’?
Cuộc gặp mặt tổ chức nơi trang trại ở sa mạc Mojave bắt đầu bằng buổi họp song phương, tiếp theo là bữa tối. Sáng thứ Bảy hai nguyên thủ lại tiếp tục cuộc thảo luận. Sự kiện này diễn ra trước kế hoạch nhiều tháng, đáng ra mãi tháng Chín tới hai ông Obama và Tập Cận Bình mới gặp nhau tại Nga.

“Thái Bình Dương mênh mông đủ chỗ cho hai nước lớn Hoa Kỳ và Trung Hoa.”
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger nói với BBC: “Tôi có cảm tưởng rằng cả hai bên đều muốn xem xét lại tình hình, để xem liệu họ có thiết lập được một quan hệ [tốt] dựa trên các viễn cảnh dù chưa giải quyết được ngay các vấn đề trước mắt”.

Trước cuộc họp, giới chức chính phủ Mỹ nói với các phóng viên rằng chủ đề do thám mạng sẽ được đề cập tới vì Mỹ ngày càng quan ngại về các vụ xâm nhập từ Trung Quốc trong những tháng gần đây. Tháng trước, tờ Washington Post dẫn nguồn một phúc trình của Lầu Năm góc đưa tin rằng các hackers Trung Quốc đã tiếp cận được thiết kế của hơn 20 hệ thống vũ khí của Hoa Kỳ. Hồi đầu tháng Năm, trong một phúc trình khác Mỹ cũng cáo buộc Bắc Kinh là nhắm vào hệ thống máy tính chính phủ Mỹ trong chiến dịch tình báo mạng.

Trung Quốc bác bỏ cáo buộc rằng chính phủ Bắc Kinh có vai trò trong các vụ xâm nhập mạng và nói cũng có trong tay hàng núi bằng chứng cho thấy bị tấn công mạng từ Hoa Kỳ. Thương mại và Bắc Triều Tiên cũng là những chủ đề được trông đợi sẽ nằm cao trong nghị trình. Bắc Kinh, đồng minh thân cận của Bình Nhưỡng, được xem như quốc gia duy nhất có thể gây áp lực tạo thay đổi đối với Bắc Triều Tiên.

Các chủ đề khác có thể được thảo luận là tranh chấp lãnh thổ ở Á châu và nhân quyền ở Trung Quốc. Các nhà vận động cũng như thân nhân của họ đã kêu gọi tổng thống Mỹ nhắc tới 16 tù nhân lương tâm hiện đang bị giam giữ vì lý do chính trị và tôn giáo. Phương thức họp mặt không chính thức được lựa chọn cho cuộc gặp lần này, thay vì nghi lễ cứng nhắc trong các cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-Trung trước kia.

Đối thoại Shangri-La nêu bật quan ngại về an ninh châu Á
Học giả TQ xúi: “Cần cứ đánh, khỏi đàm” ở Biển Đông (Mỹ phải đề phòng nên có Robert Gate phải giữ lại chuyễn tiếp từ Bush qua Obama) nên Mỹ phải tăng cường quân sự tạo căng thẳng tranh chấp biển đảo TBD

Còn tại Việt Nam tuyên án nặng 2 sinh viên chống Trung Quốc (nằm trong kế hoạch gây hận thù dân tộc do Mỹ chủ đạo rất thành công trong bửu bối “Truyền thông Media) gây hận thù dân tộc giữa VN-TQ hằng thế kỷ nay.
Chuyển trọng tâm “trục xoáy” qua châu Á không đe dọa Trung Quốc là đúng nhưng TQ không dám cọ quậy vì nội bộ bất ổn và cái gì nó cũng nằm trong thế chiến lược mà Mỹ đã tính trước, như TT Da màu hoặc TT đàn bà phải có vào thời điểm “Roll Back”. Lãnh tụ là phụ nữ thì cũng thường có như các nước Th ái, Anh, Ấn độ, Đại Hàn, Do Thái… có nghĩa làm sao lần đầu tiên nước Mỹ phải có một TT Da màu xuất hiện trong lịch sử lãnh đạo Hoa Kỳ. Với ý đồ mong rằng nước Mỹ có 1000 lần dân chủ, để đối phó với TQ khi TT có những quyết định chiến lược.

Thông thường người giữ Bộ ngoại giao phải trước tiên là thành viên trong Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) như Henry Kissinger, Condo-Rice. chỉ mong thế giới hiểu nước Mỹ là một nước DÂN CHỦ. Nhưng kỳ bầu cử nầy 2008, để chuẩn bị cho một hành pháp khá đặc biệt là Ứng cử viên trợt làm TT sẽ nắm chức vị Bộ trưởng ngoại giao và một TT da màu sẽ xuất hiện trong lịch sử nước Mỹ. Thế nên, Secret Society phải làm đảo lộn chân lý và định lý. Người ta thường nói có tiền mua tiên cũng được, thế nên con người vô danh tiểu tốt như Obama vẫn thắng Đệ-1 phu nhân, con người da màu vẫn thắng con người da trắng, con người nghèo vẫn thắng người giàu có, người thiếu niên thắng thâm niên TNS, con người TBS tiểu bang nhỏ vẫn thắng tiểu bang lớn New York, con người chưa từng ở White House nhưng vẫn thắng người đã từng ở 8 năm nơi đó. Có như vậy mới tượng trưng tổng thống của nước dân chủ tiếng nói nặng ngàn cân.

WASHINGTON — Tại hội nghị thượng đỉnh không chính thức giữa Tổng thống Obama và người tương nhiệm Tập Cận Bình tại California, cả hai bên đều cố tránh những tranh chấp có thể làm tổn thương mối quan hệ giữa hai cường quốc đang tồn tại và mới trỗi dậy. Theo tường trình của Thông tín viên Đài VOA Natalie Liu, mối quan tâm chính của Trung Quốc là sự chú trọng mới trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ về vùng châu Á-Thái Bình Dương—thường được gọi là “trục xoay”—nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Ông Tập Cận Bình trở thành chủ tịch Trung Quốc vào tháng Ba năm nay. Đây là chuyến thăm nước Mỹ đầu tiên của ông trong tư cách nguyên thủ quốc gia. Dù Washington có một danh sách riêng các vấn đề thảo luận với ông Tập Cận Bình, nhưng đứng đầu nghị trình của Bắc Kinh là “trục xoay” của Hoa Kỳ tại châu Á, được Bắc Kinh xem như là một nỗ lực nhằm ngăn không cho Trung Quốc trở thành một siêu cường (đúng quá đi chớ phen nầy tới phiên Ấn Độ chiếm vị trí siêu cường hạng-2).

Các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã nỗ lực trấn an Trung Quốc là trục này không nhằm bao vây Trung Quốc như Bắc Kinh lo ngại. Ông Michael Pillsbury thuộc viện Hudson cũng đồng thời là cố vấn cho Ngũ Giác Đài nói: “Trong 8 bài diễn văn quan trọng hiện nay, mọi người đều nói trục xoay này không nhằm vào Trung Quốc. Vấn đề duy nhất là, theo như thuật quản lý nhà nước cổ của Trung Quốc, thì người Trung Quốc xem đây như là một cường quốc hàng đầu đang nỗ lực trấn an một cường quốc đang trỗi dậy, nhưng ‘chúng tôi, người Trung Quốc, không đến nỗi ngu ngốc tin như vậy’ – nhưng tôi nghĩ là họ nên tin điều này.”

Những nhà phân tích khác không đồng ý với khuynh hướng này, cho rằng việc thường xuyên phủ nhận không phải là phương cách tốt nhất đối phó với Trung Quốc. Bà Kelley Currie, một thành viên của Dự án 2049, một viện nghiên cứu tại Washington chú trọng đến an ninh Đông Á nói: “Khi chúng ta phủ nhận tất cả không liên hệ đến Trung Quốc thì càng làm cho nước này thêm nghi ngờ. Do đó tôi nghĩ chúng ta nên thành thật… vâng, một phần của trục xoay này là về bao vây và không ổn định mà những đồng minh trong vùng của chúng ta và những bạn bè của chúng ta cảm thấy đối với thái độ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.”

Ông Ngụy Kinh Sinh là một nhà bất đồng chính kiến hàng đầu sống lưu vong. Ông nói chừng nào Trung Quốc vẫn còn dưới sự cai trị độc đảng, thì Hoa Kỳ không nên kỳ vọng một mối quan hệ hợp tác chân thật với Trung Quốc: “Hệ thống chính trị và xã hội Hoa Kỳ rất hấp dẫn đối với người dân thường Trung Quốc, và điều này chính phủ Trung Quốc cảm thấy là một mối đe dọa căn bản cho sự sống còn của chính phủ.”

Hoa Kỳ cáo buộc Trung Quốc đã tiến hành do thám trên mạng chống lại Hoa Kỳ và nhiều nỗ lực này được giám sát trực tiếp từ một khu phức hợp tại Thượng Hải do một đơn vị đặc biệt của quân đội Trung Quốc thực hiện.

Những hoạt động như vậy làm cho hình ảnh của Trung Quốc tại Quốc hội Hoa Kỳ bị tổn thương. Dân biểu Cộng hòa Frank Wolf nói: “Tôi nghĩ có nhiều điều tiêu cực đối với Trung Quốc, đặc biệt vì không gian ảo. Trung Quốc đã đánh cắp sở hữu trí tuệ của chúng ta.”

Washington cũng đã yêu cầu Trung Quốc dùng ảnh hưởng của mình để làm thay đổi thái độ khiêu khích mới đây của Bắc Triều Tiên. Ngay trước hội nghị thượng đỉnh, miền Bắc nói muốn thảo luận với Nam Triều Tiên. Các nhà phân tích tại Bắc Kinh gọi đây là một “món quà” cho Tổng thống Obama và nói thêm là đáp ứng của Washington có thể cho thấy Hoa Kỳ xem mối quan hệ với cường quốc mới như thế nào mà ông Tập Cận Bình muốn được trông thấy.
Thượng đỉnh Mỹ-Trung kết thúc lạc quan bởi 2 nhà lãnh đạo hiểu rõ về nhau
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kết thúc cuộc họp thượng đỉnh hai ngày mà giới chức Mỹ nhận xét là “đặc biệt, tích cực và mang tính xây dựng.”

Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, ông Tom Donilon, nói ông Obama đã cảnh báo ông Tập rằng các cuộc tấn công mạng có thể là yếu tố “cản trở” mối quan hệ Mỹ-Trung. Ông cũng cho biết hai nước đã đồng ý rằng Bắc Hàn cần phi hạt nhân hóa. Hai nhà lãnh đạo cũng bàn đến những vấn đề kinh tế và môi trường trong cuộc gặp ở California. Cuộc gặp kéo dài gần sáu tiếng hồi vào thứ Sáu ngày 7/6 và hai ông tiếp tục nói chuyện thêm ba tiếng nữa vào sáng thứ Bảy ngày 8/6 ở khu nghỉ dưỡng Sunnylands, California.
Mỹ rất hài lòng như tôi đã đoán trên những bài trước vì TQ không dám ương ngạnh
Trong khoảnh khắc xuất hiện ngắn ngủi khi hai ông cùng đi dạo hôm 8/6, ông Obama đã mô tả kết quả đối thoại là “rất tốt”. Sau khi cuộc họp kết thúc, Donilon nói với báo chí rằng ông Obama đã nêu với chủ tịch Trung Quốc những vấn đề Hoa Kỳ đang phải đối mặt do xâm nhập mạng cũng như ăn cắp sở hữu trí tuệ. Mặc dù không nói rõ nhưng ông cho biết Tổng thống Obama đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ tin chắc rằng trước các cuộc tấn công bắt nguồn từ bên trong lãnh thổ Trung Quốc.

Trước đó, Dương Khiết Trì, cố vấn ngoại giao của ông Tập, nói với báo giới rằng Trung Quốc mong muốn hợp tác hơn là tranh cãi với Hoa Kỳ về vấn đề an ninh mạng. Dương Khiết Trì, ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc: “Không nên để an ninh mạng là cội nguồn gây ra nghi ngờ và va chạm giữa hai bên mà nên là điểm sáng mới trong sự hợp tác của chúng ta,” ông nói.

Về vấn đề Bắc Hàn, ông Donilon nói hai nhà lãnh đạo đã có “sự gần gũi về quan điểm”. “Hai nước đồng ý rằng Bắc Hàn cần giải giáp hạt nhân, rằng cả hai đều không chấp nhận Bắc Hàn là một quốc gia có vũ khí hạt nhân, và hai nước sẽ tiếp tục làm việc cùng nhau để tăng cường sự hợp tác và đối thoại để hướng đến việc phi hạt nhân hóa,” ông nói. Ngay sau khi cuộc gặp thượng đỉnh kết thúc, Nhà Trắng đã ra thông cáo nói hai bên đã lần đầu tiên thống nhất sẽ cùng nhau làm giảm hydrofluorocarbons, một chất gây hiệ́u ứng nhà kính rất mạnh.

Biên tập viên Bắc Mỹ của BBC Mark Mardell nhận định rằng Nhà Trắng tỏ ra hài lòng với kế́t quả cuộc họp.
Đây là lần gặp mặt đầu tiên của hai ông kể từ khi ông Tập trở thành chủ tịch nước hồi tháng Ba. Đây là dịp để hai ông hiểu lẫn nhau. Vào thứ Sáu, tờ Guardian đã đăng tải cái mà họ gọi là sắc lệnh của tổng thống Mỹ yêu cầu các quan chức an ninh quốc gia và tình báo đưa ra danh sách các mục tiêu tiềm năng ở nước ngoài để tấn công mạng. Nhà Trắng chưa có bình luận gì về thông tin trên.
Khó khăn của Hoa Kỳ
An ninh mạng hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc. Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn đang thâm hụt thương mại rất lớn với Trung Quốc lên tới 315 tỷ đô la trong năm ngoái, cao nhất từ trước đến nay.

Tuần trước, hãng Shuanghui của Trung Quốc đã đồng ý mua lại Smithfield, công ty sản xuất thịt lợn của Mỹ, với giá 4,7 tỷ đôla. Đây là vụ thâu tóm công ty Mỹ lớn nhất của một công ty Trung Quốc. Vụ mua bán này cũng cho thấy sức mạnh ngày càng tăng của các công ty Trung Quốc và ý đồ muốn nắm các nguồn lực thế giới của họ.
Các nhà sản xuất của Mỹ muốn Trung Quốc phải nâng giá đồng nhân dân tệ của họ để làm hàng hóa của họ đắt hơn trên thị trường thế giới. Điều này sẽ làm cho xuất khẩu của Trung Quốc sụt giảm. Bắc Kinh đã có phản ứng bằng việc nới lỏng dần hạn chế các giao dịch bằng đồng nhân dân tệ. Sở hữu trí tuệ cũng là một vấn đề mà các công ty Mỹ rất quan tâm.

Một báo cáo hồi tháng trước của Ủy ban về Tình trạng đánh cắp Sở hữu Trí tuệ của Mỹ cho thấy Hoa Kỳ tổn thất 300 tỷ đô la một năm vì tình trạng ăn cắp bản quyền. Khoảng từ 50 cho đ́ến 80% các vụ đánh cắp này là từ Trung Quốc. Trước thềm cuộc gặp thượng đỉnh, Nhà Trắng đã thông báo rằng vấn đề an ninh mạng sẽ được nêu ra, trong bối cảnh Mỹ ngày càng quan ngại về các vụ xâm nhập mạng từ Trung Quốc trong những tháng qua.
vinhtruong
06-11-2013, 03:00 AM
Những hi vọng của Trung Quốc rằng đệ nhất phu nhân nước mình sẽ được sự “lôi cuốn” của công chúng Mỹ trong cuộc gặp thượng đỉnh hồi tuần này giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Barack Obama đã tiêu tan sau khi có tin cho biết bà chủ Nhà Trắng sẽ không tham dự.

Thật nghĩ cũng buốn thật cho sự trật thượng nào của nhóm Secret Society can thiệp vì chính sách thế chiến lược trù dập của mình mà cảnh báo TT Obama không đuợc không những tiếp kiến tại Thủ đô Washington DC theo nghi lễ mà lại đón một nơi chỉ có hơn 20.000 dân cứ trú dù đó là nơi nghĩ mát. Đệ nhứt phu nhân của TQ sẽ làm gì tại khu nghĩ mát thơ mộng nầy, hay chỉ để cho phu nhân enjoy như những ngày trăng mật?

Trái lại Đệ-1 phu nhân Michelle Obama lại đón tiếp một cách thân mật một bà già nhà quê búi-tó là phu nhân của Chủ tịch nước VN với biết bao quay phim cùng hình ảnh đầy tình nồng thắm. Tại sao kỳ cục vậy?
Thiên hạ nhìn vào hình ảnh 2 người như bà con thân thương trong tình máu mủ ruột thịt thể hiện tự kiếp nào ! Với góc nhìn của Skull & Bones 322 thì Việt Nam sẽ là con Ó-Con trưởng thành năm 2020, kết thúc “Eurasian Great Game-1” Lúc nầy con Ó-Con đã lớn khôn tự mưu sinh với đầy đủ móng vuốt, cựa cạnh sắt bén để tự bảo vệ thanh bình vùng Đông Nam Á.

Điều lạ, Đệ nhất phu nhân Trung Quốc sẽ không gặp bà chủ Nhà Trắng Michelle Obama. Giới quan chức đảng Cộng sản Trung Quốc đã xem cuộc gặp thượng đỉnh tại khu nghỉ mát Sunnylands, California từ 7-8/6 là cơ hội vàng để chứng tỏ vẻ đẹp quyến rũ của đệ nhất phu nhân Bành Lệ Viên trên chính trường thế giới trong một nỗ lực nhằm tăng thiện cảm đối với các lãnh đạo Trung Quốc.

– Nhưng hôm qua, văn phòng của bà Michelle tiết lộ với tờ New York Times rằng đệ nhất phu nhân Mỹ sẽ ở lại Washington cùng 2 con gái vì các đệ nhất tiểu thư sắp kết thúc năm học. Thật là khó hiểu?

– Sự vắng mặt của bà Obama nhiều khả năng sẽ hạn chế vai trò của bà Bành Lệ Viện trong cuộc gặp kéo dài 2 ngày ở California và có thể bị xem là một hành động “làm mất mặt”, các nhà phân tích cho hay như vậy.

– Zhang Ming, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Renmin của Trung Quốc, dự đoán rằng sự vắng mặt của bà Michelle sẽ không được hoan nghênh tại Bắc Kinh.
“Ngoại giao đệ nhất phu nhân cũng rất quan trọng nhưng phía Mỹ không hợp tác”, ông Zhang nói. “Theo nghi thức ngoại giao thông thường, điều này rất lạ. Đáng lẽ ra không nên như vậy”. Có nghĩa là nước Mỹ không lịch sự như các nước nhỏ đã tiếp đón bà bằng các Đệ nhứt phu nhân, điển hình như TT Mexico và phu nhân đón tiếp hết sức niềm nở mà người dân Mể đã thấy vẻ đẹp quý phái của Đệ-nhất phu nhân qua cách tranh sức kín đáo, thùy mị của người Á đông, như cả ngày hôm ấy hiện trên TV

– Cheng Li, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc từ Viện Brookings tại Washington, nói với tờ New York Times rằng Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận các nghĩa vụ gia đình của bà Michelle, nhưng quyết định vắng mặt của bà “chắc chắn cần vài lời giải thích”. Người Trung Quốc “đặc biệt nhạy cảm”, ông Cheng nói.

– Nhiều người Trung Quốc có thể chưa biết tin tức về quyết định của bà Michelle vào hôm nay, nhưng công chúng nhiều khả năng sẽ rất thất vọng.
Bà Bành Lệ Viện, 50 tuổi, một ca sĩ xinh đẹp và được yêu mến của quân đội Trung Quốc, đã trở thành tâm điểm chú ý trong chuyến công du đang diễn ra của Chủ tịch Tập Cận Bình tại khu vực Mỹ Latinh và Caribê. Bà đã tiếp xúc với các trẻ em và thử chơi trống tại Trinidad và Tobago.

Bà Bành Lệ Viện tháp tùng chồng trong chuyến thăm Mexico.
“Đệ nhất phu nhân xinh đẹp và gây ấn tượng với các nước chủ nhà”, tờ China Daily của Trung Quốc đưa tin, nhấn mạnh rằng bà Bành Lệ Viện không chỉ gây cảm tình “bằng âm nhạc, mà còn là cả sự ân cần và khả năng ngôn ngữ”.

– Tờ Bưu điện Hoa nam buổi sáng của Hồng Kông thì đăng tải một bô ảnh về chuyến đi của đệ nhất phu nhân Trung Quốc với dòng tít: “Bà Bành Lệ Viện là ngôi sao trong chuyến công du châu Mỹ”.
Tuy nhiên, sự vắng mặt của bà Michelle đồng nghĩa với việc các cơ hội chụp ảnh giờ đây không thể tái diễn tại Mỹ.
“Có thể bà Michelle Obama không thích ông Tập Cận Bình, hoặc có thể đơn giản là bà ấy bận”, Zhang Ming, từ Đại học Renmin, nhận định. “Nhưng bận rộn không nên là lý do cho sự vắng mặt trong một sự kiện như thế này”.

– Còn ông Shi Yinhong, một chuyên gia về quan hệ quốc tế tại Đại học Renmin, lại giảm nhẹ vai trò của các đệ nhất phu nhân tại cuộc gặp thượng đỉnh.

“Michelle Obama và Bành Lệ Viện đều rất xinh đẹp và cả hai đều có hình ảnh tích cực. Nhưng không có chuyện các đệ nhất phu nhân làm ngoại giao. Đó là chuyện của các nguyên thủ quốc gia”.
vinhtruong
06-18-2013, 11:40 PM
Ông Tập Cận Bình đã thăm giới lãnh đạo Việt Nam trước khi lên nhậm chức Chủ tịch. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc từ ngày 19-21/6 tới theo lời MỜI của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được đánh giá vô cùng ý nghĩa, (sau cuộc họp cởi mở, 2 lãnh tụ không bao giờ thắt “CÀ-VẠT”) góp phần thúc đẩy thêm quan hệ hai nước đi đến một tương lai tốt đẹp.Trong khi đó, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, ông Khổng Huyễn Hựu khi trao đổi với TTXVN cũng thừa nhận: Vấn đề trên biển là vấn đề duy nhất còn tồn tại, chưa được giải quyết giữa hai nước, gây cản trở nhất định cho việc phát triển quan hệ và cũng là thực trạng mà hai bên đều không mong muốn. Vấn đề trên biển vô cùng phức tạp và nhạy cảm nên để giải quyết một cách triệt để cần phải có thời gian. Nhưng theo tôi nghĩ Tập Cận Bình phải nghe lời Mỹ là không chàng ràng gây hấn với VN vùng Biển Đông để người Việt tự do đi chài lưới trong thềm lục địa 200 hải lý của mình.

Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh nói Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục trao đổi về vấn đề Biển Đông trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tuần này, đúng như lời tôi đã đoán trước, không như những ai vì dị ứng cứ cho rằng Trương Tấn Sang bị triệu hồi, cống hồ, đi chầu… Tôi đã nhiều lần viết VN là con Ó-Con rất cưng quý của Mỹ, cũng chỉ vì nước mình có nhiều lượng dầu và khí đốt, như Hảng dầu EXXON đang trụ tại đó.

Cổng thông tin điện tử của chính phủ Việt Nam dẫn lời Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ nói:
“Phía Việt Nam mong muốn từ tầm cao chiến lược và quan hệ hữu nghị, lãnh đạo hai nước sẽ chỉ đạo và thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế.”
“Trong 3 vấn đề lớn tồn tại do lịch sử để lại, hai nước đã giải quyết được hai vấn đề, đó là biên giới trên bộ và Vịnh Bắc Bộ. Hiện hai nước còn bất đồng trong vấn đề Biển Đông.”
“Việt Nam luôn nhận thức đây là vấn đề lớn, khó khăn, lâu dài. Nếu vấn đề này không được xử lý ổn thỏa sẽ ảnh hướng tới đại cục quan hệ hai nước, tới hòa bình, ổn định ở khu vực.”
“Trong chuyến thăm Trung Quốc lần này của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên sẽ tiếp tục trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề Biển Đông”, ông Thơ được dẫn lời nói thêm.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ thăm Trung Quốc vào ngày 19-21/6. Đây là chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc đầu tiên của ông Trương Tấn Sang trên cương vị chủ tịch nước và cũng là chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cao cấp Việt Nam từ khi ông Tập Cận Bình lên chính thức làm Chủ tịch nước.

Nguyễn Văn Thơ, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc – “Mấu chốt cuối cùng vẫn là vấn đề chủ quyền lãnh thổ của hai bên ở Biển Đông. Căn cứ vào thái độ lập trường của Trung Quốc hiện này thì không thể nào giải quyết được và những biện pháp như thăm viếng chỉ có tính cách làm dịu bớt căng thẳng,” nhà quan sát Dương Danh Dy nói với BBC Việt Ngữ hôm 14/6/2013.

Ông Tập Cận Bình trên cương vị Chủ tịch nước đã mời Chủ tịch Trương Tấn Sang, chứ không trên cương vị Tổng Bí thư và mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, có lẽ là do nội dung cuộc họp mà chủ yếu là các vấn đề nhà nước, theo nhà quan sát từ Hà Nội. Mà theo sau cuộc họp với Obama, Tập Cận Bình chỉ tiếp Sang, không phải Trọng BCT, hay Dũng TT mà là một tổng thống giả định nhậm chức trong lăng kính của Secrets of the Tomb.
Tránh đưa tin đón mò không có lợi cho cả hai nước.
Tranh chấp Biển Đông là chủ đề đã được Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng theo sự cố vấn của Mỹ, đã nhấn mạnh trong bài diễn văn đọc tại diễn đàn an ninh khu vực tại Singapore gần đây là nắm vửng “Niềm tinh Chiến lược”

“Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ Biển Hoa Đông đến Biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực.” Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền,” Thủ tướng Việt Nam phát biểu: Khi được một tướng thuộc Học viện Khoa học Quân sự Trung Quốc yêu cầu nêu ví dụ cụ thể về điều được gọi là “việc tự do hàng hải bị vi phạm”, Thủ tướng Dũng nói “Chúng tôi cho rằng những diễn biến gần đây trên thực tế chắc có lẽ tất cả mọi người của chúng ta ở đây đều biết, tôi thấy không cần nhắc lại”. Vì thế diện và phương cách ngoại giao, TT Dũng có dốt cho mấy thì cũng phải trả lời như vậy cho TQ càng thấy NHỘT hơn.

Cho tới nay phát biểu đáng chú ý nhất của Chủ tịch Sang về chủ đề Biển Đông là vào hôm 14/04/2013 khi người đứng đầu Nhà nước trong một chuyến đi thăm ngư dân tại đảo L‎y Sơn tỉnh Quảng Nam, sau khi dĩ nhiên là có sự gợi ý của Mỹ. Ông Sang được truyền thông dẫn lời nói “Bằng mọi cách phải bảo vệ hoạt động bình thường của ngư dân. Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của đất nước”. khi có cố vấn Mỹ qua giúp về Coast Guard; TQ bắt đầu tè và giảng ra không còn làm khó dễ dân chài lưới. Một tướng TQ khó chịu đến tức khí, nhưng không làm gì hơn nên làm bộ ra cái điều “Miễn Cưởng Ký Thôi Nhé”. Bài của báo điện tử chính phủ cho hay trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Sang, Việt Nam và Trung Quốc “cũng sẽ trao đổi công tác thông tin tuyên truyền để tăng cường đưa tin khách quan, tích cực về quan hệ Việt-Trung, tránh đưa tin, bình luận không có lợi cho quan hệ hai nước”.
Biển Đông và nguy cơ tăng xung đột
Từ tháng Giêng cho tới tháng Năm vừa qua, cuộc tranh cãi biển Đông tiếp tục đi theo chiều hướng tiêu cực, với việc các bên, đặc biệt là Trung Quốc, Philippines và Việt Nam, quyết giữ quan điểm riêng về chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán, khiến các bên khác phản đối, cây viết Ian Storey nhận định trong bài viết đăng trên trang. Dĩ nhiên sau cuộc họp tại California giữa 2 lãnh tụ nên mọi việc đang xảy ra lắng dịu.

Về mặt quốc tế, Liên hợp quốc đã chỉ định hội đồng thẩm phán xem xét hồ sơ khiếu nại của Philippine đối với các tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền ở biển Đông. Trong mối quan hệ khu vực, Bắc Kinh cùng khối ASEAN đã có kế hoạch thảo luận Bộ Quy tắc Ứng xử (COC). Tuy nhiên, các diễn biến đó không hề làm dịu bớt mức căng thẳng trước mắt cũng như không tạo ra một môi trường tích cực để tìm giải pháp trung hạn hoặc dài hạn, như bài bình luận của tôi trên góc nhìn chủ quan có khác, là TQ sự thật có nhiều khó khăn nội bộ hơn điểm nóng Biển Đông. Trong tương lai khi VN trở nên thành viên sừng sỏ trong Khối thương trường TPP thì TQ sẽ bị đuổi ra khỏi vùng ĐNÁ và Nam Á mà chỉ còn một hướng duy nhứt là tiến về Tây Bắc nhắm vào 8 nước Cộng Hoà Liên Xô củ mà phát triển kinh tế. Hoa Kỳ muốn chuyển sự cạnh tranh giữa TQ và Nga ở vùng đó.
Cuộc chiến pháp lý
Về việc Philippines hôm 22/01/2013 đơn phương đệ đơn kiện Trung Quốc lên LHQ liên quan tới đường lưỡi bò và việc Bắc Kinh hôm 19/02 chính thức bác bỏ khiếu nại của Manila là “đưa ra những cáo buộc sai trái”, chúng ta phải cho rằng hành động của TQ không khiến người ta ngạc nhiên, nhưng lại làm nhiều chuyên gia pháp lý thất vọng.

Chẳng hạn, giáo sư luật Jerome Cohen được dẫn lời, theo đó lập luận rằng với việc khước từ tham gia tiến trình phân xử của LHQ, Trung Quốc đang tự tạo nên hình ảnh là một kẻ “bắt nạt” và “vi phạm” luật quốc tế.
Một cây viết khác, Peter Dutton, cho rằng Trung Quốc đã bỏ lỡ một cơ hội quan trọng để đảm bảo “với các láng giềng đang ngày càng lo lắng rằng cam kết tìm giải pháp cho cuộc tranh chấp dựa trên luật pháp thay vì trên sức mạnh”.

Chưa kể, việc khước từ đó không làm thay đổi được thực tế là việc phân xử pháp lý sẽ vẫn được tiếp tục, với bước đầu tiên là hội đồng thẩm phán sẽ xác định xem đơn kiện của Philippines có thuộc thẩm quyền xét xử của hội đồng hay không, dự kiến sớm nhất là trong tháng Bảy nầy.

Nếu câu trả lời là “có”, thì các bước xét xử tiếp theo cũng mất vài năm mà phán quyết đưa ra tuy có giá trị ràng buộc nhưng lại không thể cưỡng chế thi hành. Tôi nghĩ trở ngại nầy đã được Obama/Bình đã thoả thuận ngầm trong cuộc đối thoại cởi mở vừa qua tại California. Và việc gởi “múi rối” đầu tiên là VN về biển đông giữa Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang do khởi xướng của TT Obama như tôi đã từng viết, TQ không có con đường nào khác là phải nghe lời Mỹ mới sống còn hoà nhập được với cộng đồng trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo.

Tuy nhiên, nếu phán quyết nói rằng các đòi hỏi của Trung Quốc là không phù hợp với luật biển của LHQ thì đó sẽ là thắng lợi cả về pháp lý lẫn tinh thần của Philippines, và sẽ khiến Trung Quốc phải có trách nhiệm giải thích về các cơ sở do đòi hỏi trên biển của mình. Điều đáng nói là tuy đã khước từ tham gia tiến trình tố tụng, Bắc Kinh dường như khó có thể phớt lờ nội dung phán quyết, chúng ta có thể nhận định: Về mặt ngoại giao, gần đây cũng đã có ít nhiều tin tức đáng khích lệ trong quan hệ Trung Quốc – ASEAN liên quan tới COC. Các bên đã ký Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DOC) từ 2002 nhưng cho tới cuối 2011, TQ mới đồng ý bắt đầu thảo luận cùng ASEAN, để rồi giữa năm 2012 Bắc Kinh lại nói “thời điểm chưa chín muồi” khi, theo lời Bắc Kinh, là chả có lý gì để bàn bạc khi mà Việt Nam và Philippines liên tục vi phạm DOC. Nói vậy nhưng không phải vậy mà phải đem ra mổ xẻ trên bàn mổ LHQ.

Hãy điểm lại các sự kiện, từ việc Brunei, chủ tịch ASEAN năm 2013, và tân Tổng thư ký Lê Lương Minh, đưa COC lên cao trong nghị trình làm việc, tới việc Singapore và Indonesia cùng thúc đẩy vấn đề, và đưa ra nhận định là bước đột phá chỉ xảy ra khi TQ bật đèn xanh cho các cuộc đối thoại.

Hôm 2/4, tại cuộc họp tham vấn lần thứ 19 các quan chức cao cấp ASEAN – TQ được tổ chức tại Bắc Kinh, tân ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói với các vị khách rằng không nên để tranh chấp biển Đông làm xói mòn quan hệ ASEAN – Trung Quốc, và Bắc Kinh sẵn lòng bắt đầu thảo luận về COC. “Bắc Kinh dường như đã thay đổi quan điểm nhằm tránh áp lực từ các nước trong khối ASEAN để chuyển hướng tập trung vào cuộc tranh cãi Senkaku/Điếu ngư ở Biển Hoa Đông, nơi Bắc Kinh coi là nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề Trường Sa”

Ngày 11/4, các ngoại trưởng ASEAN đã nhóm họp ở Brunei để chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 22 vào cuối tháng, và sau cuộc họp này, Ngoại trưởng Indonesia Natalegawa thông báo tới báo giới rằng TQ đã đồng ý bắt đầu thảo luận, tuy Bắc Kinh không chính thức đưa ra xác nhận. Trong hội nghị thượng đỉnh, dẫu không tạo được gì mới nhưng khác với sự thất bại bẽ bàng hồi tháng 7/2012 khi không ra được bản tuyên bố chung, lần này ASEAN đã đưa ra được nội dung rằng các nhà lãnh đạo của khối đã yêu cầu các bộ trưởng “tiếp tục tích cực làm việc với TQ nhằm hướng tới việc sớm có kết luận về [COC] trên cơ sở đồng thuận”.

Vài tuần sau đó, Ngoại trưởng Vương Nghị lần đầu tiên công du Indonesia, Thái Lan, Singapore và Brunei trong cương vị mới, cũng là dịp ông tuyên bố TQ đồng ý thảo luận về COC. Thậm chí các bên đã đạt được thỏa thuận về tiến trình thảo luận “từng bước” nhằm triển khai DOC. Tuy không phải là việc chứng tỏ TQ hậu thuẫn hoàn toàn cho COC, nhưng ít nhất nó thể hiện những tiến bộ đạt được sau gần một năm đứt quãng. Điều quan trọng là nó cho thấy Bắc Kinh (Tập Cận Bình là người của Mỹ) dường như đã thay đổi quan điểm nhằm tránh áp lực từ các nước trong khối ASEAN để chuyển hướng tập trung vào cuộc tranh cãi Senkaku/Điếu ngư ở Biển Hoa Đông, nơi Bắc Kinh coi là nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề Trường Sa, theo tác giả bài viết.. Chắc chắn TT Obama được lịnh Secret Society phải biết điều với TQ vài điểm cho người ta sống với… mà không làm thiệt hại cho quyền lợi Mỹ, và chỉ có những nước cò con phải chịu thế. Tuy nhiên, tiến trình đàm phán về COC vẫn diễn ra một cách nhọc nhằn, chậm chạp, và có vẻ như sẽ là phi thực tế nếu như ai đó kỳ vọng vào việc các bên sẽ sẵn sàng ký COC trong kỳ họp thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc vào tháng Mười tới.
[B]Tranh chấp tài nguyên
Tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắn cháy hồi cuối tháng Ba. Cuộc cạnh tranh về năng lượng và nguồn cá vẫn là một trong những nguyên nhân chính trong cuộc tranh cãi ở biển Đông. Nhưng Secret Society sẽ giải quyết: Các nước nhỏ cứ làm chủ như điều lịnh COC, nhưng phải cho TQ mướn để khai thác vì nhân công rẻ, giá thành rẻ và Mỹ là nước duy nhứt độc quyền mua bán sản phẩm bằng dollar Xanh Trong năm tháng đầu năm, hoạt động đánh bắt cá của ngư dân tại vùng biển tranh chấp đã gây ra một số vụ đụng độ nghiêm trọng, gồm cả một vụ gây chết người.

Trong số các vụ để ý nhứt, đáng kể là vụ ngày 20/3 các tàu Trung Quốc bắn cảnh cáo bốn tàu cá Việt Nam gần Hoàng Sa khiến một tàu bốc cháy. Hà Nội lên án vụ việc là “sai trái và vô nhân đạo” nhưng Bắc Kinh bác bỏ đòi hỏi bồi thường cho các gia đình ngư dân từ phía Việt Nam. Nghiêm trọng hơn nữa là vụ nổ súng của lực lượng tuần duyên Philippines khiến một ngư dân Đài Loan thiệt mạng hôm 09/05.

Đài Bắc giận dữ, đòi Manila phải chính thức xin lỗi, điều tra và trừng phạt những người có trách nhiệm, bồi thường cho gia đình ngư dân và có các cuộc đàm phán về nghề cá nhằm tránh các vụ việc tương tự trong tương lai. Thậm chí Đài Loan còn tiến hành cuộc phô trương chưa từng có sức mạnh hải quân, không quân và tuần duyên ở gần vùng biển xảy ra vụ việc, rồi bác bỏ hai lời xin lỗi từ Manila mà Đài Bắc cho là “không chân thành”, và áp dụng 11 biện pháp trừng phạt. Trong số này gồm cả việc không thuê nhân công Philippines nữa và khuyến cáo người Đài Loan không tới thăm Philippines. Căng thẳng chỉ dịu xuống vào cuối tháng, khi hai bên đồng ý tiến hành điều tra song song về vụ việc.

Trước khi xảy ra vụ nổ súng chết người, Đài Loan có vai trò khá mờ nhạt trong cuộc tranh cãi ở biển Đông, tuy đang chiếm giữ đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa là đảo Ba Bình, hay còn gọi là đảo Itu Aba. Đài Loan đã tiến hành phô trương sức mạnh sau vụ một ngư dân bị phía Philippines bắn chết Thái độ mạnh mẽ của Đài Bắc dường như xuất phát từ một số yếu tố, tác giả Ian Storey nhận định.

Bên cạnh việc muốn phản ánh sự tức giận chính đáng của người dân Đài Loan quanh cái chết của ngư dân đồng bào, chính phủ của ông Mã Anh Cửu cũng muốn thể hiện sự khó chịu về việc bị loại khỏi các cuộc đàm phán về tranh chấp với các bên khác, hậu quả của chính sách “Một Trung Quốc” của Bắc Kinh. Chưa kể ông Mã có thể cũng muốn hướng sự chú ý trong nước ra khỏi vấn đề tăng trưởng kinh tế kém, đồng thời muốn nâng mức tín nhiệm của mình lên, hiện đang ở mức thấp. Bắc Kinh cũng nhanh chóng thể hiện sự ủng hộ về tinh thần với Đài Bắc là lẻ đương nhiên cho chính sách một nước Trung Hoa, tuy điều này không giúp tăng mối quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc và Đài Loan.

Nguy cơ đụng độ có thể xảy ra: Các cuộc đụng độ thêm nữa trên biển trong vài tháng tới không phải là điều không thể xảy ra. Hôm 16/05, Trung Quốc đã áp lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, kéo dài ba tháng, ở mạn bắc vĩ tuyến 12, điều mà Hà Nội liên tục coi là sự vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Chỉ trước đó một tuần, một đội gồm 30 tàu cá và tàu vận tải đã từ đảo Hải Nam ra khơi, tới Trường Sa trong chuyến đi kéo dài 40 ngày. Còn trước đó một tháng, trong chuyến viếng thăm Hải Nam, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hứa hẹn với các ngư dân nước mình là sẽ bảo vệ họ nhiều hơn nữa. Các hành động của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh rất quyết tâm duy trì hoạt động đánh bắt cá thương mại ở Trường Sa, kể cả dùng vũ lực, nếu cần, để đảm bảo thực hiện quyết tâm này.

Với những gì đã diễn ra trong nửa đầu năm 2013, có thể thấy bất chấp các cam kết hướng tới COC của Trung Quốc và ASEAN, cuộc tranh cãi trên Biển Đông đang tiếp tục đi chệch hướng. Nếu như các nước có vai trò chính trong cuộc chơi này tiếp tục hành động thuần túy vì chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và không chịu nhân nhượng trong các tuyên bố chủ quyền cũng như trong việc cạnh tranh về tài nguyên biển, thì khó có khả năng cuộc tranh cãi đó sẽ đổi hướng trong thời gian tới, chúng ta phải đi đến kết luận như vậy!
vinhtruong
06-22-2013, 06:26 PM
Sau khi quý bạn xem bài “Siêu Chiến Lược Eurasian 1920-2020” và bết đoạn kết như thế nào rồi: “VN làm chủ, TQ khai thác, Mỹ lãnh đạo” thể hiện sau cuộc họp tuy là thượng đỉnh của Tập Cận Bình và Obama có tính cách không chính thức (2 bên không thắt CÀ VẠT) nhưng rất quan trọng cho nền hoà bình theo đúng nguyên tắc chủ đạo của Mỷ trong sách lược “Một thế giới mới an toàn” (The New World Order Strategy)

Ngay sau đó, kết quả chiến hạm VN lần đầu tuần tra với TQ
Hai tàu chiến hiện đại nhất của Việt Nam lần đầu tiên sẽ tuần tra chung với hải quân Trung Quốc trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ. Chiều 22/6 tại Đà Nẵng, hai tàu hộ vệ tên lửa Đinh Tiên Hoàng (HQ-011) và Lý Thái Tổ (HQ-012) đã rời quân cảng Vùng 3 Hải quân. Phía Việt Nam nói đây là chuyến tuần tra lần thứ 15 giữa hai nước, nhưng lại là lần đầu tiên có hai chiến hạm hàng đầu của Việt Nam tham gia. Hải-đội tàu của hải quân Việt Nam cũng sẽ thăm, giao lưu với Hạm đội Nam Hải tại thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Châu vào ngày 25/6. Thế là dấu hiệu TQ đã phải mềm như bún và nghe lời Mỹ để tồn tại là Đệ-2 anh hùng trong thiên hạ. Nhưng bài siêu chiến lược toàn cầu nầy, Mỹ đang nâng Ấn Độ thế chỗ TQ để trở thành Đệ-2 anh hùng trong thiên hạ. Nên Ấn Độ mới đem hạm đội lang thang trên Biển Đông chớ không còn lảng vảng chỉ có ao nhà Ấn Độ Dương! Vì trong lăng kính Skull and Bones 322, vào năm 2028 dân số Ấn độ sẽ vượt qua TQ, nên Hoa Kỳ bắt đầu 2020 sẽ đem tìm lực quân sự mạnh nhứt qua Châu Á để làm lực lượng đối trọng tài vì e ngại hai ông nội dân số đông nhứt sẽ tự sát làm ẩu vì nạn nhân mãn. Điều đơn giản Hoa Kỳ không chịu cùng chung số mạng nghĩa là chúng ta đều cùng tự tử.

Thế nên theo sự khuyến nghị của Hoa Kỳ, xảy ra, Bộ Quốc phòng Việt Nam, chuyến đi lần này nhằm “xây dựng lòng tin lẫn nhau, như Secret Society đã “móm” lời cho Nguyễn Tấn Dũng ngêu ngao nơi hôi nghị Shangri-La, và động thái nầy là để tăng cường quan hệ hợp tác vì sự ổn định, hòa bình của khu vực”. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai nước ký thỏa thuận thăm dò dầu khí chung trong khu vực thỏa thuận ngoài khơi vịnh Bắc Bộ.
Cái nào song phương thì song phương cái nào nhiều quốc gia dính vào thì “Đa phương hóa”
Trong tuần này, lần đầu tiên một Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam thăm Mỹ. Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ có mặt tại Lầu Năm Góc hôm thứ Năm 20/6, trong lúc Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thăm Trung Quốc từ 19 đến 21/6. Theo phía VN, chuyến đi nầy “là dịp để tăng cường quan hệ hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa quân đội hai nước, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng lên một bước mới”. Nhưng đối với Hoa Kỳ là xem giò cẳng về sực mạnh quân sự của tụi bây tới đâu rồi? Bộ quốc phòng VN bày tỏ hy vọng hai bên tiếp tục triển khai bản Thỏa thuận thúc đẩy hợp tác quốc phòng đã ký kết. Và đây là lần đầu tiên một Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam thăm Mỹ; Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ khẳng định Việt Nam “sẽ làm hết sức mình” để thúc đẩy quan hệ Asean-Mỹ như tự cho mình là con Ó-Con lãnh đạo xóm “nhà-lá Asean”
Dự kiến, một thứ trưởng quốc phòng khác của Việt Nam, nhưng ông nội nầy Hoa Kỳ đã đặt cọc qua Lê Đức Thọ 1968, lúc đó đứa bé 11 tuổi đã có 2 người cha đở đầu là Cha-ruột tướng Nguyễn Chí Thanh và Cha-ghẻ (cha đở đầu) là Lê Đức Thọ. Thế cho nên Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh là con cưng của Mỹ, cũng sẽ thăm Mỹ ngày quan trọng nhứt là 26/6/2013.

Mục đích chuyến thăm của Tướng Vịnh được nói là bàn về lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam ở trong LHQ (là tổ chức ám chỉ của Mỹ muốn đẻ ra nên Harriman mới lột chức tướng 5 sao Mac Arthur để đưa TQ vào chỗ ngồi thế THQG, vì thế TQ không còn con đường nào khác phải ngoan ngoãn nằm trong quỹ đạo của Mỹ. Sau nầy khi VN tung tăng trên hoang lộ TPP có thể phải chận không cho TQ lang thang xuống vùng ĐNÁ và Nam Á và bắt buộc TQ phải chạy qua các nước Cộng Hoà vừa tách rời Liên Xô để làm ăn buôn bán. Việt Nam đã quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, trong lĩnh vực công binh, quân y và quan sát viên quân sự. Các hoạt động ngoại giao quốc phòng dồn dập trong tháng Sáu cho thấy Việt Nam tiếp tục chính sách “đa phương hóa, đa dạng hóa” dĩ nhiên có con Ó-Mẹ sponsor không thì bố bảo cũng không dám hó-hé.

Giới quan sát nói Đảng Mafia-X của Nguyễn Tấn Dũng đang tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ nhưng cũng không muốn gây mất lòng Trung Quốc. Hôm 31/5 tại diễn đàn an ninh ở Singapore. Nhưng tình thế hiện nay thì thay vì Dũng lại đổi qua (tổng thống giả định nhậm chức) Trương Tấn Sang đang tuyên bố “đặc biệt coi trọng vai trò của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và của Hoa Kỳ – một cường quốc 200 năm thống lãnh Thái Bình Dương”.
Thế là theo lời Ó-Mẹ, VN vui mừng cải thiện quan hệ VN/TQ
Cái điềm lành là Ông Tập Cận Bình nói “coi trọng cao độ” chuyến thăm của ông Trương Tấn Sang (có nhiều bạn ít am tường và mặc cảm nên cứ gọi chuyến đi chầu, trông yểm thế quá các bạn ơi). Chuyến thăm Trung Quốc của tổng thống giả định Trương Tấn Sang phản ánh mong muốn cải thiện quan hệ gần gũi, nhưng phức tạp và thường dễ căng thẳng giữa hai nước, theo các nhà quan sát. Nhưng không sao, khi có sư-phụ ở sau lưng thì mọi chuyện đâu vào đó đúng theo lịch trình “roll-back”

Tuyên bố chung đưa ra sau chuyến thăm nói hai nước tiếp tục kiên trì phương châm “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” cho nó đúng theo sách lược The New World Order Strategy .

Sau cuộc họp của 2 nguyên thủ, như tôi đã viết trên các bài trước đưa đến sự đón tiếp quá trọng thể của Tập Cận Bình đối với VN, khác với sư phụ Mỹ để Đệ-1 phu nhân của TQ uất hận vì phân biệt đối xử với người đẹp Trung Hoa và bà nhà quê tóc búi … nhưng thử DNA có máu Bald Eagle.

Báo Straits Times, Singapore, ghi nhận phía Trung Quốc đón tiếp Chủ tịch Sang với thái độ như một tổng thống qua nghi thức bắn 21 phát đại bác chào mừng, và dàn thiếu nhi hân hoan vẫy cờ (cái khổ nhứt là NVHN cứ luôn luôn ấn tượng … “bị triệu hồi”)

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói với ông Sang: “Trung Quốc coi trọng cao độ chuyến thăm của đồng chí (sẽ không còn đồng chí nữa, hảy chờ một thời gian 2 nước sẽ đổi lá cờ theo đúng ý nghĩa của dân tộc mình, đơn giản cũng giống y chang nước Nga mà thôi) tin tưởng rằng chuyến thăm lần này sẽ tiếp thêm sức sống mới cho quan hệ Trung-Việt.”

“Lễ nghi long trọng cho thấy ông Tập [Cận Bình] tán thành quan hệ nồng ấm hơn,” theo lời phân tích gia ở Singapore, Euan Graham, trong khi tác giả không giỏi gì nhưng nhờ có xem trước cái “Giò-Ram” (program) Ông này cho rằng chuyến thăm lần đầu tiên của một lãnh đạo Việt Nam từ khi ông Tập lên chức Chủ tịch nước hồi tháng Ba cũng phản ánh nỗ lực hai phía muốn “cách ly những điểm căng thẳng” (Ông Tập và Putin đều được Secret Society có kế hoặch giúp họ giữ được chiếc ghế quyền lực, nên họ bề mặt làm bộ … chớ rất nghe lời Mỹ)

Đặc biệt trong những điểm căng thẳng này là vấn đề tranh chấp Biển Đông. Các vụ việc như tàu Trung Quốc bắn vào ngư dân Việt Nam, mà gần đây nhất xảy ra hồi tháng Năm, đã khích động các cuộc biểu tình tại Việt Nam. Ối! tất cả đều do Mỹ dựng kịch bản để bán vũ khí, rồi đây sau 2014 Nga đã nói với TT Dũng qua chuyến thăm vừa rồi là Mỹ không chịu Kà Credit Card “Aid to Russia 1941-1946 Plan” nữa mà rán làm cho Mỹ nó vui rồi sẽ bán cho sau 2014. Có nghĩa xé bỏ vụ bán vũ khí sát thương cho VN.

Mới đây, kế hoạch du đấu của một đội bóng Anh, Arsenal, cũng gặp rắc rối khi Việt Nam yêu cầu phải đưa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào một clip quảng cáo. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường lấy lòng đón tiếp Chủ tịch nước Việt Nam. Vì VN hay làm TQ đau tim khi Việt Nam cứ còn làm Trung Quốc lo ngại khi nhích lại gần hơn với các nước như Hoa Kỳ và Nhật Bản. Chuyên gia Việt Nam Carl Thayer nói: “Bắc Kinh nghi ngờ Việt Nam khuyến khích Mỹ làm thế cân bằng với Trung Quốc.” Tại sao Mỹ lại nghe lời VN? Vì nó có giòng máu Bald Eagle! “Việt Nam luôn nghi ngờ ảnh hưởng của Trung Quốc ở Việt Nam và những hành động của Trung Quốc thách thức đòi hỏi của Việt Nam trên Biển Đông.”
Và đây mới thực là cải hoá niềm tin chiến lược
Vì vậy, cả hai nước muốn dùng chuyến thăm của ông Sang để cải thiện “niềm tin chiến lược” vốn ở mức thấp, theo nhà nghiên cứu Zhang Mingliang ở Đại học Tế Nam. Nhưng giới phân tích nói hai nước làm thế vì những nguyên do khác nhau. Việt Nam muốn có lợi ích kinh tế từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi kinh tế nội địa đang gặp khó khăn.

Tại Bắc Kinh, ông Trương Tấn Sang đã đề nghị Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc. Tuyên bố chung của hai bên nói “cố gắng hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỉ đôla Mỹ”. Trung Quốc lại nhắm đến chủ yếu là lợi ích chính trị, theo lời Tiến sĩ Xu Liping ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Trung Quốc muốn chứng tỏ phương cách Việt – Trung giải quyết tranh chấp Nam Hải cũng là mô hình cho các nước khác,” ông nói.
“Trung Quốc muốn chứng tỏ phương cách Việt – Trung giải quyết tranh chấp Nam Hải cũng là mô hình cho các nước khác.”

Chủ tịch Tập Cận Bình nói với ông Sang rằng hai nước “cần phải kiên trì thúc đẩy đàm phán và hiệp thương hữu nghị song phương, không áp dụng bất cứ hành động nào có thể làm phức tạp và mở rộng tranh chấp”.
Ông Tập nói phải “đề phòng quốc tế hoá vấn đề Nam Hải”.
Cũng theo báo chí Trung Quốc, ông Tập nhấn mạnh hai nước phải “ xử lý thoả đáng bất đồng, không để con tàu quan hệ Trung-Việt đi chệch quỹ đạo đúng đắn”. Đón tiếp ông Sang, Thủ tướng Lý Khắc Cường cũng nhắc lại “Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn có thể đưa những điểm chung và điểm bất đồng lên bàn đàm phán, tránh đơn phương áp dụng hành động làm leo thang và quốc tế hoá vấn đề Nam Hải”. TQ đừng hy vọng hảo huyền VN phải nghe lời Mỹ thì sẽ có và lấy lại tất cả từ tay TQ!

Hôm 21/6/2013, khi chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Sang kết thúc, tờ báo Trung Quốc Hoàn cầu Thời báo nhận định Việt Nam, Philippines và Nhật Bản là các nước có tranh chấp biển với Bắc Kinh. “Nhưng Việt Nam nhờ CIA cố vấn nên có nền tảng chính trị vững chắc nhất cho đàm phán qua từng câu đoạn văn.” Đương nhiên, “Nếu Trung Quốc và Việt Nam có thể kiềm chế tranh chấp ở mức độ kiểm soát được, thì chắc chắn sẽ có giải pháp hòa bình.” Tờ này nhận định Việt Nam một cách khá hồ đồ và tự tin “sẽ không bao giờ thực sự trở nên quân cờ của Mỹ”. Người dân Việt không dại, đảng ngu nhưng dân khôn.

“Khác với Philippines, thực thi đối đầu ngoại giao hoàn toàn với Trung Quốc, Việt Nam đang duy trì lập trường phát triển quan hệ thân thiện với Trung Quốc.” Chẳng qua nhờ sự đưa đường dẩn lối của sư phụ mà thôi
Tờ này kết luận: “Trung Quốc cần tỉnh táo, kết hợp sức mạnh quốc gia và khôn ngoan ngoại giao để đánh thức Việt Nam.” Đừng có dụ-khị, xưa rồi bỏ đi tám. “Khi đó Trung Quốc sẽ có lợi thế ở Nam Hải và trong trò chơi của các đại cường,” tờ báo Trung Quốc nói như vậy mà VN có chịu nghe không mới là vấn đề chính!!!!????.

KQ: TRƯƠNG VĂN VINH
vinhtruong
07-02-2013, 08:27 PM
Như đã nhiếu lần trên bài nầy, với chứng cớ tôi đã viết trước những sự kiện sẽ đổi thay làm cho thế giới và nhứt là người Việt đánh đổi ngạc nhiên sau chuyến hội nghị bán chính thức (không thắt Cà-Vạt giữa 2 lảnh tụ Mỹ/TQ) Rồi sẽ có chuyến thăm viếng được MỚI mọc theo nghi lễ 1 tổng thống (khác với trường phái có thành kiến “đi-chầu”, “triệu hồi” …) Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang trong buổi hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Bắc Kinh ngày 20 tháng 6 năm 2013 và Tập Cận Bình quý vị sẽ ngạc nhiên, dù chính CTN Sang cũng bị ám ảnh đầy mặc cảm; Nhưng vì quý vị chóp bu ĐCS nầy chưa HIỂU, chưa “XÁC-ĐỊNH” vị thế VN sẽ là một nước VNCH thống nhứt trên thế mạnh trong lăng kính Secret Society

Một chiến lược lấy lại Hoàng Sa, Trường Sa
Có bao giờ TQ hiểu được cái bẩy Hoàng-Sa 1, 1974 là ngày Hải quân Mỹ gài bỏ lại thủy-lôi cho cuộc Hành quân Eagle pull 1975 rút về PACOM/Hawaìi?
Mỹ bật đèn Xanh, Quốc hội Việt Nam mới dám thông qua luật Biển tháng 8/2012, khẳng định HS, TS thuộc lãnh hải Việt Nam (dĩ nhiên có Mỹ nói nhỏ, không sức mấy VN dám…) Quốc hội TQ thông qua luật Biển năm 1992 cũng khẳng định HS, TS thuộc lãnh hải TQ. Trong khi các ủy viên BCT ĐCS VN phê và tự phê, trong khi các ủy viên TW ĐCS VN nhóm họp hội nghi 6, thì TQ tăng cường hợp pháp hóa chủ quyền của họ trên Hoàng Sa. Nhắc lại rằng chính TQ nổ súng, dùng hải lực chiếm đoạt HS của VNCH năm 1974.

Việc TQ bất chấp luật pháp quốc tế, cướp trắng trợn biển đảo của Việt Nam, đã đặt VN trước một tình thế khó khăn: con đường đòi lại chủ quyền trên Hoàng Sa bằng phương pháp hòa bình đã không tỏ ra có hi vọng, nhưng đưới con mắt người viết, thì VN nên đứng sau lưng Mỹ để dễ dàng lấy lại theo cái lý COC của kẻ mạnh. Trong quá khứ cứ mỗi khi bành trướng TQ căng phồng lên bệnh hoạn là Việt Nam phải đánh cho chúng những đòn chí mạng để răn đe chúng, điều nầy đã có tướng Nguyễn Chí Vịnh lên gân rồi, TQ phải rút giàn khoan tối tân rời khỏi 200 hải lý. Dù vậy, trước những tham vọng về biển đảo của Việt Nam, chiến tranh với TQ khó có thể tránh khỏi nhưng VN đừng sợ TQ rung cây nhát Khỉ. Tất nhiên, như đã trình bầy ở trên, cải cách dân chủ ở Việt Nam sẽ là con đường vẹn toàn nhất để đấu tranh đòi Hoàng Sa, Trường Sa, điều nầy Mỹ đang bấm đít Nguyễn Tấn Dũng từng bước cho đến thời-điểm decent interval. Nếu trường hợp phải dùng quân sự, Việt Nam nên chọn chiến thuật tiêu diệt toàn bộ các cơ sở hạ tầng của TQ trên Hoàng Sa, Trường Sa bằng hỏa tiễn mà không cần tập trung vào chiếm và giữ Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời hủy diệt đập thượng nguồn Tam Hiệp đầu nguồn sông Mekông thể hiện cứu sống vựa lúa ĐNÁ để nuôi sống con người, vì là nguy cơ làm nước biển tràn vào phá hủy mùa luá.
Không để người TQ làm chủ và khai thác HS, TS của chúng ta; Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hoàn toàn. Nếu chúng ta chưa khai thác được hôm nay, thì ngày mai các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ khai thác.
Việt Nam và Trung Quốc vừa thỏa thuận thiết lập ‘đường dây nóng về các vụ việc phát sinh bất chợt của hoạt động nghề cá trên biển’ Liệu những hình thức do Secret Society ngầm áp chế sẽ làm giảm thiểu các vụ tàu Trung Quốc tấn công tàu cá, bức hại ngư dân Việt Nam trên biển Đông hay không? Đây là hậu quả của 2 nhà lảnh đạo Mỹ/TQ vừa mới hợp khẩng bán chính thức. Cái loa secrets of the Tomb buộc TT Obama nhắc Tập Cận Bình hảy cho thé giới có niềm tin chiến lược nơi TQ, ngay sau khi nhân vật tay sai diển giả chính của cuộc họp Shangri-La đã buộc phải tuyên bố “Hảy giữ niềm tin chiến lược” làm thế giới và các phái đoàn phục lăn ra TT Nguyễn Tấn Dũng ăn nói như một danh nhân về chiến lược toàn cầu

Hoa Kỳ giúp VN về bảo vệ dân chài không bị hại qua “đường dây nóng”
Tàu đánh cá và ngư dân Việt Nam thường xuyên bị phía Trung Quốc bắt giữ, tấn công, trấn lột trên vùng biển Hoàng Sa, dù quần đảo này thuộc chủ quyền Việt Nam và bị Trung Quốc lấn chiếm năm 1974 trong khi đang đợi LHQ sẽ phân xử. Mỹ phải bảo vệ VN bằng lời khuyên điềm tỉnh kiên nhẩn đợi ngày LHQ phân xử qua COC, bởi lẻ nếu VN làm ẩu Mỹ không thể can thiệp để giúp VN như Nhựt Bản, Phi Luật Tân …có cam kết
Căng thẳng trên Biển Đông xuất phát từ tham vọng đại dương của Trung Quốc về sự khao khát dầu khí, nhưng khổ nổi nó nằm trong cái bẩy Secret Society dựng lên “Hoàng Sa 1/1974” và việc áp đặt đường chủ quyền 9 đoạn, gọi là đường lưỡi bò phủ trùm khắp Biển Đông, nơi Việt Nam và nhiều nước khác thực tế đã công bố chủ quyền, đồng thời Mỹ nhân dịp tạm bỏ sau lưng Biển TBD mà 200 trời Mỹ thống lảnh cho TQ vướng bẩy. Cũng may TQ hiểu được nên nghe lời khuyến nghị của Mỹ để bớt căng thẳng sống chung hoà bình. Vì có xung đột gây ảnh hưởng tham vọng dầu-khí thì Mỹ mới bán được một số vũ khí để cho các nước tự vệ; Hoa Kỳ đang thuyết phục VN vì lợi ích trong sự khôn ngoan phải tìm cách gia nhập khối thương trường TPP để Mỹ sẽ bán vũ khí cho VN bắt đầu 2014 theo đúng lịch trình Eurasian mà qua đó Putin đã thông báo với TT Dũng chương trình mua vũ khí Nga coi như chấm dứt
Nhân chuyến công du Trung Quốc của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ngày 19/6 vừa qua Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận thiết lập đường dây nóng để giải quyết những va chạm xảy ra trên Biển Đông mà phía bị hại luôn là tàu cá và ngư dân Việt Nam.
Theo nội dung được Trung Quốc Nhật báo China Daily phổ biến thì với cơ chế mới này, hai phía Việt Nam và Trung Quốc sẽ thông báo cho nhau trong vòng 48 giờ mọi hoạt động bắt giữ xử lý tàu cá và ngư dân của phía bên kia. Cơ chế đường dây nóng trên biển này được giao cho Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đảm trách.
Thiết lập đường dây nóng tức là hai bên trao đổi với nhau, thí dụ có những vấn đề gì vướng mắc trên biển thì có thể trao đổi trực tiếp để giải quyết. Tôi nghĩ việc này theo hướng rất tích cực mà Mỹ tạo ra biến động rồi chính Mỷ kiếm cách thuyết phục các bên nên giải quyết hợp lý theo mưu lược của Mỹ
Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng trưởng Tổng Cục Thủy sản nhận định rằng, một khi cơ chế đường dây nóng đã vận hành thì hy vọng sẽ giải quyết nhanh chóng những vụ phía Trung Quốc bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam, mà trong nhiều trường hợp kéo dài hàng tháng. Ông nói:
“Thiết lập đường dây nóng tức là hai bên trao đổi với nhau, thí dụ có những vấn đề gì vướng mắc trên biển, hoặc là hỗ trợ cứu nạn ngư dân gặp vấn đề gì mà bên nào thuận lợi trong việc hỗ trợ thì có thể trao đổi trực tiếp với nhau để giải quyết. Tôi nghĩ việc này theo hướng rất tích cực.” và dĩ nhiên nằm trong lộ đồ các bên phải giải quyết theo như mưu kế có lợi cho Mỹ là chánh

Tác dụng hạn chế vì địa chính trị
Do vị trí địa lý, các tàu đánh cá xuất xứ Quảng Ngãi thường hoạt động ở các ngư trường gần Hoàng Sa và phụ cận nên đã bị phía Trung Quốc làm hại nhiều nhất so với cả nước. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi, trong năm 2009 phía Trung Quốc đã bắt giữ 33 tàu và 433 ngư dân xuất bến từ Quảng Ngãi. Trong đó có 4 tàu và 48 ngư dân bị giam giữ ở đảo Phú Lâm, 6 tàu và 32 ngư dân phải nộp phạt từ 50 ngàn đến 70 ngàn nhân dân tệ tương đương từ 172 triệu tới 240 triệu đồng để được thả về. Số còn lại phía Trung Quốc tịch-thu toàn bộ tài sản, phương tiện, hải sản, nhiên liệu rồi đuổi ra khỏi Hoàng Sa. Cái quan trọng ở đây là gần giếng dầu của Mỹ EXXON nên Mỹ chỉ vẻ cho VN cách bảo vệ thềm lục địa một cách khôn ngoan củng chỉ vì quyền lợi Mỹ
Thế nên mới xảy ra Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang trong buổi hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Bắc Kinh ngày 20 tháng 6 năm 2013, AFP PHOTO là vậy
Những số liệu trong hơn 3 năm qua thì chưa được công bố, nhưng gần đây nhất vào ngày 20/5/2013 một tàu cá Quảng Ngãi đã bị tàu sắt có vũ trang của Trung Quốc trong đội hình 16 tàu, cố ý đâm thẳng vào tàu làm vỡ đuôi tàu, đe dọa tính mạng của 15 ngư dân trên tàu. Vụ việc xảy ra ở vùng biển chủ quyền Việt Nam chỉ cách đất liền Quảng Ngãi 130 hải lý, nằm trong chu vi Giếng dầu EXXON. Trước đó vào ngày 20/3 một tàu cá xuất xứ Quảng Ngãi đã bị tàu Trung Quốc bắn cháy cabin, trong lúc hoạt động đánh bắt cá bình thường ở ngư trường Hoàng Sa, đe dọa tính mạng và tài sản của ngư dân, nhưng TQ không đá động gì giếng dầu của Mỹ tại đây!.
Được biết tàu cá Quảng Ngãi 96382 khi gặp tàu Trung Quốc đã tự tránh xa nhưng tàu Trung Quốc cố ý đeo bám rượt đuổi khoảng 40 phút và khi lại gần đã nổ sung bắn cháy cabin tàu Quảng Ngãi.
Chúng ta nên trích lời ông Phạm Quang Thạnh, Thuyền trưởng Tàu Quảng Ngãi 96382 nói với Đài ACTD:
“Sau khi xoay tròn vài vòng bắt đầu em cắt hướng đi về hướng Đông ra khỏi vùng biên. Nhưng lúc đó nó đứng sát em nó dùng súng bắn thẳng vào tàu em. Lúc đó em đã chạy vào cabin, em nghe bốn tiếng nổ và phát hiện tàu em đã bị cháy ở cabin, nó bị bốc lửa và cháy. Lúc đó em hô tất cả anh em thuyền viên múc nước biển để cứu lửa. Lửa cháy gần bốn bình gas đang nằm ngay trên cabin, em sợ bốn bình ga này phát nổ thì trong tàu không ai sống sót nên em mạo hiểm tính mạng tới ngay cabin để dập tắt ngọn lửa.”

Chúng ta phải cho rằng đây chỉ là một tín hiệu thôi chứ còn khẳng định là nó có hiệu quả hay không thì chắc chúng ta phải chờ đợi. Dữ kiện nầy nó xảy ra nhịp nhàng với cố vấn Mỹ về Coast Guard đã được gởi qua huấn luyện cho VN về hình thức nhưng thực tế TQ phải đi vào khuôn khổ của Mỹ có dự mưu dựng lên nếu muốn cho các nước khác không cô lập TQ để cùng làm ăn với nha
Theo nội dung về việc “Thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển’ mà báo China Daily đưa tin thì hai bên báo cho nhau trong vòng 48 giờ, những vụ bắt giữ xử lý tàu cá và ngư dân của .phía bên kia. Như thế đường dây nóng sẽ có tác dụng rất hạn chế, không ngăn ngừa được những vụ tấn công như trường hợp tàu Quảng Ngãi bị bắn cháy
Thạc sĩ Hoàng Việt, chuyên gia luật quốc tế Đại học Luật TP.HCM nhận định:
“Trước mắt chúng ta ghi nhận thiện chí của cả hai bên Việt-Trung về việc này. Thông thường về phía ngư dân Việt Nam thì luôn luôn gặp khó khăn từ phía các lực lượng Trung Quốc và là lực lượng xuất phát của họ. Với việc thiết lập đường dây nóng này thì cũng là cách để lập một kênh để Việt Nam chính thức phản hồi và nó nhanh hơn. Và có lẽ nó giúp cho việc minh bạch hóa khi người lãnh đạo Trung Quốc hay đổ thừa rằng, do các địa phương làm và họ không kiểm soát hết. Chúng ta phải cho rằng đây chỉ là một tín hiệu thôi chứ còn khẳng định là nó có hiệu quả hay không thì chắc chúng ta phải chờ đợi.” Nhưng tác giả nghĩ, nếu có Mỹ đưa ra ý kiến thì thường thường TQ phải răn rắc nghe. Vì chuyện ngoài biển coi vậy nhưng không đánh kể mà cái TQ sợ nhứt là NỘI-BỘ TQ mới là cái nhức đầu ghê gớm cho Tập Cận Bình và nội các của ông. Hiện Bình đang chú tâm dẹp bớt nhân sự hiếu chiến về quân đội …”như cứ dùng quân sự lập lại Hoàng Sa 1974, như chuyện đã rồi?” tình hình ngày nay giao cho ảnh hưởng hiếu chiến của nhóm quân đội chỉ làm cho TQ bị chia 5 xẽ 7 mà thôi. Phải nghe lời Mỹ để tồn tại là thượng sách; Vì phải cần 30, 40 năm nữa thì TQ mới có sức mạnh bằng Mỹ
Sự phẫn nộ của người dân Việt Nam đã lên đến đỉnh điểm từ đó phát sinh hàng chục cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc, song hành với sự bắt bớ các người đấu tranh trong nước Việt cũng do tình báo Mỹ dựng lên. Cái ranh mảnh của Secret Society là làm cách nào và điều kiện nào cũng phải tham khảo cũng như phải nghe lời chủ đạo của Mỹ. Bắc Kinh không những lấn chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, lại còn gia tăng hành động tấn công, bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam hoặc cản trở hoạt động đánh bắt thủy sản vốn là kế mưu sinh của người dân các tỉnh ven biển Việt Nam. Nếu không có sự ngầm răn đe của Mỹ thì các nước cò con ở vùng nầy khó mà sống nổi
Người Việt Nam luôn cảnh giác những viên thuốc bọc đường từ Trung Quốc. Bắc Kinh sẵn sàng chi một ít viện trợ cho Việt Nam trong bối cảnh cán cân thương mại hai bên mất quân bình nghiêm trọng, Việt Nam nhập siêu với trung quốc hàng chục tỷ USD mỗi năm. Việc thiết lập đường dây nóng về va chạm hoạt động nghề cá trên biển Đông cần phải chờ thời gian mới đánh giá được hiệu quả. Nhưng như cảnh báo của Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã ở Saigon, cần đề phòng chuyện ‘nói một đàng làm một nẻo’ Đó là cái nghi ngờ sợ sệt của dân chài Việt, nhưng chắc chắn cái gì có anh Mỹ nhúng tay vào là êm suôi thôi, vì con đường duy nhứt là phải chung sống hoà bình nếu đi ngược lại là tự sát.
Kết quả thấy được sau chuyến gập gở không “Cà-Vạt” giữa Tập Cận Bình và Obama, rồi mọi chuyện sẽ trở nên “tốt đẹp” như cuộc tiếp rước nồng hậu (cười không bình thường mà chỉ nhe răng) với Thảm- đỏ và 21 phát súng đại bác chào tiếp đón Trương Tấn Sang thì rỏ

TRƯƠNG VĂN VINH
vinhtruong
07-05-2013, 04:48 PM
Báo Nga vừa có bài phân tích chiến lược “Trở lại châu Á” của Mỹ với trọng tâm là khu vực Đông Nam Á và những diễn tiến Nóng ở khu vực Biển Đông – Hoàn toàn đúng theo như tôi đã nhận định với chứng tích rỏ ràng trong bài “Dưới rạng Trường Sơn Tây”: Là phi công gián điệp tình báo Delta-Force, khi bay phát hiện 3 chiếc C-123 Provider phun thuốc khai quang một mạch từ Đèo Ban Raving đế 3 biên giới Việt Miên Lào, dưới đó được thả xuống vài trăm ngàn máy máy sensor phát tuyến để theo dỏi như Supervisor trông coi lính BV mở mặt bằng, và 6/14 triệu tấn Bom cho việc phá núi đá Vôi với hơn nữa triệu trái Bom BLU-117/B Penetrator và làm hồ chứa nước cho dân miền sơn cước Lào và bộ đội BV cũng như fill-up bình radiator cho xe Molotova
Trong những năm 60, chính quyền Ngô Đình Diệm và Kennedy đều bị Secret Society phỉnh gạt một cách tinh vi bằng chiến dịch phun thuốc khai quang có cái tên là “Ranch Hand” để làm tróng trải 2 bên bờ sông Saigon, đường sắt, và các quốc lộ huyết mạch cho VC không có nơi ẩn núp phục kích. Khi mọi việc êm trôi cho 38 đại công ty hoá chất có công ăn việc làm. Thình lình Harriman cho đổi sang cuộc “Operation Hot-Tip” rải thuốc trên trục Trường Sơn Tây, có ai hiểu được Secret Society đang mở mặt bằng làm Xa-lộ Liên Bang Đông Dương – “I.I.H” cho thế kĩ 21, vùng phục hồi kinh tế Nam Á trong thời bình lấy khuôn mẩu từ Hệ-thống “The Dwight D. Eisenhower National System of Interstate and Defense Highways” để phát triển kinh tế với giá thành thật rẻ cho toàn vùng dựa vào hệ thống xa lộ mà hiện nay nhiều giấy mựt và tiếng nói về Khối Thương Trường TPP của 12 nước, nhưng lại không chơi với TQ vì đồ DỎM!

Trọng tâm bài phân tích của tác giả Ian Nikolaevna Martynov, chuyên gia Viện nghiên cứu Luật – Tài chính quốc tế Ural Nga tập trung vào sự tăng cường rất lớn mối quan tâm trong lĩnh vực quân sự – chính trị cùng với những hành động và sự tham gia mạnh mẽ của chính quyền Washington, cụ thể là sự phát triển mối quan hệ đồng minh với Philippines và Thái Lan, tăng cường hợp tác hợp tác với các nước tiềm năng khác trong khu vực như Việt Nam, Indonesia, Singapore và Malaysia. Chính sách đối ngoại của Mỹ ở Đông Nam Á của chính quyền ông Barack Obama bao hàm các nội dung “Thắt chặt mối quan hệ đồng minh vốn có và phát triển các mối quan hệ đối tác chiến lược mới”. Có thể nhận thấy rằng, hội chứng Việt Nam có những hậu quả nhất định cho định hướng đối ngoại chính trị của Mỹ. Một thời gian dài sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã “LÀM-BỘ” không quan tâm nhiều đến khu vực Đông Nam Á và đã có không có chiến lược đối ngoại chính trị rõ ràng đối với khu vực đặc biệt này? (có nghĩa không ai them nghĩ đến bài “Dưới rặng Trường Sơn Tây?)

Tàu tác chiến ven bờ USS Freedom đồn trú tại Singapore và sắp tham gia cuộc tập trận với Philippines vào đầu tháng 7 tới ở Biển Đông; Sự tham gia của Washington vào những vấn đề khu vực chỉ giới hạn trong những phản ứng giãn đoạn có tính tức thời khi xuất hiện các cuộc khủng hoảng, còn các cuộc viếng thăm chính thức thì rất hãn hữu và được chuẩn bị sơ sài. Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-1998 là theo chu kỳ phải có trong lăng kính Secret Society. Chính quyền của ông Bill Clinton đã không giúp đỡ các nền kinh tế châu Á vượt qua khủng hoảng, trên thực tế trong suốt giai đoạn này đã để cho ASEAN chủ động dẫn đầu tiến trình hội nhập. Trong những năm đó, nội dung chiến lược chủ yếu của Mỹ tại châu khu vực châu Á-Thái Bình Dương tập trung vào sự phát triển của mối quan hệ với các nước Đông Bắc Á, Đông Nam Á chỉ chiếm vị trí ngoại biên trong chính sách đối ngoại. Secrets of the Tomb cho rằng “trời mưa sẽ rải nước đều khắp mọi nơi” nhưng không phải do trời đất mà so Skull and Bones 322 Conspiracy vì chưa tới thời điểm “roll-back”

Chỉ khi người Mỹ quyết định mở “mặt trận thứ hai” trong cuộc chiến chủ-động chống khủng bố sau sự kiện cuộc tấn công khủng bố ngày 11.9.2001, Washington bắt đầu mở rộng cấp độ tham gia của Mỹ vào các vấn đề của khu vực. Năm 2002, Mỹ và 10 nước trong khối ASEAN đồng ký Tuyên bố chung về hợp tác hữu nghị chống khủng bố quốc tế. Theo đuổi mục tiêu cuộc chiến với mạng lưới các tổ chức khủng bố và ngăn chặn các tổ chức cực đoan biến Đông Nam Á thành lò lửa của các chiến dịch khủng bố, Mỹ đã tăng cường hợp tác quân sự với các nước như Philippines, Thái Lan, Singapore và Indonesia. Nhưng cũng phải nhận định rằng, trong giai đoạn này, những lợi ích của Mỹ chủ yếu vẫn giới hạn trong khuôn khổ đấu tranh chống khủng bố quốc tế, chính sách hợp tác phát triển theo hướng phục hồi dần dần của các quan hệ quân sự – chính trị với các nước trong khu vực của Hoa Kỳ cơ bản trên quan hệ song phương. Vì 1975 Mỹ mở chiến dịch Eagle-pull rút về Hawaìi được gọi là “Di tản Chiến lược” với mục tiêu: (1) gài cái bẩy dầu khí cho TQ tham lam vướng vào, (2) rút bớt 2 căn cứ Không Hải tại Phi để tiết kiệm ngân sách bảo trì, (3) CIA kích thích phía quân sự TQ hung hăng để Mỹ bán một số vũ khí tự vệ … đợi đến thời điểm “roll back 2010” Mỹ sẽ trở lại TBD với sự Welcome nồng nhiệt của các nước cò-con vì bị TQ đang hù doạ run cây nhát Khỉ. (nếu không có CIA xúi TQ hù doạ thì mấy nước nầy cũng khó trị lắm) Lúc nào Mỹ cũng ở vị trí thượng phong, Secret Society cho rằng Mỹ thua trận ở VN sao địa vị bá chủ thế giới lại nằm trên đỉnh cao chói lọi mà nước nào cũng ngán Mỹ?

Trong suốt giai đoạn những năm 1990, sự thể hiện “không quan tâm” của Mỹ đối với Đông Nam Á (vì Mỹ đang lo đánh gục LX tại Trung Đông) đã cho phép Trung Quốc – đến lượt mình – phát triển mạnh mẽ các chính sách chính trị đối ngoại, kinh tế đối ngoại và tăng cường vị thế của mình mà không gặp sức cản nào đáng kể. Như nhà nghiên cứu người Trung Quốc Tao Venchzhao đã chỉ ra rằng, sự quan tâm của Mỹ chỉ thực sự xuất hiện khi mà người Mỹ phát hiện ra rằng, tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đã phát triển quá mạnh mẽ và bao trùm cả khu vực, cán cân lực lượng tại Đông Nam Á đã đi ngược lại lợi ích của phía Hoa Kỳ, nhưng không sao vì Mỹ có đến 100 chuẩn bị tĩ mĩ qua sách lược “Eurasian Great Game Strategy”

Trung Quốc tưởng bở đã lợi dụng sự lơ là của Mỹ để triệt để mở rộng ảnh hưởng về mọi mặt ở khu vực và thế giới
Theo thời gian mà Secret Society nhận thức về việc cần thiết phải tăng cường sự hiện diện của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á theo lịch trình 2010 “roll-back” chỉ xuất hiện vào những năm cầm quyền cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống George W. Bush.
Để chuẩn bị 2010 “roll-back” tiếp nối bằng một vị tổng thống có tính đặc thù trong lịch sử, tượng trưng 1000 lần dân chủ thì phải là lần đầu tiên nước Mỹ có một TT Da Màu! Đối với Secret Society thừa khả năng huyền biến thay đổi cả định luật, nguyên lý: (1) Chọn một người vô danh tiểu tốt như Obama thắng bà Đệ-1 phu nhân Hillary, (2) người da trắng thua da đen, (3) người nghèo thắng người giàu, (4) người TNS thiếu niến thắng thâm niên, (5) người tiểu bang nhỏ thắng TB New-York, (6) người chưa từng ở Bạch cung thắng người đã ở Bạch cung.
-Về nhân sự, cả 2 đảng vì lợi ích quốc gia, có bổn phận phải thuyết phục người đàn bà nặng về danh dự, tự ái nên hy sinh lãnh nhiệm vụ làm BTNG cho TT Da Đen để có uy thế ăn nói trật thượng với TQ
– Về BTQP phải là cựu trùm CIA và đương kiêm BTQP thời Thái tử Bush phải ở lại giúp TT Da Đen trong cương vị thượng phong

Như những gì tôi dẩn giải ở trên được thể hiện đầy đủ trong chiến lược chính sách đối ngoại của chính quyền Barack Obama là nhờ mưu lược Secret Society đi đúng trên trục Eurasian; Định hướng chiến lược được ca ngợi của Tổng thống Barack Obama trong chính sách năm 2009 với khẩu hiệu “Quay trở lại châu Á” (roll-back), đồng thời với sự thay đổi trọng tâm địa chính trị của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á cũng có nghĩa là một sự gia tăng rất lớn vai trò của Đông Nam Á trong chiến lược chính trị – quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương trong đó không ngoài Khối TPP mà tôi thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần để cho các chiến hửu lưu ý mà đừng có tư tưởng không muốn Mỹ giúp VN (là VNCH trong tương lai) gia nhập vào Khối TPP.

Một kế hoạch toàn diện cho sự trở lại của Mỹ với châu Á chính thức tuyên bố vào năm 2011 với những dự kiến tăng cường hệ thống các mối quan hệ đồng minh hiện có trong khu vực, làm sâu sắc thêm mối quan hệ với các nước đang phát triển, mở rộng sự tham gia của Mỹ trong quan hệ hợp tác đa phương hóa, đa dạng hóa, mở rộng thương mại và hợp tác đầu tư vào các nước trong khu vực, đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa và nhân quyền. Trong bối cảnh tình hình Đông Nam Á hiện nay, điều này có nghĩa là cần phải tăng cường củng cố và phát triển các quan hệ liên minh với Philippines và Thái Lan, hội tụ với các nước có tiềm năng phát triển trong khu vực như Việt Nam, Singapore, Indonesia và Malaysia, tăng sự tham gia vào hoạt động của các tổ chức đa phương của khu vực, bao gồm cả hợp tác với ASEAN, thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa trong các quốc gia trong vùng Đông Nam Á.

Để quá trình “trở lại châu Á” được thực hiện tối ưu nhất, bằng chứng là sự phát triển của các sự kiện, phương pháp hiệu quả nhất là sự can thiệp trực tiếp của Washington vào mối quan hệ hiện tại giữa Trung Quốc và một số các nước ASEAN và châu Á có những tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông.

Như vậy, cùng với sự tham gia của Washington bằng việc tăng cường quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines mùa hè năm 2010 là thời điểm TOT Roll-Back, vấn đề biển Đông trong một thời gian dài nằm trong trạng thái không định hình đã có những chuyển biến mới. Trong giai đoạn từ 2010 đến 2010 (10 năm trù dập TQ không bằng biện pháp quân sự thì bằng kinh tế, như bài đầu tôi đã dẩn giải), những hoạt động hợp tác quân sự song phương theo cơ chế liên minh quân sự được tăng cường mạnh mẽ, Mỹ giúp Philippines hiện đại hóa hải quân. Tháng 1/2011 cùng với Nhựt, cuộc đối thoại chiến lược song phương Philippines-Mỹ lần đầu tiên được tiến hành, được đánh dấu bằng việc ký kết một thỏa thuận thành lập các nhóm công tác nghiên cứu các vấn đề nhằm tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực bảo vệ lãnh thổ và an ninh hàng hải. Tháng 11/2011, bộ trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ và Philippines đã ký Tuyên bố Manila tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực quốc phòng. Các cuộc diễn tập quân sự chung Mỹ-Philippines đã diễn ra thường xuyên hơn.

Sự tham gia của Mỹ trong các vấn đề của Biển Đông được cụ thể hóa bằng một động lực mạnh mẽ trong phát triển của quan hệ Mỹ – Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực quân sự-chính trị. Những thể hiện gần đây nhất cho thấy mối quan tâm của Washington trong việc phát triển quan hệ với Việt Nam. Mỹ cần sự ủng hộ lớn từ nhiều quốc gia trong cuộc đối đầu tiềm tàng với Trung Quốc. Theo ước tính của các chuyên gia Mỹ, trong tương lai gần Việt Nam có thể phát triển thành quốc gia có “quyền lực trung bình” thể hiện một tác động đáng kể trong khu vực Đông Nam Á. Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, thượng tướng Đỗ Bá Tỵ lần đầu tiên đã đến thăm Lầu Năm Góc trong chuyến thăm hạ tuần tháng 6/2013, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác quốc phòng Việt-Mỹ.

Vì vậy, ngoài việc thực hiện thường xuyên các diễn đàn đối thoại thường niên Mỹ – Việt Nam từ năm 2008 trong khuôn khổ “Đối thoại về các vấn đề chính sách, an ninh quốc phòng” năm 2010 song phương đã đưa ra cơ chế tham vấn “Đối thoại trong các lĩnh vực quốc phòng”, thực hiện thường xuyên các cuộc họp giữa các đại diện của Bộ quốc phòng hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ.
Các chiến hạm của Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu thường xuyên thực hiện các chuyến viếng thăm các hải cảng Việt Nam. Trong tháng 8/2010, trong bối cảnh xung đột Mỹ-Trung Quốc ngày càng tăng về vấn đề tự do hàng hải trên biển, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt – Mỹ đã có một tuần diễn tập hải quân chung vì mục đích nhân đạo giữa hai nước trên vùng nước biển Đông.

Nói chung, những sáng kiến mà Hoa Kỳ và Việt Nam thực hiện trong những năm gần đây cho thấy ý định của hai nước đang nỗ lực đưa quan hệ song phương lên một tầm cao mới. Mặc dù vậy, vẫn còn thấy được trở ngại trong sự phát triển quan hệ của hai nước mà song phương phải nỗ lực vượt qua như sự khác biệt về chính trị giữa hai nước và những vấn đề còn lại của chiến tranh v.v… Các chiến hửu giữ vững niềm tin với bất cứ giá nào nước Mỹ và người nắm chính sách phải bắt buộc phục hồi danh dự cho gần 60.000 lính Mỹ hy sinh cho một trật tự thế giới mới “The New World Order Strategy” và phục hồi danh dự quân dân miền nam đã đấu tranh bên cạnh quân đội Mỹ cho một nền độc lập tự do và đồng thời “kết thúc” vở bi-kịch “Cuộc Chiến Chưa Dứt” bằng cách hoàn toàn hoá giải “Hội Chứng VN’ (Vietnam’ trauma)

Trong khuôn khổ sứ mệnh mà Tổng thống Mỹ Barak Obama đặt ra là tăng cường mối quan hệ đồng minh với các nước Đông Nam Á, các hoạt động nhằm thắt chặt hơn mối quan hệ với Thái Lan– đồng minh thứ 2 của Mỹ ở khu vực – cũng được đẩy mạnh. Thái Lan và Mỹ đã có những giai đoạn liên minh chặt chẽ trong các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, Việt Nam và Vịnh Persian. Không có căn cứ quân sự tại Thái Lan, Mỹ đã được phép sử dụng căn cứ không quân quân sự của Thái Lan Utapao vào năm 2004, điều này cũng giới hạn một phần chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á. Utapao hiện không phải là căn cứ đóng quân thường xuyên của Mỹ, mà chỉ là vị trí, nơi Mỹ có thể tiến hành các chiến dịch có giới hạn thời gian và các cuộc diễn tập quân sự song phương, đa phương ở khu vực này. Tất cả đều nằm đúng theo dư mưu của Mỹ

Thái Lan đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cơ sở vật chất và tổ chức huấn luyện của quân đội Mỹ như một cơ sở đặc thù cho các cuộc diễn tập quân sự thực binh của Mỹ ở châu Á. Mỗi năm, Hoa Kỳ và Thái Lan tiến hành hơn 40 cuộc tập trận chung, bao gồm cuộc tập trận đa quốc gia quy mô lớn hàng năm “Gold Cobra” trên lãnh thổ Thái Lan, một trong những cuộc tập trận chung lớn nhất trong khu vực do Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ tổ chức và tiến hành.

Tuy nhiên, trong thập kỷ qua cũng đánh dấu một sự phân kỳ các lợi ích chiến lược và xung đột thương mại tăng lên trong quan hệ giữa Mỹ và Thái Lan. Giai đoạn nguội đi của mối quan hệ liên minh song phương bắt đầu sau cuộc đảo chính quân sự ở Thái Lan 9.2006. Sự kiện này liên quan đến đến vấn đề tồn tại một chính phủ dân chủ ở Thái Lan, Washington đã dừng cung cấp viện trợ quân sự cho Thái Lan cho đến tháng 12/2007, khi tiến hành cuộc bầu cử chính phủ mới.

Mặc dù cả hai nước đã thiết lập lại sự hợp tác quân sự trên mọi lĩnh vực, những ở Washington vẫn tồn tại một sự không chắc chắn về liên minh chính trị – quân sự và sự duy trì những giá trị dân chủ của chính quyền Thái Lan. Sự không ổn định chính trị, những đợt sóng bạo lực trong các cuộc biểu tình trên đường phố đã làm cho Washington mất đi sự tin tưởng vào chính quyền Thái lan như một hình mẫu về chính quyền dân chủ trong khu vực Đông Nam Á.

Một loạt những điều kiện hoàn cảnh có thể làm suy giảm đi mối quan hệ liên minh giữa Mỹ và Thái Lan, điển hình là sự không ổn định về tình hình chính trị, xu hướng đòi ly khai của các tỉnh phía Nam, mối quan hệ ngày một tăng giữa Thái Lan và Trung Quốc. Nhiều chuyên gia đối ngoại của Mỹ đã chỉ ra những thoái trào trong quan hệ đồng minh Mỹ – Thái và cho rằng, Washington nên định hướng vào sự phát triển các mối quan hệ hợp tác với Indonesia hơn là với Thái Lan. Cũng có thể không hoàn toàn ngẫu nhiên mà bà Hillary Clinton, trong chuyến công du Đông Nam Á đầu tiên sau khi nhận vị trí Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đã thăm chính thức Indonesia vào tháng 2/2009.

Indonesia đã thu hút sự quan tâm của Washington do một số các đặc điểm, trong đó nổi bật là ảnh hưởng của mình trong khu vực ASEAN (Indonesia thậm chí còn được gọi là trung tâm địa chính trị của ASEAN), và có vị trí chiến lược vô cùng quan trong ở điểm giao nhau của các tuyến đường hàng hải thương mại huyết mạch nối Trung Đông và khu vực Đông Á (có vị trí gần Malacca, Lombok và eo biển Sunda), Indonesia cũng là nước lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á, có nền kinh tế năng động, chính quyền Indonesia thực hiện thành công việc chuyển đổi thành nhà nước dân chủ (Indonesia là đất nước có nền dân chủ lớn nhất ở Đông Nam Á và lớn thứ ba trên thế giới.), đồng thời Indonesia cũng là quốc gia Hồi giáo lớn nhất trên thế giới, nhưng thực hiện chính sách đối ngoại khá mềm dẻo, năng động và có trách nhiệm. Từ quan điểm đó, Washington đã đánh giá như một yếu tố quan trọng hoặc một mắt xích liên kết chủ chốt trong việc định hình mối quan hệ của Mỹ với thế giới Hồi giáo.

Mối quan hệ song phương giữa Mỹ và Indonesia phát triển rất nhanh chóng, sau cuộc tấn công khủng bố 11/9/2001, cả hai nước đã có những hành động mạnh mẽ cùng phối hợp nỗ lực chống khủng bố quốc tế; Tổng thống đương nhiệm tại thời điểm đó của Indonesia, bà Megawati Sukarnoputri (tháng 7/2001 – tháng 10/2004) là một trong những nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên lên án các vụ khủng bố 11/9, đồng thời bày tỏ sự cảm thông cho người dân Mỹ. Trong chuyến thăm cấp nhà nước của mình tại Mỹ tháng 9./2001, cả hai nước đã ban hành một tuyên bố chung Mỹ – Indonesia, trong đó đại diện hai nhà nước cam kết sẽ “mở ra một kỷ nguyên mới của hợp tác song phương dựa trên các giá trị dân chủ của mỗi nước và chia sẻ những quan tâm chung trong việc thúc đẩy sự ổn định và thịnh vượng trong khu vực.”

Cũng có những điểm mờ trong mối quan hệ Mỹ Indonesia, sự hợp tác tích cực giữa Mỹ và Indonesia trong lĩnh vực hoạt động chống khủng bố chỉ bắt đầu sau khi các cuộc tấn công khủng bố xảy ra trên đảo Bali tháng 10/2002 và tại Jakarta vào tháng 8/2003. Chính vì vậy, trong buổi gặp mặt chính thức giữa Tổng thống Bush và Bà Megawati Sukarnoputri tháng 10/2003, cuộc chiến chống khủng bố chung đã được coi là ưu tiên hàng đầu trong chính sách và quan hệ đối ngoại của hai nước.

Một sự kiện làm tăng cường mối quan hệ song phương Mỹ – Indonesia là quyết địch dỡ bỏ giới hạn về viện trợ quân sự của Mỹ đối với Indonesia vào được đưa ra vào năm 2005 do có những vi phạm về nhân quyền trên đất nướ này (điển hình là các vụ bạo lực xảy ra năm 1992 ở Đông Timo). Việc dỡ bỏ những những hạn chế này là minh chứng cho bình thường hóa các quan hệ trong lĩnh vực quân sự. Kết quả cho thấy, sự phân bổ những khoảng ngân sách viện trợ và bán vũ khí trong chương trình viện trợ quân sự cho Indonesia nhằm mục đích ổn định tình hình chính trị và bảo đảm an ninh đã tăng lên nhiều lần.

Tháng 11/2008, Tổng thống Indonesia Yudhoyono đề nghị phía Mỹ tăng cấp độ của quan hệ song phương lên tầm đối tác toàn diện. Và hai năm sau đó, sau khi tham khảo ý kiến thích hợp và kỹ lưỡng trong những lĩnh vực ưu tiên hợp tác, trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của tổng thống Mỹ Barac Obama đến Indonesia tháng 10/2010, các bên đã ký kết một thỏa thuận hợp tác song phương toàn diện, nâng quan hệ Mỹ-Indonesia lên tầm cao mới.

Sáng kiến là đối tác toàn diện đã tạo điều kiện cho tăng cường tham vấn song phương và thúc đẩy sự phát triển trên tinh thần hợp tác giải quyết các vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, trong khu vực và trên toàn cầu. Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác toàn diện đứng hàng đầu là an ninh, thương mại, đầu tư, năng lượng, biến đổi khí hậu và môi trường, giáo dục, dân chủ hóa xã hội dân sự. Chìa khóa cho sự thành công của sáng kiến này là thiết lập các cơ chế đối thoại ở mức cao nhất trên nhiều lĩnh vực hợp tác. Đến nay, các cơ chế đối thoại chiến lược song phương, đối thoại về quan hệ thương mại, chính sách phát triển năng lượng, trong lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe con người, thương mại và đầu tư. Với sự phát triển sâu rộng quan hệ đối tác toàn diện sẽ mở rộng danh sách các cuộc đối thoại ở cấp cao nhất.

Mối quan hệ chiến lược đặc biệt xứng đáng ở Đông Nam Á là mối quan hệ Hoa Kỳ với Singapore – đồng minh chính thức lâu dài của Washington. Chiều sâu của mối quan hệ chiến lược Mỹ-Singapore thường được các chuyên gia viện dẫn vì Singapore trong quan hệ quốc tế như là một ví dụ đặc trưng “đồng minh tốt nhất” của Mỹ ở Đông Nam Á. Mặc dù diện tích Singapore khá nhỏ, nhưng thành phố – nhà nước này có một vị trí quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ. Singapore – là “Con hổ châu Á” với một xã hội phát triển, một nền kinh tế năng động, sáng tạo. Có vị trí gần eo biển chiến lược quan trọng Malacca, là một quốc gia ủng hộ nhiệt tình những hoạt động của Mỹ tham gia vào các vấn đề của khu vực Đông Nam Á.

Ngoài ra đối với thương mại của chính phủ tích cực phát triển hợp tác quân sự. Singapore đã luôn ủng hộ ý tưởng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương và cho rằng sự hiển diện đó đóng vai trò quan trọng trong gìn giữ hòa bình và ổn định khu vực. Được song phường đồng ký vào Biên bản ghi nhớ “Memorandum” năm 1990 Hoa Kỳ được cấp quyền sử dụng căn cứ không quân Paya Lebar và hải cảng Sembavan trên lãnh thổ Singapore. Theo các các quy định của Bản ghi nhớ năm 1992, tại hải cảng Sembavan có Sở chỉ huy tham mưu điều hành cung cấp hậu cần kỹ thuật cho Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, điều phối triển khai các tàu chiến của Mỹ, trong đó có điều hành các đợt diễn tập quân sự, đồng thời cũng cung cấp dịch vụ hậu cần kỹ thuật cho toàn khu vực. Tại căn cứ không quân Paya Lebar trên cơ sở luân phiên thường trực tại Singapore là phi đoàn máy bay huấn luyện chiến đấu của Mỹ.

Những sửa đổi trong Bản ghi nhớ vào năm 1999 đã tạo điều kiện cho quân đội Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Changi của Singapore cho tiếp tế, bảo trì và các dịch vụ hậu cần kỹ thuật các tàu của Mỹ. Đồng thời, Changi cũng là căn cứ hải quân duy nhất ở Đông Nam Á thích hợp cho việc tiếp nhận và cập cảng tàu sân bay Mỹ. Mỹ và Singapore thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận chung, các tàu của Hải quân Mỹ thường xuyên tiến hành các chuyến viếng thăm các cảng của Singapore. Tháng 7/2005, Mỹ và Singapore đã ký một thỏa thuận khung mang tính chiến lược, chính thức hóa quan hệ hợp tác song phương về an ninh và quốc phòng, trong các lĩnh vực quan trọng như chống khủng bố, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tiến hành các cuộc tập trận chung, thực hiện các cuộc đối thoại chính trị và phát triển công nghệ quốc phòng. Một trong những minh chứng về sự phát triển sâu rộng mối quan hệ đồng minh quân sự cấp chiến lược là hai bên đã ký Thỏa thuận cho phép 4 chiếc tàu tuần biển hiện đại của Mỹ luân phiên hoạt động trên vùng nước ven bờ của Singapore tính từ năm 2012.

Cuối cùng, chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ trong khu vực cho thấy một mỗi quan hệ xích lại gần với Malaysia. Trong lịch sử, quan hệ Mỹ – Malaysia không phải không có những xung đột nghiêm trọng. Một mặt, hai nước đều có quan hệ thương mại hai chiều song phượng và quan hệ kinh tế khá mạnh và chặt chẽ. Mỹ và Malaysia cũng phát triển mỗi quan hệ hợp tác quân sự. Trong hợp tác quân sự có đối thoại và trao đổi kinh nghiệm rộng rãi, phối hợp đào tạo sĩ quan quân nhân, tiến hành các cuộc tập trận chung, gặp gỡ và tiến hành các chuyến viếng thăm thường xuyên của các quan chức quốc phòng cấp cao nhất của hai nước, các chuyến viếng thăm của các chiến hạm, Mỹ triển khai bán vũ khí cho Malaysia. Thường xuyên, mỗi năm có từ 15 đến 20 tàu của Hải quân Mỹ đến thăm các cảng của Malaysia.

Cuối cùng, một chính sách mới của Hoa Kỳ trong khu vực cho thấy một xích lại gần với Malaysia. Cần lưu ý rằng quan hệ Mỹ-Malaysia không phải không có tranh cãi nghiêm trọng. Một mặt, hai trạng thái này là thương mại liên kết đủ mạnh và quan hệ kinh tế. Mỹ và Malaysia đang phát triển hợp tác quân sự, đó là, đặc biệt, bao gồm trao đổi rộng rãi, đào tạo cán bộ quân sự, liên kết đào tạo, thăm đối ứng của các quan chức quốc phòng cấp cao của hai nước, chuyến thăm của tàu chiến, việc bán vũ khí của Mỹ. Vì vậy, mỗi năm từ 15 đến 20 tàu của Hải quân Mỹ đến thăm các cảng của Malaysia. Mặt khác, cả hai bên không phải một lần đã biểu thị những quan điểm khác nhau về các vấn đề trong khu vực. Malaysia là một nhà nước Hồi giáo và đã tuyên bố phản đối Mỹ xâm lược Iraq, cáo buộc Washington vào hành động khủng bố chống nhân dân Iraq đồng thời không đồng tình với quan điểm của Mỹ về khủng bố nói chung. Washington, ngược lại, bày tỏ những lo ngại về những mối quan hệ chặt chẽ của Malaysia với các nước không thân thiện với Mỹ như Iran và Sudan.

Tuy nhiên, tính từ năm 2009, khi chính quyền của ông Barack Obama và nội các Malaysia của ông Najib Razak lên thực hiện nhiệm vụ của mình, đã xuất hiện xu hướng cải thiện mối quan hệ song phương. Cuộc gặp cá nhân đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo nhà nước được tổ chức vào tháng 4/2010 tại Washington. DC trên bên lề hội nghị thượng đỉnh về an ninh hạt nhân. Bằng chứng về ý định của Malaysia nhằm cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ, ông Najib Razak đã đưa ra đề nghị trong cuộc gặp song phương là gửi tới Afghanistan một đội y tế quân sự. Đồng thời Malaysia vào đêm trước của hội nghị thượng đỉnh đã quyết định thắt chặt kiểm soát xuất khẩu nhằm mục đích thực hiện nội dung Không phổ biến hạt nhân. Từ phía Mỹ, ở một mức độ biểu trưng nào đó là chuyến thăm chính thức vào tháng 11/2010 của bà Hillary Clinton tại Kuala Lumpur, trở thành bộ trưởng Bộ ngoại giao đầu tiên của Mỹ thăm chính thức Malaysia tính từ năm 1995

Tóm lại, từ những kết quả đạt được của Mỹ có thể thấy, định hướng chiến lược đối ngoại của ông Barak Obama “trở lại châu Á” đã khá thành công ở Đông Nam Á. Trong một thời gian tương đối ngắn (2009 – 2011) Mỹ đã cho thế giới thấy được, dường như nhà nước Hoa Kỳ chưa bao giờ bỏ qua quan hệ với Đông Nam Á và hành động có chủ ý trở thành lực lượng ổn định hòa bình và an ninh khu vực.

Sự tham gia của Mỹ vào các vấn đề nóng bỏng của biển Đông đã là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng cường mối quan hệ đồng mình với Philippines và xây dựng mối quan hệ với Việt Nam. Trong mối quan hệ với Singapore, Indonesia, Mỹ đã đạt được sự hợp tác hữu nghị ở cấp độ cao và đã mang lại những thành quả thiết thực. Vẫn còn những tồn tại nhất định trong mỗi quan hệ với Thái Lan và Malaysia, nhưng đó là những vấn đề có thể kiểm soát được. Những hoạt động tăng cường hợp tác trên lĩnh vực quân sự – chính trị của Mỹ với các nước trong khối ASEAN đã tạo lên những lo lắng từ phía đại lục, thúc đẩy sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa Mỹ và Trung Quốc trong vấn đề gây ảnh hưởng trong khu vực biển Đông.

KQ: TRƯƠNG VĂN VINH
vinhtruong
07-17-2013, 04:42 PM
Secrets of the Tomb nhắm thêm 2 nhân vật tướng lảnh nữa để làm công cụ “tam đầu chế” trọng tài giữ gìn trật tự cho sự “diển biến thể chế”, ngoài tướng Nguyễn Ch í Vịnh được Harriman đặt vào ống kính khi còn 11 tuổi (1968), và hiện nay Mỹ còn tìm kiếm thêm 2 tướng Nguyễn Văn Hưởng và Tô Lâm cho thành bộ tam sên để điều hành từng bước cho cuộc chuyển hướng chế độ không khác gì Miến Điện
Trước 2010: Đả khá lâu, đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội nói cuộc gặp diễn ra hôm 11/9/2008 với sự tham gia của Phó trợ lý ngoại trưởng Scot Marciel, Đại sứ Michael Michalak và phía Việt Nam còn có Tướng Tô-Lâm và Đại tá Đào Tâm Châu. Cũng đả từ lâu Thượng tướng Công an Nguyễn Văn Hưởng phàn-nàn với Thứ trưởng Negroponte rằng Hoa Kỳ không ủng hộ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Ngày đó tưởng Hưởng may mắc được Negroponte (đại diện Skull & Bones 322) chọn vì khi còn tại chức đã tỏ ý trách cứ Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam ở Biển Đông trong cuộc gặp với Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ John Negroponte.
Còn quá sớm, nhưng theo diển tiến trong lịch trình tương lai thì Hoa Kỳ sẻ trở lại Thái Bình Dương vào đầu năm 2010 hay bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ 44 cho đúng thời điểm decent interval “Roll-Back”, móc thời gian sau cùng của lộ trình Eurasia 2010-2020, mười năm trù dập Trung Quốc
Vì tướng Hưởng không phải có lời phiền trách Hoa Kỳ khi không có một công ước pháp lý nào dính dấp sự bảo trợ Việt Nam như Philippine mà Mỹ có những điều khoản giao ước trước đó? Nhưng trớ trêu thay trước khi mản nhiệm kỳ TT Bush lại muốn đồng đều o-bế cả Phi và VN về chủ quyền Biển Đông bằng cách mặt đối mặt tại Washington vời lời bảo đảm cam kết chủ quyền cho Phi cũng như Việt Nam là thế nào? Phi thì Okay rồi, còn VN lý do trịch thượng chính là Hoa Kỳ cần VN phải nài nỉ với Hoa Kỳ là để danh chính ngôn thuận được thỉnh cầu cứu xét những sự kiện nêu trên!
Như sửa đổi nhẹ nhàng thễ chế, thể hiện qua nhân quyền là “diện” và kinh tế là “điểm” không có tắm máu, để Hoa Kỳ cứu xét cắt bỏ lịnh bán vũ khí sát thương càng sớm càng có lợi cho VN. Đó là mặt ngoại giao, còn mặt ngầm VN là con Ó-Con do Mỹ nhận đở đầu vì quyền lợi, nên đối với con Ó-Mẹ, nó còn quan trọng hơn những nước có cam kết (Phi, Nhựt, Úc …)

Tóm lại, sau 2010-roll-back, thái độ Mỹ hiện rỏ là ra mặt sau lưng VN; thí dụ VN không chịu vì bị áp lực của TQ thì Hoa Kỳ nhứt quyết giành lại VN từ tay TQ về phía Mỹ một cách keo-sơn vì điều dể hiểu đó cũng vì quyền lợi sống còn của Mỹ trong vấn đề độc quyền nắm chặc vòi xăng từ Trung Ðông qua tới Ðông Nam Á, nơi có lượng dầu khí đáng kể như hiện nay và quan trọng hơn hết Mỹ là ông Bầu Khối TPP
“Tướng Hưởng thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu không có sự hiện diện của Hoa Kỳ và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực. Theo tôi nghĩ: “Tướng Hưởng đòi hỏi quá sớm nhưng đối với Hoa Kỳ phải tuần tự đi theo từng bước theo lộ-đồ Eurasia bắt từ giai đoạn Roll-back tháng Bẩy, 2010 sau khi di tản chiến lược về Hawai 1973 bời hiệp định Hoà Bình Paris (Paris Talks)
“Tướng Hưởng nhấn mạnh rằng Việt Nam muốn có quan hệ tốt với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, nhưng Việt Nam không thể chấp nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.” Ðó nó cũng nằm trong lăng kính của Secret Society trong thế chiến lược toàn cầu vào 10 năm cuối Eurasian Great Game-1 (1920-2020)
Tướng Hưởng cũng nói với phía Hoa Kỳ ông hy vọng vấn đề Biển Đông sẽ được thảo luận kỹ ở đối thoại quốc phòng Việt – Mỹ trong tháng 10 năm đó; nhưng còn quá sớm mà đối với Mỹ là phải đợi đến thời điểm TOT Mỹ mới chịu ra tay.
Trước lời phàn nàn của Tướng Hưởng về chuyện Hoa Kỳ không ủng hộ Việt Nam ở Biển Đông, điện tín của Đại sứ quán Hoa Kỳ nói Thứ trưởng Negroponte nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ “có ủng hộ quyền kinh doanh chính đáng của các công ty Hoa Kỳ ở Việt Nam”. (Ðây là điều kiện mà Hoa Kỳ áp lực Hà Nội bắt nhốt một số luật sư hầu tạo uy tín cho họ có một Résume thật tốt để soạn thảo ra pháp lịnh đứng đắn hầu doanh nhân Mỹ sẽ đầu tư một số vốn khổng lồ vào VN với sự bảo đảm chắc chắn, tư bản Mỷ không thể yên tâm đầu tư vào một nước không có bảo đảm về pháp chế) Dù rằng Nguyển Tấn Dủng không muốn nhốt đứa con của một công thần đối với tổ quốc làm sức mẻ trầm trọng tình cảm giữa các đảng viên với nhau; còn như người mà Bộ chính trị ngứa gan muốn bắt nhốt là Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, nhưng Hoa Kỳ buộc phải thả ra ngay và dĩ nhiên công cụ của Mỹ là Nguyễn Tấn Dũng phải thi hành, đối với Dủng là không coi trọng Tổng Bí Thư mà Dũng mới thật sự là người nắm giữ guồng máy chính trị có sự đứng sau lưng của Nga và Mỹ. Thế là Dũng phải thả người Mỹ gốc Việt kiêm đảng khủng bố Việt Tân là Nguyễn Quốc Quân, vì khi bàn giao chế độ không tắm máu phải nhờ vào bàn tay của Nguyễn Quốc Quân đảng Việt Tân, không khác gì cách mạng 30/4 mang K-54 với băng đỏ bên cánh tay.

Biển Đông dậy song
Ngày nay, Biển Đông dậy sóng do Mỹ nhào nặn vì nhu cầu quyền lợi chính trị và kinh tế lấy Khối TPP là chính, nên các lực lượng vũ trang Trung Quốc thề trung thành với Đảng Cộng sản chứ không phải với đất nước. Các tướng lĩnh của Quân ủy trung ương không thể có quyết định đơn phương về bất kỳ hành động quân sự nào. Tuy nhiên họ có thể thể hiện quyền lực bằng cách thỏ thẻ vào tai các lãnh đạo của Đảng.( điều nầy đã có trong tầm nhìn của Secret Society mà những nhân vật chop bu của TQ cũng do Mỹ ngầm đưa lên như Đặng Tiểu Bình, Dương Trạch Dân và hiện nay là Tập Cận Bình, nên loài người yên trí như chiến lược gia Harriman (chết 1986) đã nói: “Thế kĩ 20 bạo hành, thế kĩ 21 thương lượng tại bàn KHQ”
Chúng ta hảy nhận định: “Ảnh hưởng của các tướng lĩnh trong Quân ủy sẽ là nhân tố chính quyết định xem liệu sẽ có hòa bình hay xung đột trong khu vực này,” thì câu trên đã trả lời cho các bạn
“Vào lúc này ảnh hưởng này có ý nghĩa hơn bao giờ hết bởi vì có quá nhiều vấn đề khu vực đang nằm trên lằn ranh giữa ổn định và thù địch như Biển Đông, Biển Hoa Đông, căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên, tương lai của Đài Loan và khả năng va chạm của không quân và hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc,”
Ảnh hưởng của các tướng lĩnh trong Quân ủy TQ sẽ là nhân tố chính quyết định xem liệu sẽ có hòa bình hay xung đột trong khu vực này. Tập Cận Bình sẽ rat ay dẹp thẳng thừng những tên ngu xuẩn muốn hủy diệt loài người
Bắc Kinh đang có một trò chơi chính trị trà dư tửu hậu là thử dự đoán ông Hồ Cẩm Đào có bám giữ chức chủ tịch Quân ủy trung ương thêm hai năm nữa như người tiền nhiệm của ông là Giang Trạch Dân đã từng làm hay không. Nếu ông không từ bỏ chức vụ này thì sẽ dẫn đến căng thẳng với Tập Cận Bình hoặc thậm chí thế đối đầu nhau trong hàng ngũ lãnh đạo tối cao của đất nước. Mỹ đã có phương cách giúp Bình trấn áp Đảo sơ khởi bung ra tin Đào có 2,tỷ 7 trong ngân hang thì đương sự rút cổ ngay … Những người biết chuyện cũng đang hồi hộp theo dõi xem vị tướng lĩnh nào sẽ nắm lấy các ghế còn trống trong Quân ủy…người của Bình sẽ nắm giử dễ dàng do tình báo Mỹ gài trong ổ kén.
Đã có các dấu hiệu sớm cho thấy các ủy viên Quân ủy đã được lựa chọn mặc dù danh sách cuối cùng vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, tìm cách võ đoán xem điều gì đang diễn ra trong hậu trường chuyển giao lãnh đạo quân đội Trung Quốc giống như là “nhìn vào chiếc hộp đen” như chiếc Asiana Airlines vừ bị nạn phi trường San Francisco

Hoa Kỳ nói thẳng với TQ qua lời của một đại tá cấp trung
Đại tá James Fanell phát biểu tại một hội thảo do Viện Hải quân Hoa Kỳ tổ chức: Một đại tá hải quân Mỹ bày tỏ quan điểm lên án Trung Quốc “bắt nạt láng giềng” chủ tâm là đừng hồng đụng đến con O-Con dù không có tấm giấy nào bảo đảm che chở, với thái độ về lãnh thổ biển đảo ngang ngược là “cái gì của ta là của ta, còn chúng ta sẽ đàm phán xem cái gì của các ngươi”.
Dĩ nhiên Mỹ cố tình muốn lời nói của Đại tá James Fanell phải được gây sự chú ý của dư luận và được báo chí tiếng Anh (khi có chiến tranh thường là Mỹ cùng Anh đi trước) trích lời sau khi phát biểu trong một đoạn video được trình bày ở một hội thảo của Viện Hải Quân Hoa Kỳ mới đây về Trung Quốc. Là một sỹ quan ở cấp phó tham mưu trưởng tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương, ông Fanell gọi thẳng TQ là “kẻ bành trướng” và đang ”bắt nạt các đối thủ” ở Thái Bình Dương.
Ông nói rằng hoạt động của Hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương chủ yếu để chống lại hạm đội của Hoa Kỳ. Đại tá Fanell cũng gọi các cuộc diễn tập của Hải quân Quân giải phóng Trung Quốc là “để thực hiện chiến tranh” và có mục tiêu “đánh chìm hạm đội của đối thủ mà Mỹ là chính”.

Đảng quyền và biển đảo gây ảnh hưởng trong và ngoài nước của TQ
Riêng về các chuyến ra biển của tàu hải giám Trung Quốc ông Fanell chỉ ra một cách nhìn nhận như sau: “Nếu bạn vẽ lại đồ họa các vụ quấy nhiễu của họ thì chúng hợp thành một tuyến có hình vòng cung mà theo thời gian đã rộng ra bao bọc lấy bờ biển các nước láng giềng của Trung Quốc, và trở thành đường chín đoạn, gồm cả toàn bộ Biển Đông…”
“Trung Quốc đang lựa cách chiếm đoạt nguồn tài nguyên của các nước khác ngay ngoài khơi bờ biển của các nước đó, theo cách cái gì của ta là của ta, còn chúng ta sẽ đàm phán xem cái gì của các người”. Nhưng nếu bạn là sỉ quan tình báo, và được báo chí Úc coi là người đóng vai trò cố vấn cho các cấp chỉ huy của Hoa Kỳ, Bạn cũng như Đại tá James Fanell cũng nêu ra cách giải thích vì sao Trung Quốc dùng chuyện biển đảo cho cả mục tiêu chính trị nội bộ.
“Trung Quốc đang cố ý hoạt động và tăng dần dần việc chiếm đoạt quyền hàng hải của các nước láng giềng thế chân Mỹ hay đẩy Mỹ ra khỏi vùng ảnh hưởng, và nhân danh lịch sử hải dương, điều bị phản đối trong cộng đồng quốc tế và nhứt là quyết liệt của Mỹ như Mỹ đã từng hiện diện nơi đây 200 năm” Mỹ rút về Hawaì 1975 gọi là “Eagle pull” là di tản chiến lược cho TQ dính chấu về cái “Bẩy Hoàng Sa” về sau nầy Mỹ sẽ làm chứng trong toà án quốc tế La Haye về vụ Phi kiện TQ, là TQ cưởng chiếm Hoàng Sa có phải là lúc đó Hạm Đội-7 có mặt làm nhân chứng? Dù quân VNCH xin cầu cứu người bị nạn ngoài hải phận quốc tế, nhưng Mỹ phải án binh bất động vì đang dọn nhà bàn ghế về Hawaì nên đành ngó lơ. Nên nhớ việc cứn nạn ngoài biển khơi đã không những LHQ không cấm mà còn khuyến khích!
Đại tá James Fanell: “Trung Quốc đang cố ý hoạt động và tăng dần dần việc chiếm đoạt quyền hàng hải của các nước láng giềng nhân danh lịch sử hải dương, điều bị phản đối trong cộng đồng quốc tế, nhưng đa phần được bộ máy tuyên truyền của chính quyền Trung Quốc ngụy tạo nhằm ‘giáo dục’ người dân về lịch sử hải dương giàu có của họ, chắc chắn là với mục tiêu dùng như một phương tiện duy trì quyền lực của Đảng Cộng sản.”
Trong phần về Việt Nam, ông nói qua những gì ông ghi nhận từ phía Việt Nam thì nước này đang hưởng lợi từ sự ổn định trong vùng và “mong muốn Hoa Kỳ ủng hộ cho cách tiếp cận đa phương” về biển đảo.
Ông nói không ai muốn một Chiến tranh Lạnh trở lại hay một cuộc chiến Mỹ – Trung, nhưng Hoa Kỳ muốn Trung Quốc có hành xử “như một quốc gia vĩ đại, đối tác có trách nhiệm”. Tuy nhiên, ông nói “đó không phải là điều” mà ông quan sát thấy trong một thập niên qua. ông Fanell cũng nói Trung Quốc nay đang tìm cách kiểm soát những vùng biển mà chưa từng được bât cứ chế độ nào mang tên Trung Hoa quản trị hay kiểm soát trong 5000 năm qua.
ABC gọi đây là một cuộc khẩu chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc vì một sỹ quan cao cấp của Trung Quốc cũng mới cảnh báo rằng Hoa Kỳ đang đóng vai trò ‘con hổ toàn cầu’ trong khi Nhật Bản đóng vai ‘con sói châu Á’ nhằm cắn xé Trung Quốc.
Thời gian qua, chính sách chuyển trọng tâm quân sự về châu Á của Hoa Kỳ do Tổng thống Barack Obama nêu ra được các nước trong vùng đặc biệt quan tâm.
Bản thân ông Obama sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ hai đã cùng Ngoại trưởng Hillary Clinton, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cùng nhiều quan chức Hoa Kỳ sang thăm châu Á.
Bên cạnh Úc vốn đã cho Thủy quân lục chiến Mỹ luân chuyển qua căn cứ ở Darwin, Mỹ muốn làm sống lại cam kết an ninh với Thái Lan, mà phát ngôn viên của Ngũ Giác Đài, ông George Little gọi là “có lịch sử 60 năm”.
Trong lúc Nhật Bản và Trung Quốc căng thẳng với nhau về vùng biển Senkaku/Điếu Ngư, Hoa Kỳ bày tỏ sự ủng hộ với đồng minh lâu đời là Nhật Bản.
Gần đây nhất, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ cử một nhóm chuyên gia bom mìn của Thủy quân Lục chiến tới Việt Nam vào tháng 7 năm nay để tham gia một chương trình nhân đạo, có LQLC mà đụng đến là có chuyện lớn. TQ đừng hy vọng gì đụng đến con Ó-Con đã trưởng thành và có móng vuốt luôn luôn sắt bén hơn TQ, nên nhớ lại cuộc chiến 1979, TQ đã muốn đưa giàn khoan tối tân vào 200 hải lý về thềm lục địa VN và vụ cả ngàn tàu đánh cá TQ phải âm thầm rút ra khỏi hải phận Hoành Sa ngược lại khi xuất quân thì ồn ào cho thế giới biết, nhưng sao khi rút rút về thì êm re như bò kéo xe vậy?
vinhtruong
07-20-2013, 02:53 PM
Secret Society đang quảng bá chính sách “Tái cân bằng” tại châu Á bằng cách nâng Ấn-Độ vào vị thế của Trung Quốc bắt đầu năm 2020, khởi đầu Eurasia Great Game-II (2020-2120) vì theo Siêu chiến lược gia Averell Harriman, Ấn độ sẽ không bao giờ có ý định chiếm ngôi bá chủ hoàn cầu của Mỹ ngoài TQ hiếu chiến, nhưng Mỹ cần giúp đở dân mình tiêu xài hang “tiêu-dùng” rẻ tiền một thời gian “Everything ONE DOLLAR” … rồi bứng xuống
Trong bài diễn văn về chính sách đọc tại Center for American Progress ở Washington hôm thứ Năm, Phó tổng thống Mỹ Joe Biden, người đại diệm New York Establisment nói rằng chính phủ của Tổng thống Obama đang cố gắng tạo mối quan hệ đối tác gần gũi hơn với các nước ven Thái Bình Dương, trong đó có những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, ý Biden nói sự quan trọng của Khối TPP.

Bài diễn văn được đọc trước khi ông lên đường vào thứ Sáu đến Ấn Độ, quốc gia mà ông nói ngày càng có tăng trưởng kinh tế và có mặt trên khắp châu Á theo sau lời cam kết gắng bó của Mỹ theo chiến lược Tam Quốc Chí Tân Thời mà Mỹ [Secret Society/Skull & Bones 322] tự cho có cái quyền thay đổi đối tượng theo từng giai đoạn

“Một trong những lý do tại sao Tổng thống Obama gọi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ là “một cuộc hợp tác sẽ định hình cho thế kỷ tới”, nói nôm na là theo siêu chiến lược Eurasia-II, đó là vì Ấn Độ ngày càng nhắm về hướng Đông, xem đó là trục lực lượng cho an ninh và tăng trưởng tại Đông Nam Á và xa hơn nữa. Đối với nước Mỹ chúng ta cho đó là một tin đáng hoan nghênh.

Sau khi ghé hai thành phố Ấn Độ New Delhi và Mumbai, ông Biden sẽ đến Singapore, quốc gia mà ông nói cũng là một lực kinh tế phát triển tại châu Á, nhưng lại không ưa TQ gì cho lắm

“Đầu tư của Mỹ tại Đông Nam Á sẽ nhiều hơn Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á như Singapore hoặc Indonesia đã trở thành những đối tác quan trọng qua mọi lĩnh vực, từ chống lan tràn vũ khí đến chống sao chép bất hợp pháp. Đó là lý do tại sao tôi đến Singapore.” Biden ám chỉ ghét cai ghét đắng TQ ăn cắp kỹ thuật cũng như trí tuệ thế giới với giá FREE

Ông Biden còn nói rằng Hoa Kỳ muốn giúp các nước châu Á thúc đẩy tăng trưởng bằng cách nâng cao chuẩn mực, giảm bớt rào cản và bảo vệ tài sản trí tuệ. Ông nói: “Tăng trưởng kinh tế rất cần đến hòa bình và ổn định. Vì thế cần phải có những quy luật hành xử của thế kỷ 21, chẳng những áp dụng cho kinh tế mà còn cho an ninh.”
Ý Biden muốn nói niềm tin chiến lược cho thế siêu chiến lược của Averell Harriman: Thế kĩ 20 bạo hành, thế kĩ 21 hợp tác cùng bảo vệ hoà bình cho một thế giới mới an toàn The New World Order.
Khì bay một phi vụ gián điệp biệt kích trên đường 559 tôi phát hiện 3 vận-tải cơ C-123 Provider đang xịt thuốc khai hoang làm vàng lá một lèo từ đèo Ban Raving xuống thẳng 3 biên giới Miên Lào Việt, trong tôi đã có một ý tưởng Xa lộ Liên Bang Đông Dương nằm song song bên đất Lào, cho đến nữa thế kĩ sau nó thành hiện thực cho sự kích thích kinh tế Khối TPP của Hoa Kỳ với 11 nước châu-Á tạo nên một hệ thống Xa lộ tận đến Trung Đông cho nên kinh tế bộc phát tương lai.

Chính phủ Mỹ đang nới rộng quan hệ với các đồng minh châu Á, ví dụ như tăng cường sự hiện diện quân sự, dù làm như vậy khiến Trung Quốc quan tâm. Nhưng có ai hiểu được theo chiến lược Tam Quốc Chí Tân Thời thì Hoa Kỳ đang chuẩn bị đồng sàng với Ấn Độ mà đang trên con đường trù dập TQ bằng sơ khởi không cho vào Khối TPP vì hàng zõm?

Tuy nhiên, ông Biden nói rằng chính phủ Obama không xem quan hệ với Trung Quốc là một quan hệ có xung đột không thể tránh khỏi, mà là một quan hệ có cạnh tranh và hợp tác nếu TQ muốn, nhưng nếu TQ muốn đánh lộn bằng võ “hồng mao” hay “chưởng lực” thì Mỹ cũng đành chấp nhận đấu vài chiêu thử xem sao!

Ông cũng trấn an các nước châu Âu rằng việc Hoa Kỳ nghiêng về châu Á không có nghĩa là sẽ lơ là hoặc làm thiệt thòi quyền lợi của châu Âu, bởi vì quan hệ với châu Âu là “nền tảng” của sự giao tiếp của Hoa Kỳ với phần còn lại của thế giới. Ông Biden là tiếng nói của Secret Society hiện nay về đường lối và chính sách Mỹ đang áp dụng

Liên quan đến Bắc Triều Tiên, Phó tổng thống Mỹ gọi chương trình hạt nhân của nước này là “mối nguy rõ rệt và thực sự” cho sự ổn định của châu Á, nhưng Hoa Kỳ sẵn sàng đàm phán với Bắc Triều Tiên, miễn là nước này sẵn sàng đàm phán “thật lòng.”

Ông nói rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cảm thấy tự do khi di hành tới khắp nơi tại Thái Bình Dương bởi vì về căn bản, sự thành công của châu Á gắn liền với sự thành công của Hoa Kỳ như bà Hillary đã thẳng thừng tuyên bố vào thời điểm “roll-back” tháng 7, 2010
-Nhân dân Mỹ rất ủng hộ kế hoạch này…Trước Úc sau Philippine sẽ mở thêm nhiều căn cứ để làm kho tàng và nhu yếu phẩm phục vụ cho Quân đội Mỹ…Nhật, Hàn vẫn giữ nguyên trạng…chỉ cần VN gật đầu Căn cứ Cam Ranh là chổ neo đậu tạm thời cho Tàu sân bay Mỹ là an toàn nhất và có thể kiểm soát trục lộ hàng hải quan trọng Biển đông. Điều nầy VN rất ao ước cũng vì sự bảo đảm không bị TQ gây rắc rối khi có Mỹ đứng sau lưng…Ấn độ sắp vận hành Tàu sân bay mới đóng cũng sẽ cho neo đậu Trường Sa, lang thang trên vùng biển VN….thế xong TQ, HKMH Liêu Ninh sẽ bị nhốt quanh quẩn Hoa đông để giao cho các hạm đội Nhật quản thúc….chiến lược tái cân bằng của Skull & Bones 322 quá hay.. TQ chỉ có đường chạy sang Nga cầu cứu… à mà nghe nói theo khuyến nghị của Mỹ: Nga cũng cho 150 ngàn quân tập trận dọc biên giới khu Viễn đông có ông Putin quan sát mục đích cũng ngữi được Trung Quốc chớ có tham lam khu Viễn đông xa xôi của Nga….thôi hết đường…Dân Nga cũng đang Bài TQ… thế là TQ chớ có dại làm mất lòng Chú Nga sô nhé….suy cho cùng TQ bị cả thế giới đều ghét…vì tham lam lưu manh gian xảo và ngông cuồng và ăn cắp trí tuệ….
VN khôn ngoan hùa theo Mỹ một cách rỏ rệt đúng theo chiều cơn gió thuận. Đã đến thời điểm trắng đen hiện rỏ, có liên quan gì đến việc Chủ Tịch Sang đi Mỹ. VN “đột ngột” lên tiếng phản đối Trung Quốc mạnh mẽ ít nhứt là lớn tiếng đòi bồi thường về hành động thô bạo phá hại tài sản của dân chài VN. Người viết muốn nói hơi ngồ ngộ và hơi ngạc nhiên ở chổ chuyện “ăn hiếp” đã xảy ra từ khuya rồi, nổi bật gần hai tuần qua (ngày 7 tháng 7), mãi đến bây giờ VN mới chính thức lên tiếng “phản đối quyết liệt và còn đòi bồi thưởng” nữa, có phải nhân lúc ông sang chuẩn bị sang Mỹ, nên Bonesman, Kerry nói nhỏ đã đến lúc ăn nói mạnh dạng lên “my young buddy “Bald Eagle”

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao VN, ông Lương Thanh Nghị, lúc trả lời báo chí cho hay “những hành động như thế đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN trên vùng biển đảo Hoàng Sa, cũng như công pháp quốc tế trong vùng Biển Đông”
-Chiếc tàu Hải Giám TQ mang số hiệu 306 đã rượt đuổi hai tàu QNg 9687 TS và QNg 90153 TS khi họ đang đánh cá bình thường xung quanh quần đảo Hoàng Sa của VN.

Thủy thủ của chiếc Hải giám 306 còn trèo qua lên hai tàu VN, khám xét và đánh đập các thủy thủ VN, phá phách đồ đạc ngư cụ và còn cướp đi một số tài sản của hai chiếc tàu VN. (Cái hành động thô bạo nầy theo con mắt méo mó của tôi là CIA muốn dựng lên hoạt cảnh để giúp Trương Tấn Sang có cớ mà nhảy thẳng vào Mỹ cầu cứu cho rồi chớ đợi đến bao giờ)

Ông Nghị cho biết Bộ Ngoại Giao VN đã “dám” trao công hàm phản đối chuyện này cho đại diện của Tòa Đại Sứ TQ ở Hà Nội, yêu cầu phía TQ phải điều tra nghiêm chỉnh vụ này và đền bù thỏa đáng cho các ngư dân VN

Chuyến đi thăm Hoa Kỳ sắp tới của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, được loan báo vội vã, đã khiến truyền thông quốc tế chú ý tới hướng đi tương lai cũng như chính sách đối ngoại của Việt Nam có thể sẽ đổi chiều.

Tin của Vietnamnet hôm nay xác nhận ông Trương Tấn Sang đi thăm Hoa Kỳ từ ngày 24 tới ngày 26 tháng 7 thể theo lời mời của Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama. Mục đích của chuyến đi là để thảo luận về hướng đi tương lai của các quan hệ song phương.

Vietnamnet trích lời người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị hôm qua nói rằng chuyến đi Mỹ khẳng định “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, tích cực hội nhập quốc tế” của Việt Nam.

Trong khi đó, trên trang mạng của Đại học Yale, YaleGlobal, một nhà cựu ngoại giao Mỹ và giờ là một nhà báo, tải lên một bài viết với hàng tít “Vietnam Between Rock and a Hard Place”, nói lên vị thế rất tế nhị của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tác giả David Brown nêu nghi vấn: “Liệu có phải nỗi thất vọng với Trung Quốc là nguyên do khiến Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang vội vã lên đường sang Washington?” Theo tôi nghiên cứu, cái gì từ Đại học Yale là nguồn tin bong bong dò xét dư luận, nên ông David Brown là một nhà ngoại giao đã phục vụ tại Việt Nam trong nhiều năm. Ông nhận định rằng các chuyến đi thăm của các nguyên thủ quốc gia thông thường cần nhiều tháng để chuẩn bị, nhưng chuyến đi của Chủ tịch nước Việt Nam lần này được loan báo vội vã, và sau một cuộc tiếp xúc với lãnh đạo Trung Quốc “rõ rệt đã gây sốc” cho giới lãnh đạo tại Hà nội, là câu nói hay và đáng nghiên cứu nhứt

Bài báo đặt câu hỏi phải chăng ông Trương Tấn Sang và giới lãnh đạo hàng đầu khác của Việt Nam đã quyết định “trả cái giá mà Hoa Kỳ đã đòi để thiết lập quan hệ chiến lược là hoàn toàn đúng đi thẳng vào mục tiêu của Secrets of the Tomb?”

Trong một cuộc điều trần trước một tiểu ban quốc hội Hoa Kỳ hồi đầu tháng 6, các giới chức Bộ Ngoại giao Mỹ nói việc siết chặt các quan hệ với Việt Nam, đặc biệt là việc bán vũ khí cho Việt Nam, sẽ được hoãn cho tới khi nào có những “cải thiện lâu dài, có thể chứng minh được trong tình hình nhân quyền tại Việt Nam.” Nói là nói thế trong ngôn từ chính trị, nhưng trong kế hoặch chiến lược, Mỹ rất cần sự gắng bó với VN là quyền lợi Mỹ America-first trên hết

Tác giả nhận định rằng làm như thế, các giới chức chính phủ Mỹ đã công khai ghi lại những vấn đề họ đã đặt ra trong các cuộc tiếp xúc riêng tư, không ồn ào, với các giới chức Việt Nam trong vài năm qua là nằm trong kế hoặch ước tính.

Thông điệp đưa ra trong cuộc điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ dường như không được Hà nội lắng nghe, nhiều khi được lịnh khoan nghe … hảy từ từ vào đúng thời điểm rồi hảy nghe. Theo hãng tin AP, nội trong năm nay, 43 nhân vật bất đồng chính kiến đã bị bắt giữ, gấp đôi số người bị bắt giữ trong năm 2012. Cái nầy là do Mỹ xúi bộ tam sên tướng-lảnh làm nên cho chương lịch của đường lối hành động phải có như ngọn đền dầu bùng lên trước khi tắt lịm

Ngoài ra, còn có chứng cớ cho thấy cánh an ninh mạng của cảnh sát Việt Nam đã tung ra công nghệ theo dõi mạng FinFisher (dụng cụ điện tử tối tân nầy do CIA cung cấp để theo dỏi, dĩ nhiên CIA phải bảo vệ chế độ Mafia nầy trong chiến lược post war của The Social Scientists War) để cài đặt phần mềm theo dõi hoạt động của dân mạng khi họ truy cập các trang blog của các nhân vật bất đồng.

Riêng băng nhóm Nguyễn Phú Trọng vẫn tỏ thái độ bực dọc trước lời kêu gọi của Hoa Kỳ, hối thúc Việt Nam cải thiện nhân quyền. Người viết cho rằng một số thành phần trong Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cản trở việc nới rộng các quyền dân chủ vì lo sợ mục tiêu tối hậu của Hoa Kỳ là lật đổ chế độ đương quyền, duy chỉ có TT Dũng và Sang là trong lòng đang hồi hợp mở cờ sung sướng!

Chiến dịch đàn áp và bắt bớ giới blogger, không ngừng gia tăng trong thời gian qua, nhưng từ ngày Nhóm Trọng định làm ẩu thì được bộ tam sên đưa bà Cù Huy Hà Vũ qua Mỹ và không đụng chạm gì đến Bloggers nữa mà còn xúi họ đồng lòng biểu-lộ đòi hỏi xóa bỏ điều 258. Theo người viết, dường như biểu hiện xu hướng ngả về Trung Quốc, trong khi giới bất đồng trong mấy năm gần đây ngày càng lớn tiếng đả kích điều mà họ cho là sự thất bại của nhà cầm quyền tại Hà nội trong việc bảo vệ các lợi ích của quốc gia trước thái độ gây hấn của Bắc Kinh trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông.
Chúng ta cũng cảm nhận rằng mặc dù các lực lượng không quân và hải quân của Việt Nam không phải là không đáng kể, nhưng còn lâu mới có thể được coi là đối thủ của các lực lượng hải, không quân Trung Quốc. Do đó, thay vì tăng nguy cơ xảy ra xung đột trong cuộc tranh giành lãnh thổ lãnh hải với Trung Quốc, nhà cầm quyền tại Hà nội đã tìm cách kiềm hãm thái độ khiêu khích của Trung Quốc bằng cách dựa vào các đối tác khu vực trong khối ASEAN, và thiết lập “các quan hệ chiến lược” với Hoa Kỳ và các cường quốc ngoài khu vực khác là lẻ đương nhiên
Người viết nhận định kết quả của các nỗ lực ngoại giao đó của Việt Nam cho tới nay, tương đối khiêm nhường. 10 nước hội viên ASEAN vẫn chưa thành lập được một mặt trận thống nhất để đương đầu với những đòi hỏi chủ quyền quá đáng của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Rồi đây Hoa Kỳ sẽ gợi ra sáng kiến thành lập một khối liên minh quân sự như NATO tại vùng ĐNÁ
Trước tình hình đó, Washington và đa số các nước ASEAN khác tuyên bố “không ngả về phe nào”, và tìm cách lảng tránh, không trực tiếp thách thức tham vọng bá quyền của Trung Quốc trong các vùng biển giữa Hong Kong tới Singapore.

Trước tình hình ngày càng cấp bách, một số nhân vật ngoài Đảng và một phe phái đáng kể trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hối thúc Hà nội hãy thiết lập quan hệ kinh tế và quân sự –trên thực tế- với Hoa Kỳ có nghĩa chờ đợi gì mà không nhảy vào ôm TPP
Mặc dù nhiều giới chức cao cấp trong Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tỏ thái độ hoài nghi trước “những động cơ ”của Washington, nhưng trong 4 năm trở lại đây, các cuộc tham khảo giữa Hà nội với các lực lượng quân sự Mỹ đã gia tăng một cách hệ thống như chương trình sắp sẳn, có thể nói là ngoạn mục. Chẳng hạn, hồi tháng 6, các giới chức quân sự cấp cao Việt Nam đã đi tham quan các căn cứ quân sự Mỹ. Vì nó nằm trong chương trình “chiêu-hồi” ngấm ngầm để trở thành một nước VNCH

Người Việt nhận thấy sau chuyến đi thăm Trung Quốc, ông Trương Tấn Sang đã không mang về thành quả nào, ngoại trừ lời hứa Trung Quốc sẽ đề ra những bước hành động “hiệu quả và triệt để để giải quyết sự bất quân bình trong cán cân thương mại song phương” tới 16 tỉ đôla, nghiêng về hướng có lợi cho Trung Quốc.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Hoa Kỳ là dấu hiệu cho thấy lãnh đạo Việt Nam đã bị chấn động vì những gì Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói với ông Trương Tấn Sang trong vòng riêng tư, và đó là lý do đã khiến Hà nội tỏ ra sẵn sàng hơn trong cố gắng xích lại gần Hoa Kỳ, với mục đích “thiết lập các quan hệ quốc phòng mật thiết hơn với Washington”. Nó nằm trong diệu kế của Secret Society CIA một mặt xúi bẩy nhóm quân sự TQ làm ẩu để VN núp sâu vào sau lưng Mỹ

Tuy nhiên Tổng Thống Obama sẽ không hài lòng với những cử chỉ thiện chí có tính cách hời hợt, như hoãn lại vụ án xét xử một nhân vật bất đồng nổi tiếng, luật sư Lê Quốc Quân, vì như chính phủ Mỹ đã thừa nhận trước diễn đàn quốc hội hồi tháng trước, “nhân dân Hoa Kỳ sẽ không ủng hộ việc nâng cấp các quan hệ song phương với Việt Nam, trừ phi có những tiến bộ có thể chứng minh được trong lĩnh vực nhân quyền.”
vinhtruong
07-24-2013, 12:52 PM
Nhân ngày sinh nhựt thứ 90 của W A Harriman, người em út cuối cùng cũa dòng họ Kennedy còn sống là Edward Kennedy lại tuyên bố: “We couldn’t have held the twentieth century without him” Nếu không có ngài nước Mỹ và loài người không thể sống trong một trật tự thế giới mới [The New World Order] như thế kỷ-21 nầy.
Tất cả vì quyền lợi quốc gia, người em Út phải quyên đi món nợ thù nhà, mà hướng về sự hùng mạnh của tổ quốc cờ hoa.
Trong lăng kính của chiến lược gia hoàn-vũ, Averell Harriman, Thế kĩ 21 tất cả mọi nước phải hợp tác mổ xẻ mọi việc trên bàn mổ LHQ để tránh các nguy cơ không những do nhân tạo mà thiên tạo: Không khí nóng dần, bảo-lụt, hạn hán, đất xụp, động đất, nước biển dâng cao, bệnh hoạn kỳ dị, vi trùng không chịu chết, thiếu thực phẩm, nguyên vật liệu, nước ngọt cho môi trường sống …
Hệ quả, sau cuộc họp xăng tay áo, không Cà-vạt tại California giữa 2 nguyên thủ Mỹ/TQ, để rồi Tập Cận Bình cảm nhận phải ngoan-ngoản nghe lời Obama mà trải thảm đỏ, bắn 21 phát súng chào đón “tổng thống nhậm-chức” Trương Tấn Sang và “thủ tướng giả-định” Nguyễn Thiện Nhân cho cuộc họp cam kết không đánh nhau tại Biển Đông, vì Obama đả nhiều lần cảnh báo TQ không nên làm ẩu chuyện đã rồi mà Mỹ không có cam kết bảo vệ VN, còn như Phi, Nhựt, Úc … (làm thử đi thì biết liền)
Obama kể chuyện đời xưa, Hoa Kỳ đánh chìm các tàu dầu của Nhựt từ mũi Malacca đến biển đông bắc 1941 mà bây giờ chỉ có khác là TQ bị bao vây tứ phía như vừa rôi Nga tập trận với 150.000 quân với mục tiêu cũng ngăn chận TQ làm ẩu vùng phía đông xa xôi của Nga … bao nhiêu đó thôi thì Bình cũng ớn da gà rồi. Obama cũng bồi thêm một phát, nhắc lại chuyện Mỹ ra lịnh ngầm: Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nghe lời Mỹ thọt Rockets phòng thủ thềm lục địa khi TQ định toan đem giàn khoang dầu tối tân đóng trụ (sâu 3000 thước) của TQ vào sâu 200 hải lý và vụ tướng Vịnh cho bắn Rockets “hên xui như chim mổ” ra biển diển tập, làm TQ khi xuất quân cả ngàn thuyền chài ra Biển Đông thì la-lối ồn ào, rồi phải rút lui trong im lặng …

Chuyến thăm của Trương Tấn Sang là mục tiêu ưu-tiên cần thiết để gia nhập Khối TPP mà ông Bầu là Mỹ … thật ra ai cần ai? Như Bà Hillary đọc diển văn vào tháng 7, 2010 “roll back” Nhưng theo tôi, “cả hai đều cần nhau”: Mỹ là ông Bầu, VN là “bãi đỗ hàng”, hai bên nương nhau vì quyền lợi cốt lỏi cho cả hai.
Thế kĩ 20, trên Đường 559 mà tôi tự đặt tên là Xa lộ Harriman khi bay phi vụ gián điệp thấy 3 vận tải cơ C-123 Provider xuất hiện phun thuốc khai hoang làm vàng lá (tracking) thì ngày nay nó đã là Xa lộ Liên Bang Đông với 6 lanes, là tuyến phát xuất “bải đổ hàng” cho Khối 12 nước trong thương trường TPP, gồm cả một hệ thống xa lộ chằng chịt nhiều hơn tại TQ là do sự xúi giục của tình báo Mỹ trên đất Miến Điện chạy dài tới Ấn Độ Dương cho chương trình hậu chiến toàn vùng mà đầu thế kĩ 21 CIA đã ngầm cho Miến điện có cuộc thay đổi chế độ trước VN, theo đúng nguyên lý: vì quân-phiệt trước, ý thức hệ sau. Đó là lý do Secret Society “móm” cho TT Dũng làm bộ khuyên Miến Điện trước, là phải có Dân-quyền, Dân chủ, rồi TT Dũng sẽ tính VN sau, kéo dài thêm một thời gian và tự ý xuống trong êm đẹp mà chúng ta gọi là hạ cánh an toàn như ngày hôm nay từ từ chuyển qua tay Trương Tấn Sang cùng phối hợp với Đảng Việt Tân trong êm đẹp!
Từ giờ phút nầy, Hoa Kỳ không còn liên lạc thẳng với con bài “Tẩy” đã lộ ra cho mọi người thấy. Nguyễn Tấn Dũng đã hết ứng hiệu vì bị Secret Society sử dụng Dũng như một con tin cho mục tiêu chiến lược tàn ác và hủy diệt nền kinh tế. Tin thất sủng nầy Secret Society giao cho Putin ngầm cho Dũng biết lúc Dũng vừa đi thăm Nga theo lịch trình có sẵn, đồng thời bên TQ, cũng như Lý Khắc Cường, Tập Cận Bình đã tiếp đón con bài tẩy “úp” rất sáng giá, Nguyễn Thiện Nhân đã đào tạo bài bản ở Mỹ, đang làm mũi nhọn cho toán chuyên viên lớp Fulbright sẽ lãnh đạo toàn cõi VN bằng mũi nhọn lót đường can đảm của Nguyễn Tấn Dũng

Vì thế Mỹ phải thiết lập nền tảng cho mối quan-hệ sống còn của Mỹ/Việt
Tổng thống Mỹ Barack Obama và Ðệ nhất phu nhân Michelle Obama chào đón tổng thống nhậm chức Trương Tấn Sang của Việt Nam và phu nhân tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Honolulu, Hawaii, ngày 12 Tháng 11 năm 2011 đã làm cho Đệ nhất phu nhân tuyệt đẹp tài ba của TQ phải bị rơi vào cảnh tũi nhục, trong khi ngàn trùng dương qua đến tận Mỹ mong gặp Đệ nhất phu nhân Obama niềm nở đón chào, còn bà nhà quê búi-tó VN lại được Michel vượt đại dương qua tay bắt mặt mừng. Có lẽ nhiều người không biết nguyên nhân tại sao vậy kà ? (nên đọc bài số 66 “TT Dũng sẽ tự ý xuống” thì rỏ).

Đây là giai đoạn cuối để chuyển qua Kế-sách “Pre-Eurasia-II Project 2020-2120”
Đứng trên góc cạnh Secret Society, Mỹ rất cần VN và VN cũng rất cần Mỹ như sự đón tiếp 2 vợ chồng Trương Tấn Sang tại Hawaì 2011 và tại Mỹ vào nay mai, cũng sẽ tái diển tiếp nối thân mật như thuở nào vì cùng chung giòng máu Bald Eagle (nên xem bài số 66 “TT Dũng sẽ tự ý xuống”). Chúng ta hảy so sánh phân biệt cuộc đón tiếp giữa cặp vợ chồng Tập Cận Binh, thì thấy rỏ dù Đệ-1 phu nhân VN “nhà quê búi tó” và giai nhân tuyệt sắc khác nhau tại sao?

Mỹ khống-chế Biển Đông qua tận bờ đông Phi Châu.
Căn cứ Theo sách lược của Secret Society, TT Obama phải vẫn quyết đặt trọng tâm vào Châu Á: Bất chấp thực tế về việc bị “kẹt” giữa một loạt các cuộc khủng hoảng như Ai Cập, Syria, vụ Snowden, Afghanistan…, Obama vẫn duy trì trên trục lộ đồ “roll-back”, quyết theo đuổi chiến lược chuyển hướng trọng tâm vào Châu Á-Thái Bình Dương vì TPP. Trong thời gian qua, người ta chứng kiến Mỹ đang chuyển dần từ việc can dự quá mức vào thế giới Hồi giáo ở Trung Đông và Trung Á sang chiến dịch tiến sâu vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương vì Khối TPP, sống còn của Mỹ với một lực lượng quân sự hổn-hợp tuyệt mật để áp đảo bất cứ lực lượng nào ngăn cản
Thế nên, Hoa kỳ khuyến nghị Hải-lực Ấn-độ cùng VN phải khống chế từ Biển Đông về lại Ấn Độ Dương mà trọng điểm là eo biển Malacca; Còn Nhựt Bản lo vùng Đông Bắc TBD đến vùng biển THQG
Như một mô hình nhỏ bị lơ là của thế giới, ngày nay, Ấn Độ Dương giữ vị trí trung tâm trong cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa Mỹ và các cường quốc ở Ấn Độ Dương. Nhớ lại cách đây hơn nữa thế kĩ, chính Averell Harriman người nắm giữ chính sách đã vận dụng OSS, rồi CIA khuyến dụ Mao Trạch Đông, ngay sau khi phi đội CAT của CIA sẽ cưởng bức di tản Tưởng Kinh Quốc và phe nhóm ra khỏi lục địa nhường cho Mao thống lảnh để làm nghèo phần đất phía đông châu-Á một thời gian bằng cách Mao phải chia Triều Tiên và Việt Nam ra làm hai quốc gia copy y chang Đông và Tây Đức. Điều quan trọng là đem vài triệu dân Tàu vào ở lậu trên phần đất Miền Điện và lén lút làm một xa-lộ từ Côn Minh dọc theo sườn đông biên giới đến tận Ấn Độ Dương (CIA nói nhỏ sẽ là trục tấn kích chiếm Úc Châu sau nầy, cũng như Kissinger lập lờ: cái gì là South China Sea hay La Mer de Chine là của các anh! Nhưng thật ra CIA sẽ làm cho Miến Điện sẽ đổi chiều theo Mỹ và hoà nhập với VN không cộng sản, coi như xa lộ nầy cũng là một bộ phận quan trong trong hệ thống Xa-lộ (như Eisenhower Interstate Highway System phục hồi kinh tế thời bình) và bây giờ cũng cũng lập lại cho thời bình theo ý siêu chiến lược gia Harriman: Thế kĩ 20 “bạo-hành”, thế kĩ 21 “hợp-tác” tại LHQ lo cho nhân loại thoát khỏi hoạ thiên tai.
Trước đây không ai quan tâm đến Ấn Độ Dương,
Nhưng hiện nay nơi đây đã và đang trở thành một trung tâm hoạt động chính trị, chiến lược và kinh tế vì các loại tàu ngầm hạt nhân, tàu chiến và tàu thương mại của các cường quốc thường xuyên hiện diện trong khu vực. Hơn nữa, Ấn Độ Dương có một số khoáng sản quan trọng như: lượng vàng được khai thác trong khu vực chiếm 80,7% của thế giới, 56,6% thiếc, 28,5% măngan, 25,2% niken và 77,3% cao su thiên nhiên, chưa kể khối lượng hàng hóa được vận chuyển qua Ấn Độ Dương là lớn nhất thế giới.
Về chiến lược, Ấn Độ Dương rất quan trọng, đặc biệt do sự hiện diện của các cường quốc lớn và 3 cường quốc hạt nhân trong khu vực: Pakistan, Trung Quốc và Ấn Độ. Đây là lý do giải thích tại sao các cường quốc khu vực chú trọng triển khai các tàu ngầm trang bị hoả tiển thông thường và tàu ngầm trang bị hoả tiển mang đầu đạn hạt nhân (SLBM) có khả năng phát động đòn tấn công thứ hai và duy trì cân bằng sức mạnh để ngăn chặn bá quyền trong khu vực. Nhờ vào chiến lược 100 năm, Mỹ đã thành lập căn cứ hải quân tại Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, từ đó răn đe các nước khu vực và bảo vệ lợi ích sống còn của Mỹ. Nhưng quan hệ chính trị bên trong và xung quanh Ấn Độ Dương có thể tác động lớn đến chiến lược “roll back 2010” trở lại châu Á của Mỹ.
Vì vậy, Chỉ đạo Chiến lược năm 2010 của Mỹ đã gắn kinh tế và an ninh của Mỹ với những phát triển ở Ấn Độ Dương và nâng Ấn Độ lên thay vị thế của TQ, một đối tác chiến lược lâu dài trong khu vực và ít thách thức Mỹ. Các tài liệu chính thức của Mỹ cũng tuyên bố Iran và Trung Quốc là hai quốc gia có khả năng sử dụng các phương tiện không cân xứng để chống lại những lợi ích của Mỹ.
Hợp tác Ấn Độ-Mỹ ở Ấn Độ Dương buộc Pakistan và Trung Quốc phải cảnh giác trước các đề nghị của họ, từ đó tạo nên sự cạnh tranh chiến lược trong khu vực và sử dụng các chiến lược phụ thuộc tài nguyên để chống lại những thủ đoạn của đối phương. Thế giới đang bước vào kỷ nguyên địa năng lượng, trong đó an ninh năng lượng sẽ tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa các nước và có thể dẫn đến việc cơ cấu lại hệ thống quyền lực thế giới. An ninh năng lượng sẽ đóng vai trò quyết định trong việc tạo nên xung đột và hợp tác. Nước nào giành được vị trí quan trọng ở Ấn Độ Dương sẽ có khả năng kiểm soát nguồn năng lượng không chỉ đổ đến Đông Á mà cả các khu vực khác.
Hiện nay, lực lượng hải quân hùng mạnh nhất thế giới của Mỹ đang thống trị khu vực, trong khi đó các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc cũng đang cố gắng cân bằng sức mạnh với Mỹ để bảo vệ lợi ích kinh tế và nhu cầu năng lượng. Làm chủ Ấn Độ Dương là vấn đề rất quan trọng và điều đó có thể được khẳng định bởi thực tế dầu lửa được vận chuyển từ Vùng Vịnh đến hầu hết các nước trên thế giới đều đi qua Ấn Độ Dương và qua eo biển Malacca đến Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Pakistan có tuyến bờ biển duy nhất nằm trên Ấn Độ Dương, do đó đây là con đường sống còn đối với thương mại, đặc biệt cho việc cung cấp năng lượng của Islamabat. Các lợi ích quan trọng của Pakistan ở Ấn Độ Dương đang gây khó khăn cho Ấn Độ trong việc thống trị các khu vực gần Pakistan và bảo vệ các tuyến đường xuất nhập khẩu quan trọng của họ. Trước đây Pakistan có thể hành động tương đối hạn chế so với sự hiện diện của hải quân Ấn Độ ở Ấn Độ Dương, do đó Islamabat chủ trương phát triển sức mạnh hải quân và kết thân với một cường quốc bên ngoài để cân bằng với Ấn Độ. Pakistan không hy vọng Mỹ là một đối tác đáng tin cậy trong việc củng cố an ninh ở Ấn Độ Dương, đặc biệt khi Mỹ đang tăng cường đối thoại an ninh với Ấn Độ. Do đó, Pakistan cho rằng quốc gia có thể đóng vai trò cân bằng quan trọng hơn ở Ấn Độ Dương là Trung Quốc.
Hiện nay Pakistan đang được hưởng lợi nhờ chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc, do đó nước này đã chuyển giao quyền hoạt động cho Trung Quốc. Cũng như Ấn Độ, lợi ích kinh tế của Pakistan trong việc bảo đảm an ninh Ấn Độ Dương rất lớn. Cán cân thanh toán không ổn định của Pakixtan phụ thuộc vào thương mại biển; 95% thương mại và 100% nhập khẩu dầu lửa của Pakistan được vận chuyển qua Ấn Độ Dương. Mục tiêu chủ yếu của Pakistan là vô hiệu hóa Ấn Độ, bảo vệ các lợi ích kinh tế và năng lượng và hiện Pakistan đang hoạt động trong liên minh với Trung Quốc, đồng thời nâng cao sức mạnh của quân đội và hải quân.
Nhận thấy Ấn Độ Dương là một trung tâm năng lượng, Ấn Độ đang cố gắng tăng cường can dự khu vực và tìm cách gia tăng ảnh hưởng ở các nước từ Iran đến Thái Lan. Chẳng bao lâu nữa Ấn Độ sẽ trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn thứ 4 thế giới sau Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, phụ thuộc khoảng 33% nhu cầu năng lượng và sớm muộn sẽ nhập khẩu 90% dầu lửa từ Vùng Vịnh. Một lý do khác đằng sau sự phát triển sức mạnh hải quân của Ấn Độ là “thế tiến thoái lưỡng nan ở eo biển Hormuz”. Hàng nhập khẩu của Ấn Độ phải đi qua eo biển Hormuz, gần bờ biển Makran của Pakistan – nơi Trung Quốc đang giúp nước này phát triển các cảng nước sâu. Để bảo vệ các lợi ích quan trọng cũng như đạt được vị thế siêu cường, Ấn Độ đang phát triển lực lượng hải quân. Đến nay hải quân Ấn Độ có 155 tàu chiến, trở thành một trong những lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, và dự kiến năm 2015 sẽ tăng thêm ba tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân và ba tàu sân bay. Mục tiêu quan trọng trong việc xây dựng lực lượng hải quân của Ấn Độ không những liên quan đến kinh tế và an ninh mà còn là “tự chủ chiến lược”. Chính sách này của Ấn Độ phù hợp với mục tiêu giành vị thế siêu cường và đủ sức chống lại sự hiện diện của các cường quốc bên ngoài khu vực ở Ấn Độ Dương, kể cả ngắn hạn và dài hạn
Ấn Độ cho rằng sự hiện diện của các cường quốc ngoài khu vực đang tạo nên căng thẳng trong khu vực, từ đó ảnh hưởng đến các lợi ích nhạy cảm của New Delhi. Hoa Kỳ muốn Ắn-Độ thay thế các cường quốc và trở thành nước thống trị Ấn Độ Dương. Trong số những phát triển mới nhất của Hải quân Ấn Độ phải kể đến lễ khai trương căn cứ hải quân mới INS Dweeprakshak ở quần đảo Lakshadweep, trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Phía Nam, ngày 1/5/2012. Điều này có nghĩa là căn cứ hải quân mới của Ấn Độ sẽ đối mặt với chiến lược “chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc nhằm chia cắt Ấn Độ khỏi các nước Ấn Độ Dương khác trong lăng kính Secrets of the Tomb phù trợ Ấn Độ thấy rỏ vào những ngày gần đây
Để đạt được vị thế siêu cường mới nổi, Ấn Độ dự chi gần 45 tỷ USD trong 20 năm tới để mua 103 tàu chiến mới, kể cả các tàu khu trục và tàu ngầm hạt nhân. Nhưng thực tế khi mở rộng ảnh hưởng về phía Đông và phía Tây trên bộ và trên biển, Ấn Độ sẽ đụng chạm đến Trung Quốc – hiện cũng đang quyết tâm bảo vệ các lợi ích trong khu vực và mở rộng tầm hoạt động của lực lượng hải quân.
Theo kế hoạch, Trung Quốc cũng sẽ chi 25 tỷ USD để mua 135 tàu trong thời gian tương tự. Mối quan tâm lớn nhất của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương là an ninh năng lượng. Hiện nay Bắc Kinh cũng đang đứng trước “Tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca” như vừa rồi Tập Cận Bình hợp với Obama không Cà-Vạt, xăng tay áo nói hoặch tẹt về vụ thả Bom các tàu chở dầu của Nhựt 1941 từ eo biền Malacca đến nội địa Nhựt Bản. Bởi vì Trung Quốc phụ thuộc quá nhiều vào eo biển này và ngược lại mục tiêu của Mỹ nhằm kiểm soát eo biển để tác động đến nhu cầu năng lượng của Trung Quốc. Thực tế, bất cứ nước nào kiểm soát eo biển Malacca cũng sẽ kiểm soát tuyến đường năng lượng của Trung Quốc. Lệ thuộc quá nhiều vào eo biển Malacca đã tạo nên mối đe dọa lớn cho an ninh năng lượng của Trung Quốc. Eo biển Malacca là tuyến đường biển quan trọng cho phép Mỹ chiếm ưu thế địa chính trị, hạn chế sự phát triển của các nước lớn và kiểm soát nguồn năng lượng của thế giới. Chính phủ Trung Quốc hy vọng có thể bỏ qua eo biển đó bằng cách vận chuyển dầu lửa và các sản phẩm năng lượng khác qua các tuyến đường bộ và đường ống dẫn dầu từ các bến cảng ở Ấn Độ Dương chạy đến trung tâm Trung Quốc.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã và đang triển khai chiến lược “chuỗi ngọc trai” ở Ấn Độ Dương, trong đó xây dựng hàng loạt bến cảng ở các nước thân thiện dọc bờ biển phía Bắc Ấn Độ Dương như: bến cảng Gwadar ở Pakistan, một bến cảng ở thành phố Pasni ở phía Đông Pakistan và cách cảng Gwadar khoảng 75 dặm; một trạm tiếp liệu trên bờ biển phía Nam Sri-Lanka và một kho vận ở Chittagong của Bangladesh. Chính phủ Trung Quốc cũng dự kiến đào một con kênh qua eo đất Kra ở Thái Lan để kết nối Ấn Độ Dương với bờ biển Thái Bình Dương của Trung Quốc – một dự án có quy mô tương tự kênh đào Panama và có thể thúc đẩy hơn nữa cán cân sức mạnh của châu Á nghiêng về Trung Quốc bằng cách tạo điều kiện cho lực lượng hải quân và hạm đội tàu thương mại Trung Quốc dễ dàng thâm nhập khu vực đại dương rộng lớn kéo dài từ Đông Phi đến Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên.
Bên cạnh chiến lược này, Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước khu vực thông qua các thỏa thuận viện trợ, thương mại và quốc phòng. Một yếu tố quan trọng thúc đẩy Trung Quốc xây dựng các tuyến đường thay thế là chẳng bao lâu nữa hải quân Ấn Độ sẽ trở thành lực lượng lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, từ đó sẽ ngăn chặn sự bành trướng quân sự của Trung Quốc. Hải quân Trung Quốc cũng đang phát triển và xem xét lại vai trò trong bối cảnh môi trường thay đổi và tầm quan trọng ngày càng tăng của Ấn Độ Dương, từ đó gia tăng ảnh hưởng trên biển bằng cách chuyển vai trò từ một lực lượng hải quân chủ yếu bảo vệ bờ biển thành lực lượng có khả năng hoạt động kéo dài trên các vùng biển quốc tế xứng đáng với vị thế siêu cường của Trung Quốc do phần lớn sự khuyến khích giúp đở của Mỹ.
Mục đích chiến lược của Washington là thống trị tuyến đường vận chuyển dầu lửa ở Ấn Độ Dương, do đó những năm gần đây Mỹ rất quan tâm đến Ấn Độ, Việt Nam và Singapore – tất cả các nước này đều nằm trên tuyến đường đó. Nhưng Ấn Độ Dương là một trong những thách thức lớn nhất mà Mỹ đang đối mặt trong thể chế chính trị thế giới, khi cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ đang nổi lên như các cường quốc biển, kinh tế và thách thức quyền bá chủ kéo dài nhiều thập kỷ qua của Mỹ. Vì vậy nhiệm vụ của Hải quân Mỹ là lặng lẽ thúc đẩy sức mạnh hải quân của các nước đồng minh tin cậy nhất như Ấn Độ ở Ấn Độ Dương và Nhật Bản ở Tây Thái Bình Dương để hạn chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một trong những mục tiêu chủ yếu của Mỹ là hạn chế và làm chậm sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc ở các nước trong khu vực và kích động xung đột giữa các nước.

10 năm trù dập TQ (2010-2020)
Rõ ràng Mỹ đang kích động các nước trong khu vực ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như biển Hoa Đông để hạn chế FDI của Trung Quốc và đẩy các nước ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Mỹ không muốn khu vực bị thống trị bởi bất cứ nước nào khác, bởi vì điều đó sẽ phá hủy nghiêm trọng các lợi ích kinh tế lâu dài của Mỹ cũng như làm mất cân bằng sức mạnh trong khu vực. Điều này đặc biệt quan trọng khi trung tâm kinh tế di-chuyển từ Tây sang Đông. Nếu bị kiểm soát bởi bất cứ quốc gia châu Á nào, các điểm nút quan trọng ở Ấn Độ Dương, kể cả eo biển Malacca, Hormuz và Bab el Mandeb, có thể làm nghiêng cán cân thương mại hơn nữa về châu Á. Nạn cướp biển ở eo biển Malacca cho thấy những gì có thể xảy ra khi việc đi lại tự do và an toàn qua nhiều nụt chận không được đảm bảo an ninh.
Tuy nhiên khó khăn của Mỹ là nước này không thể ngăn chặn hoặc phong tỏa nguồn cung cấp cho Trung Quốc và Ấn Độ, bởi vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến kinh tế thế giới, nhưng Mỹ có thể độc quyền cung cấp năng lượng bằng cách kiểm soát các nước Trung Á. Một khó khăn nữa của Mỹ là, Mỹ không thể làm ngơ trước lực lượng hải quân Trung Quốc. Mỹ đã tận dụng mọi cơ hội để hợp nhất lực lượng hải quân Trung Quốc vào các liên minh quốc tế, bởi vì sự hiểu biết và sức mạnh trên biển của Mỹ và Trung Quốc rất quan trọng cho sự ổn định chính trị thế giới trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu trong khu vực, Mỹ đang lợi dụng sự bất đồng giữa Ấn Độ và Trung Quốc để giành được ưu thế. Mỹ tiếp tục can dự với Ấn Độ như một phần chiến lược bao vây Trung Quốc. Mỹ khuyến khích Ấn Độ thiết lập các mối quan hệ với các nước Đông Nam Á và Trung Á nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc. Mỹ cũng tăng cường sự hiện diện hải quân trong khu vực – nơi Mỹ thừa nhận đang trở thành vị trí trung tâm trong các vấn đề chính trị thế giới. Trong bối cảnh đó, sự chuyển đổi chiến lược “roll-back” trở lại châu Á của Mỹ đóng vai trò rất quan trọng.
Iran là cường quốc mới nổi khác ở Ấn Độ Dương hiện đang kiểm soát eo biển Hormuz – một tuyến đường quá cảnh rất dễ gây xung đột trong khu vực. Tuyến đường quá cảnh này chịu trách nhiệm cung cấp dầu lửa cho phần lớn thế giới. Việc kiểm soát tuyến đường này có ý nghĩa chiến lược đối với Mỹ, nhưng đặc biệt quan trọng đối với Iran – nước đang sử dụng nó như một công cụ để tăng cường sức mạnh cũng như đòn bẩy để mặc cả với Mỹ và đồng minh về vấn đề hạt nhân. Dư luận đặt câu hỏi liệu Iran có áp dụng biện pháp ngăn chặn eo biển Hormuz không? Rõ ràng các tuyên bố chính thức của Teheran cho thấy Iran đã xem xét lựa chọn này và coi đây như một hành động răn đe. Phản ứng trước khả năng cấm vận dầu lửa của Liên minh châu Âu bằng cách thể hiện sức mạnh quân sự và đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz, Iran cảnh báo phương Tây rằng Teheran không thể trở thành nạn nhân thụ động của cuộc chiến tranh kinh tế.
Mặt khác, bảo vệ an ninh ở eo biển Hormuz là một ưu tiên trong chiến lược răn đe phòng thủ của Iran ở Vùng Vịnh. Do đó, chắc chắn chính sách của Iran sẽ được cân nhắc hợp lý trên cơ sở chịu trách nhiệm đầy đủ và mang tính thực tiễn địa chính trị của khu vực, nhưng bằng mọi cách không để các nước phá hủy các lợi ích hợp pháp của họ.
Tóm lại, Ấn Độ Dương giữ vị trí trung tâm trong chiến lược của các cường quốc thế giới và khu vực. Như một mô hình thu nhỏ của thế giới, khu vực Ấn Độ Dương đang phát triển thành một khu vực chủ quyền được bảo vệ mạnh mẽ và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế-thương mại thông qua các đường ống dẫn dầu, các tuyến đường bộ và đường biển. Và lần đầu tiên kể từ cuộc tấn công khu vực trong những năm đầu thế kỷ 16 của Bồ Đào Nha, sức mạnh của phương Tây đang suy giảm mặc dù không thể hiện rõ ràng. Bên cạnh đó dù cố gắng phục hồi kinh tế bằng cách tiến hành các giải pháp trong nước, nhưng Mỹ không thể khẳng định vị trí thống trị của họ trong khu vực. Ấn Độ và Trung Quốc có thể tham gia cạnh tranh mạnh mẽ ở các vùng biển này do lợi ích kinh tế của hai nước và là các đối tác thương mại lớn của khu vực. Pakistan sẽ tiếp tục khẳng định vị thế bằng cách thiết lập liên minh với Trung Quốc và xây dựng khả năng riêng của họ, đặc biệt là sức mạnh hải quân. Do tình hình và thực tiễn địa chính trị, Mỹ sẽ thay đổi vị thế từ thống trị thành mối quan hệ không thể thiếu với các cường quốc khu vực, kể cả Iran và Pakistan. Trong tương lai, Mỹ có thể hoạt động như một “người cầm cân nảy mực” giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Rõ ràng không một nước nào có thể thống trị khu vực một cách độc lập, do đó Mỹ và các cường quốc phải thiết lập một kiểu quan hệ đa phương, theo đó mỗi nước có thể theo đuổi các mục tiêu của riêng mình và được giải quyết trên bàn mổ LHQ ./.

KQ: Trương Văn Vinh
vinhtruong
08-01-2013, 03:55 PM
Trung Quốc sẵn sàng khai thác chung tại vùng biển có tranh chấp
Như bà Hillary đã nói Tập Cận Bình là người khôn ngoan biết cùng hợp tác để cùng sống còn mà bài viết của tôi ở trên đã có đáp số từ khuya rồi, bây giờ chỉ còn chứng minh bằng giấy trắng mực đen là: Thí dụ, Hoàng Sa, VN làm chủ, TQ khai thác, Mỹ độc quyền bán sản phẩm bằng dollar Xanh = vui vẻ cả làng, chia động từ ngôi thứ ba, chúng ta cùng ăn.
Bây giờ nói về chính tình trên đảo Hoàng Sa! Người dân trên đảo – (1) theo quốc tịch VN – (2) trở về TQ. Chúng ta yên tâm loại người VN mới nầy sẽ trung thành với đất nước đã làm cho cuộc sống của họ phồn vinh, thì là đất lành chim đậu. Rồi họ cũng như những người Singapore rất yêu dân tộc Việt của mình và quyết tâm bảo vệ điền thổ cho con cháu họ sinh sống

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói rằng chính phủ ông sẵn sàng gác lại các tranh chấp lãnh thổ và tiến hành các cuộc khai thác chung trong các vùng biển có tranh chấp như lời khuyên nhủ của TT Obama qua lịnh truyền từ Secret Society trong cuộc nói chuyện xăng tay áo, không Cá-vạt nhưng để gở rối cho điểm nóng Biển Đông dậy sóng
Các cơ quan truyền thông Trung Quốc cho hay ông Tập đưa ra lập trường này trong bài nói chuyện với Bộ Chính trị hôm thứ T