Những tiết lộ rùng mình từ nữ cảnh vệ thoát khỏi trại lao động Triều Tiên

Những tiết lộ rùng mình từ nữ cảnh vệ thoát khỏi trại lao động Triều Tiên

Một nữ cảnh vệ từng làm việc trong trại lao động cải tạo tại Triều Tiên, sau khi thoát ra nước ngoài sinh sống, đã tiết lộ về những cực hình tra trấn phi nhân đạo mà nhà tù nước này áp dụng, trong đó trẻ sơ sinh cũng không được buông tha.

Thoát ly khỏi Triều Tiên từ 15 năm trước, Lim Hye Jin từng canh giữu tại trại tập trung lao động cải tạo Triều Tiên 7 năm, cô tiết lộ với tờ Daily Mail rằng, đến bây giờ cô vẫn nhớ rõ mồn một cảnh tượng 2 anh em sau khi thoát khỏi trại tập trung không thành, đã bị lính canh hành hạ đến chết. Ngoài ra, 7 người trong gia đình họ và cả tập thể tù nhân nơi đó bị trừng phạt tàn khốc để làm cảnh cáo.

Người trốn chạy bị bắn hoặc chém đầu ngay tại chỗ

Sau vài tuần trốn chạy, hai anh em họ bị bắt tại Trung Quốc và trả về Triều Tiên. Hai người sau khi được đưa về trại tập trung, trưởng trại liền lệnh cho tất cả lính canh và tù nhân tập hợp.

“Chúng tôi bị ép chứng kiến cảnh hai anh em đó bị chém đầu”, Lim Hye Jin nói. “Họ lệnh cho tất cả đến xem, mục đích là để cảnh cáo những người đang có ý muốn chạy trốn, ngoài ra những tù nhân khác còn bị ép ném đá vào thi thể người bị chém”.

Lim Hye Jin cho biết, năm đó cô năm gần 20 tuổi, vài ngày sau sự việc đó, cô không thể ăn được cái gì vì bị cảnh tượng đó ám ảnh. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong rất nhiều trường hợp mà cô tận mắt chứng kiến trong quãng thời gian 7 năm làm việc của mình. Tội phạm chính trị bị nhốt trong đó đa số đều bị hành hạ đến chết, chịu cực hình đau đớn, thậm chí là cưỡng dâm.

Lính canh bị tẩy não: Không coi tù nhân là người

“Họ không coi những tù nhân trong tại trại tập trung là người”, Lim Hye Jin nói. Một phụ nữ do khiến người lính canh chọc ghẹo cô tức giận, mà bị lột sạch quần áo và thiêu sống.

Lim Hye Jin cho biết: “Trại lao động cải tạo của Triều Tiên tổng cộng giam giữ khoảng 200.000 người. Chúng tôi bị tẩy não và bắt buộc không được cảm thương tù nhân. Chúng tôi được thông báo rằng người bị nhốt trong trại phạm tội nghiêm trọng và đáng sợ như thế nào. Bây giờ thì tôi biết rõ rằng họ đều là những người bình thường, điều này khiến tôi cảm thấy vô cùng ăn năn”.

Trẻ em cũng không tránh khỏi bị liên lụy

Hầu như không ai có thể thoát khỏi trại tập trung, thậm chí trẻ em cũng bị giam cùng với cha mẹ, ông bà của chúng, bởi vì căn cứ pháp luật Triều Tiên, người phản kháng chính quyền, thì tổ tông 3 đời đều bị liên lụy.

Lim Hye Jin kể, một người đã thoát Triều Tiên nói cho cô biết, khi còn bé họ từng bị nhốt trong trại tập trung, người đó chính là người duy nhất thoát khỏi trại tập trung trong số 5.000 đứa trẻ bị giam giữ.

Một số tù nhân nói với Lim Hye Jin, họ phải sống trong sợ hãi, bị đánh đập trường kỳ, người bị thương đưa ra giữa trời tuyết giá rét, để mặc cho chết cóng; mấy trăm người bị ép vào mỏ khai thác quặng, nếu như hầm lò phát sinh sự cố, thì sẽ không có người cứu viện, coi như chôn sống họ dưới đó luôn; thi thể của tù nhân bị chất chồng đống trong phòng chờ xử lý.

Năm 17 tuổi, Lim Hye Jin bắt đầu làm lính canh trong trại tập trung, địa điểm làm việt đầu tiên của cô là trại lao động cải tạo số 12, nằm ở gần biên giới với Trung Quốc. Bị giam ở trong đó đa số là những quan lớn bị chính quyền thất sủng.

Hai trại trập trung mà Lim Hye Jin làm việc, đại đa số đều là tù nhân nữ và trẻ em, bởi vì tù nhân nam khỏe mạnh sẽ được đưa đến hầm mỏ và bị cưỡng chế lao động, rất nhiều người cuối cùng đã chết ở trong hầm mỏ. Rất nhiều người thừa nhận tâm lý bị tổn thương nặng nề.

Một lần phát sinh sự cố nổ, có hơn 300 người bên trong hầm, nhưng lính canh làm như không thấy và tuyên bố đóng cửa đường hầm. Tù nhân bị ép đào đường hầm để tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân, sau thử nghiệm họ còn bị ép dọn dẹp ô nhiễm hạt nhân tại hiện trường.

Nữ tù phạm bị lính canh cưỡng dâm, trẻ em bị hành hạ đến chết

Lim Hye Jin cho biết, lính canh nam lợi dụng công việc cưỡng dâm tù nhân nữ. Nếu nữ tù nhân mang thai, thì họ sẽ bị cưỡng chế cho sẩy thai hoặc bị tiêm thuốc cho đến chết; nếu đứa trẻ được sinh ra, cũng sẽ bị đánh chết hoặc bị chôn sống.

Nữ tù nhân được cho là có biểu hiện tốt, sẽ được “ban thưởng hôn nhân”, bị ép phải kết hôn với lính canh nam.

Tù nhân làm việc 7 ngày/tuần, mỗi ngày sáng sớm 5 giờ thức dậy, làm việc ngoài trời hoặc trong nhà xưởng 16 tiếng đồng hồ, người nào không làm được như trên thì không được phép ngủ. Lính canh ban ngày sẽ đi kiểm tra 3 lần, để phòng có người trốn khỏi trại tập trung, bất luận người nào chạy trốn vào buổi tối thì sẽ bị xử bắn ngay tại chỗ.

Trong tháng 3/2017, Lim Hye Jin đã phát biểu trong cuộc họp của Liên Hợp Quốc, cô thoát lý khỏi Triều Tiên 3 lần, 2 lần trước đều bị Trung Quốc bắt giữ trả ngược lại.

Cô nói khi cô bị tạm gian ở trung tâm, lính canh đã bắt cô phải cởi hết quần áo, vơ vét hết tài vật trên người cô, đây là chuyện thường ngày trong ngục giam ở Triều Tiên.

Lim Hye Jin hiện tại đang lưu trú tại thủ đô Seoul của Hàn Quốc, cô lo lắng rằng về tình trạng càng ngày càng tồi tệ hơn trong trại tập trung ở Triều Tiên.

http://tinhhoa.net/nhung-tiet-lo-rung-minh-tu-nu-canh-ve-th…

Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: outdoor
Image may contain: 1 person, standing and outdoor
LikeShow More Reactions

Comment

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản?

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản?

by Phạm Hoài Nam on DCV

Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không chỉ phục ở những thành tựu của sự văn minh, những công trình kiến trúc tuyệt mỹ mà còn ở yếu tố con người.
Kể từ đó tôi luôn tò mò tìm hiểu thêm về lịch sử và văn hóa của các con cháu Thái Dương Thần Nữ.
Càng biết thêm về họ tôi càng phục họ hơn. Đó là một dân tộc có nhiều điểm rất đặc biệt. Một dân tộc luôn tự hào về những giá trị truyền thống nhưng khi cần cũng sẵn sàng dứt bỏ những gì đã lỗi thời. Một dân tộc mang niềm kiêu hãnh lớn lao nhưng đồng thời cũng luôn biết học hỏi cái hay của người khác. Một dân tộc đã từng đánh bại các đế quốc Mông Cổ, Trung Hoa và Nga Sô nhưng cũng biết nuốt cái nhục bại trận để vươn lên thành một cường quốc kinh tế. Một dân tộc ít khi ồn ào lớn tiếng, và luôn xem trọng sự ngăn nắp sạch sẽ. Nhưng đặc biệt hơn cả – đó là một dân tộc chưa bao giờ biết đầu hàng trước nghịch cảnh.
Tôi nhớ trước đây có đọc một bài viết của một người Việt sống lâu năm tại Nhật, quên mất tên tác giả, trong đó ông có nêu ra một chi tiết để phân biệt giữa người Nhật bản địa và người ngoại quốc sống ở Nhật – đó là nhìn qua cách phơi quần áo. Người ngoại quốc phơi lung tung, còn người Nhật phơi theo thứ tự, quần theo quần, áo theo áo….
Đúng như nhà văn Haruki Murakami đã nhận định: “Người Nhật là kho tàng của nước Nhật”. Tôi rất cám ơn đất nước này vì chính người Nhật đã cho tôi một niềm tin rằng bất cứ một đất nước nào, dù nhỏ, dù bị bất lợi về địa lý, tài nguyên… nhưng nếu dân tộc đó có một nhân sinh quan đúng đắn thì vẫn có thể trở thành một dân tộc giàu mạnh.
*
Thiên tai động đất và sóng thần xảy ra ở Nhật cách đây 2 tháng, mặc dầu những tin tức liên quan đến biến cố này không còn được nhắc đến nữa, nhưng đối với những người Việt Nam còn quan tâm đến đất nước thì những dư âm của nó vẫn còn để lại nhiều vương vấn suy tư. Cùng là hai nước nhỏ ở Á Châu nhưng định mệnh nào đã đưa đẩy hai dân tộc khác biệt nhau quá xa. Một dân tộc mà mỗi khi nhắc tới, từ Đông sang Tây, đều phải ngã mũ bái phục, còn dân tộc kia thì ít khi được nhắc đến, hay nếu có thì thường là những điều không lấy gì làm vinh dự cho lắm.
Sau biến cố này đã có hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên các diễn đàn Internet đặt câu hỏi: “Tại sao lại có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt và người Nhật”, phần lớn những ý kiến này xuất phát từ những người trẻ đang sống ở Việt Nam. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho thấy có nhiều người Việt Nam đang thao thức muốn thay đổi số phận của đất nước mình.
Đây là một đề tài rất lớn và đòi hỏi sự suy nghĩ, nghiên cứu nghiêm túc của nhiều người nhất là những nhà trí thức. Bài viết này để chia sẻ câu hỏi đó và chỉ nên xem như những lời góp ý rất khiêm tốn.
Sự chênh lệch giữa Việt Nam và Nhật Bản không phải chỉ xảy ra bây giờ, từ đầu thế kỷ 20 Nhật đã vượt ta rất xa. Trong cuốn “Niên Biểu” cụ Phan bội Châu đã kể lại kinh nghiệm của mình sau hai lần đến nước Nhật để tìm đường cứu nước (lần đầu tiên vào năm 1905). Những điều tai nghe mắt thấy tại đây khiến cụ rất phục tinh thần của dân tộc Nhật Bản. Người phu xe, thuộc giai cấp lao động bình dân, chở cụ đi tìm một sinh viên người Trung Hoa, mất nhiều thời gian công sức mà cuối cùng vẫn nhận đúng 52 xu: “Than ôi! trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!”.
Nước Nhật nằm ở vị trí đầu sóng ngọn gió, chịu liên tục những thiên tai trong suốt chiều dài lịch sử và họ chấp nhận định mệnh đó với lòng can đảm. Thiên tai vừa rồi rất nhỏ so với trận động đất tại Tokyo vào năm 1923 và hai quả bom nguyên tử vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến. Nhờ phương tiện truyền thông quá văn minh cho nên cả thế giới vừa rồi có cơ hội nhìn thấy rõ hơn “tinh thần Nhật Bản” trong cơn nguy biến.
Trận động đất xảy ra tại Tokyo ngày 1/9/1923 đã làm cho 130,000 người thiệt mạng, Yokohama bị tàn phá hoàn toàn, phân nửa của Tokyo bị tiêu hủy. Trong quyển “Thảm nạn Nhật Bản” (Le désastre Japonais) của đại sứ Pháp tại Nhật thời đó thuật lại: ”Từng cá nhân kẻ góp chút gạo, kẻ đem chiếc xuồng để giúp đỡ nhau như một đại gia đình”chứng tỏ là họ có một truyền thống tương thân tương ái lâu đời.
Vào cuối Đệ Nhị Thế Chiến hai quả bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki, ngay lập tức làm thiệt mạng khoảng 150,000 người. Những thành phố kỹ nghệ của Nhật cũng bị tàn phá nặng nề vì những trận mưa bom của phi cơ Đồng Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử người Nhật phải chấp nhận đầu hàng và là nỗi nhục quá lớn đối với họ như lời của Nhật Hoàng Hirorito: “Chúng ta phải chịu đựng những điều không thể chịu đựng nỗi”.
Không có hình ảnh nào thê thảm như nước Nhật lúc đó, kinh tế gần như bị kiệt quệ hoàn toàn. Tuy nhiên Đồng Minh có thể tiêu diệt nước Nhật nhưng không thể tiêu diệt được tinh thần của người Nhật, họ đã biến cái nhục thua trận thành sức mạnh để vươn lên từ đống tro tàn.
Đến năm 1970, chỉ có 25 năm, một nước bại trận hoang tàn đổ nát trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua có Hoa Kỳ. Danh từ “Phép lạ kinh tế” phát xuất từ hiện tượng này.
Trong 7 năm từ 1945 cho đến 1952, tướng MacArthur, thay mặt Hoa Kỳ quản trị nước Nhật với tư cách là Chỉ Huy Tối Cao của Lực Lượng Đồng Minh (Supreme Commander of the Allied Powers) – vì nể phục và quý mến người Nhật cho nên vị tướng này muốn biến nước Nhật trở thành một “Nước Mỹ lý tưởng” hay nước Thụy Sĩ ở Á Châu. Tuy cuối cùng kết quả không được trọn vẹn như ý muốn của ông vì người Nhật không thể để mất hồn tính dân tộc. Nhưng nước Nhật được như ngày nay có công đóng góp rất lớn của tướng MacArthur.
Trở lại chuyện thiên tai vừa rồi, ngay sau đó có cả ngàn bài viết ca ngợi tinh thần của người Nhật. Nhiều tờ báo lớn của Tây Phương đi tít trang mặt: “Người Nhật: Một Dân Tộc Vĩ Đại”. Nhật báo lớn nhất của Mỹ, New York Times, số ra ngày 20 tháng 3 đăng bài “Những điều người Nhật có thể dạy chúng ta” của ký giả Nicholas Kriftoff.
Đúng như lời của nhà báo Ngô Nhân Dụng đã viết: “Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không”.
Dùng từ vĩ đại đối với nước Nhật không cường điệu chút nào, họ vĩ đại thật. Giữa cảnh chết chóc, nhà cửa tan nát, đói lạnh, tuyệt vọng… vậy mà họ vẫn không để mất nhân cách, mọi người nối đuôi nhau chờ đợi hàng giờ để lãnh thức ăn, tuyệt đối không oán trách trời, không trách chính quyền, không lớn tiếng, không ồn ào, kiên nhẫn chờ đợi đến phiên mình.
Một đất nước mà trong cơn khốn khó, không đổ lỗi cho nhau, từ quan đến dân, trăm người như một, trên dưới một lòng lo tìm cách đối phó, thì đất nước đó xứng đáng là một đất nước vĩ đại.
Toàn bộ nội các Nhật làm việc gần như 24/24. Các hiệu trưởng ngủ lại trường cho đến khi học sinh cuối cùng được di chuyển đi. Các siêu thị hoàn toàn không lợi dụng tình cảnh này để tăng giá. Tiền rơi ngoài đường từ những căn nhà đổ nát không ai màng tới thì đừng nói chi đến chuyện hôi của. Ông Gregory Pflugfelder, giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa Nhật Bản tại Đại Học Columbia (Mỹ) đã nhận xét về người Nhật sau thiên tai này như sau: “Hôi của đơn giản là không xảy ra ở Nhật Bản. Tôi thậm chí còn không chắn rằng trong ngôn ngữ Nhật Bản có từ ngữ này.”
Người Nhật là một dân tộc có tinh thần độc lập, tự trọng và lòng yêu nước rất cao, không chờ đợi ai mở lòng thương hại, sau những hoang tàn đổ nát, mọi người cùng nhau bắt tay xây dựng lại.
Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ đề nghị đến giúp dập tắt lò nguyên tử Fukushima nhưng họ từ chối.
Xa lộ tại thành phố Naka, thuộc tỉnh Ibaraki bị hư hại nặng do động đất. Chỉ một tuần sau, ngày 17/3 các công nhân cầu đường Nhật bắt đầu sửa chữa, chỉ 6 ngày sau xa lộ này đã hoàn tất, ngay cả Hoa Kỳ có lẽ cũng không thể đạt được kỷ lục này.
Từ Nhật Hoàng Akihito, Thủ Tướng Naoto, cho đến các thường dân đều tự tin rằng: “Chúng tôi sẽ phục hồi” như họ đã từng làm trong quá khứ. Cho đến hôm nay (18/5) theo những tin mà chúng ta đọc được trên Internet thì những nơi bị tàn phá đang được phục hồi nhanh chóng. Có thể chỉ 2, 3 năm sau nếu có dịp đến đây chúng ta sẽ thấy cảnh vật hoàn toàn thay đổi.
Điều đáng chú ý nhất trong thiên tai này đối với người viết – chính là thái độ của trẻ em. Đến xứ nào, chỉ cần nhìn qua tuổi trẻ là có thể đoán được tương lai của xứ đó, bởi vì tuổi trẻ là hy vọng, là tương lai của đất nước. Không phải chỉ có em học sinh 9 tuổi mất cha mất mẹ, đang đói khát nhưng vẫn từ chối sự ưu tiên hơn người khác được cả thế giới biết đến, mà còn có cả ngàn em học sinh Nhật khác trong hoàn cảnh tương tự vẫn luôn luôn giữ tinh thần kỹ luật và lễ phép.
Những em nhỏ, có em còn được bồng trên tay, có em ngồi bên cạnh mẹ trong các nơi tạm cư, mặc dầu đói khát từ mấy ngày qua nhưng nét mặt của các em vẫm bình thản chờ đợi thức ăn mang đến. Những em bé này được dạy dỗ từ nhỏ tinh thần kỷ luật, tự trọng, danh dự và khắc kỷ… không phải chỉ học ở trường hay qua sách vở mà còn qua những tấm gương của người lớn trong những hoàn cảnh thực tế và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Mai đây nếu có một cuốn sách giới thiệu những nét đẹp nhất, cao thượng nhất của con người sống trên hành tinh này thì cuốn sách đó không thể thiếu được những hình ảnh của người Nhật trong thiên tai vừa qua.
Trông người lại nghĩ đến ta!
Trong bài “Góc ảnh chiếu từ nước Nhật”, nhạc sĩ Tuấn Khanh (ở VN) đã viết một câu thật thấm thía:
“Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn”.
Một số người đặt câu hỏi: Nếu tai họa như nước Nhật xảy ra tại VN thì chuyện gì sẽ xảy ra? Bà Mạc Việt Hồng đã diễn tả bức tranh đó như thế này:
– Động đất có khi chết 200 nhưng giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết thêm nghìn nữa.
– Các ban ngành sẽ họp bàn cách cứu hộ từ ngày này qua ngày kia.
– Cướp giật hôi của sẽ phổ biến, hoa người ta còn cướp giật nói chi tới đồ ăn hay tiền bạc vào lúc hỗn quan hỗn quân như vậy. Người đi hôi của sẽ nhiều hơn người đi cứu trợ.
– Nếu có phát khẩu phần ăn sẽ chẳng có hàng lối gì, bà già trẻ nhỏ sẽ bị chen cho bẹp ruột, ai thắc mắc hay nhìn đểu mấy kẻ chen lấn, thì “bố cho mày mấy chưởng”.
– Sẽ xuất hiện đủ loại cò: Cò mua, cò bán, cò di tản, cò cứu trợ, cò bệnh viện… tha hồ chặt chém đồng bào.
– Tiền và hàng cứu trợ sẽ vào tay dân thì ít, cửa quan thì nhiều.
– Ai muốn người nhà mình đang kẹt trong đống đổ nát được đào bới, tìm kiếm trước thì hãy chi đẹp cho đội cứu hộ.
– Khu nào có quan chức ở thì được ưu tiên cứu hộ trước, khu nào dân đen sinh sống thì cứu sau.
– Cửa hàng sẽ thi nhau tăng giá, bắt chẹt những người khốn khổ.
– Tổ chức nào, tôn giáo nào muốn cứu trợ thì phải được sự đồng ý của Mặt trận Tổ quốc và các cấp chính quyền kẻo các “thế lực thù địch” lợi dụng.
…v.v….
Tôi không nghĩ là bà Mạc Việt Hồng nói quá đáng. Chúng ta cũng không cần phải có kinh nghiệm thực tế, chỉ cần đọc qua báo trong nước sau mỗi lần có thiên tai cũng đủ biết là những ghi nhận trên của tác giả không sai chút nào. Nói chung nạn nhân nếu muốn sống sót phải làm theo bản năng “mạnh được yếu thua” hay “khôn nhờ dại chịu”, còn quan chức chính quyền thì coi đó như thời cơ để kiếm tiền.
Ngay tại hải ngoại, nếu thiên tai xảy ra tại những nơi tập trung đông đúc người Việt, phản ứng của người dân có thể không tệ như trong nước nhưng chắc chắn bức tranh đó cũng sẽ không được đẹp đẽ cho lắm.
Có thể có những quý vị nghĩ rằng: không nên quá đề cao người khác và rẻ rúng thân phận của mình – vì phải giữ lại niềm tự hào dân tộc. Riêng tôi thì không đồng ý với những quan điểm như thế.
Có hãnh diện gì khi nói ra những điều không hay về chính dân tộc mình, người viết cũng là người Việt, cũng có tất cả những thói hư tật xấu của người VN. Nhưng thiết nghĩ, muốn thoát khỏi sự thua kém, trước hết phải dám can đảm biết nhìn lại chính mình, phải biết mình tốt chỗ nào, xấu chỗ nào, đang đứng tại đâu và cần phải làm những gì. Cũng giống như một người sinh ra trong một gia đình nghèo khó bất hạnh, phải biết chấp nhận số phận đó, nhưng chấp nhận để tìm cách vươn lên chớ không phải chấp nhận để đầu hàng hoàn cảnh. Gần một trăm năm nước đây, Lỗ Tấn từ bỏ nghề y chuyển sang viết văn để mong đánh thức được dân tộc Trung Hoa ra khỏi căn bệnh bạc nhược bằng những toa thuốc cực đắng như “AQ chính truyện”, gần đây nhà văn Bá Dương tiếp nối tinh thần đó với “Người Trung Quốc xấu xí” cũng được nhiều đồng bào của ông cho đó là một đóng góp đáng kể. Cuộc cách mạnh Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng vào giữa thế kỷ 19 chắc chắn sẽ không thành công được như vậy nếu những nhà tư tưởng của Nhật lúc đó không vạch ra cho đồng bào của họ thấy được những những cái yếu kém trong văn hóa truyền thống cần phải bỏ đi để học hỏi những cái hay của Tây Phương, nhà văn Miyake Setsurei, dành riêng một cuốn sách công phu “Người Nhật xấu xa” xuất bản năm 1891 để đánh thức người Nhật ra khỏi căn bệnh lạc hậu.
Chúng ta chỉ có thể yêu nước nếu chúng ta có niềm tự hào dân tộc. Nhưng tự hào vào những điều không có căn cứ hay không có thật sẽ có tác dụng ngược như những liều thuốc an thần.
Những tự hào giả tạo này có khi vì thiếu hiểu biết, có khi vì mưu đồ chính trị của kẻ cầm quyền như những gì mà người CS đã làm đối với dân VN trong hơn nửa thế kỷ qua, và tác hại của nó thì ngày nay chúng ta đã thấy rõ.
Người Việt có những mâu thuẫn kỳ lạ. Chúng ta mang tự ái dân tộc rất cao nhưng đồng thời chúng ta cũng mang một tinh thần vọng ngoại mù quáng. Chúng ta thù ghét sự hiện diện của ngoại bang trên đất nước chúng ta bất kể sự hiện diện đó có chính đáng đến đâu, nhưng đồng thời giữa chúng ta cũng không tin lẫn nhau, xưa nay mọi giải pháp quan trọng của đất nước chúng ta đều trông chờ vào người ngoại quốc, chớ không tự quyết định số phận của mình.
Mỗi khi nói về những tệ hại của đất nước VN hiện nay đa số chúng ta thường hay đổ hết trách nhiệm cho người Cộng Sản. Thật sự CS không phải là thành phần duy nhất chịu trách nhiệm cho những bi kịch của đất nước hôm nay, họ chỉ là sản phẩm đương nhiên của một nền văn hóa thiếu lành mạnh. Nếu CS là nguyên nhân của mọi sự xấu xa thì thành phần người Việt đang sống tại những quốc gia văn minh và giàu có nhất thế giới như Hoa Kỳ, Canada, Úc… phải là những người thể hiện nếp sống văn hóa cao xứng đáng với xã hội văn minh mà họ thừa hưởng. Nhưng không, những người Việt đó, tuy khá hơn người trong nước nhưng vẫn thua kém nhiều sắc dân khác, vẫn mang tất cả những khuyết tật mà cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã nêu ra gần một trăm năm trước. Vẫn chia rẽ, vẫn tỵ hiềm nhau, vẫn xâu xé lẫn nhau, có khi chỉ vì bất đồng quan điểm, có khi chỉ vì một quyền lợi thật nhỏ, thậm chí có khi chỉ vì một hư danh.
Không phải là một tình cờ của lịch sử mà chủ nghĩa CS đã dành được những thắng lợi trong cuộc cách mạng mùa thu năm 1945, và luôn luôn giữ thế thượng phong trên đất nước VN từ đó đến nay. Dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh thay vì Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim… hoàn toàn không phải vì Hồ Chí Minh giỏi hơn, yêu nước hơn, nhiệt tình hơn những người kia, nhưng chỉ vì Hồ Chí Minh đáp ứng đúng tâm lý của người Việt – đó là tâm lý tôn thờ bạo lực. Chắc chắn không có nước nào trên thế giới này mà bài Quốc Ca có câu sắt máu như thế này: “Thề phanh thây uống máu quân thù”, mà “quân thù” đó bất cần là ngoại bang hay đồng bào ruột thịt, nghe mà rợn người. Khẩu hiệu của phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh vào những năm 1930, 31 do đảng CS lãnh đạo là: Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc trốc tận rễ.
Đối với người VN bạo lực có sức quyến rũ hơn là nhu cầu khai sáng trí tuệ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa. Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa CS dựa trên bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp. Giải pháp bạo lực này đòi hỏi phải luôn tồn tại một kẻ thù làm đối tượng. Hết kẻ thù thực dân phải tìm ra một kẻ thù khác để có lý do hành động, chính vì thế cho nên máu và nước mắt vẫn tiếp tục rơi trên đất nước VN trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Hoàn toàn trái ngược với Hồ Chí Minh, Phan Chu Trinh chọn giải pháp Khai Dân trí, Chấn Dân Khí, Hậu Dân sinh. Theo ông, muốn thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang và sự nghèo khổ lạc hậu, trước hết phải nâng cao dân trí, mở mang trí tuệ. Dân trí cao người dân sẽ ý thức được quyền làm người, quyền dân tộc, rồi từ đó sẽ tranh đấu bằng giải pháp chính trị để giành độc lập. Dân trí thấp kém cho dù có dành được độc lập thì vẫn tiếp tục là một dân tộc nô lệ ở một hình thức khác.
Có thể nói trong lịch sử hiện đại của VN, ông là một trong những người Việt hiếm hoi nhìn ra nguyên nhân mất nước, nguy cơ dân tộc, không phải ở đâu khác mà là trong văn hóa, từ văn hóa mà ra.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến có gần 30 nước dành được độc lập, phần lớn không đổ một giọt máu, chỉ có vài nước chọn chủ nghĩa CS trong đó có VN, phải trả bằng máu và nước mắt của hàng triệu sinh mạng để cuối cùng trở thành một trong những nước nghèo khổ và lạc hậu nhất thế giới. Chọn lựa này là chọn lựa của dân tộc, của VN chớ không phải do sức ép của ngoại bang hay một lý do gì khác. Người Cộng sản biến dân tộc VN trở thành một lực lượng tiên phong trong cuộc tranh chấp giữa hai khối CS và Tự Do và luôn luôn hãnh diện với thế giới về một dân tộc “bước ra khỏi cửa là thấy anh hùng”.
Hà Sĩ Phu đã có nhận xét rất đúng là giữa Hồ Chí Minh và Phan Chu Trinh, dân tộc VN đã chọn Hồ Chí Minh và những bi kịch của đất nước hôm nay là cái giá phải trả cho sự chọn lựa đó.
Thật cay đắng cho những người hết lòng vì nước vì dân như Phan Chu Trinh, mặc dầu nhìn xa thấy rộng, tư tưởng nhân bản, kiến thức uyên bác, lòng yêu nước và nhiệt tình có thừa, nhưng cuối cùng Phong Trào Duy Tân của cụ đã thất bại chỉ vì không được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng, ngay cả cụ Phan Bội Châu – một đồng chí thân thiết với cụ trong nhiều năm cũng không ủng hộ quan điểm của cụ.
Là một người yêu nước chân thật ông không tự lừa dối mình và lừa dối dân tộc của mình bằng những chiêu bài mị dân, những điều tự hào không có thật. Ông là người nhìn thấy được vấn đề, và cố gắng đi tìm một phương thuốc cứu chữa.
Nhưng tại những nơi mà lưỡi gươm có tác dụng mạnh hơn ngòi bút thì những tiếng nói nhân bản như ông trở thành những tiếng kêu giữa sa mạc hoang vắng và ông trở nên lạc lõng trong một xã hội mà nếp suy nghĩ hủ lậu đã bám rễ quá lâu và quá chặt, trở thành một căn bệnh trầm kha hủy hoại đất nước và làm cho dân tộc sa vào vòng nô lệ.
Nhìn qua đất nước Nhật Bản, một dân tộc có chiều dài lịch sử gần giống như chúng ta, có diện tích gần bằng, dân số không chênh lệnh mấy (127 triệu so với 87 triệu), cũng chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và Khổng Giáo, không khỏi làm cho chúng ta đau lòng khi thấy được sự khác biệt quá lớn giữa hai đất nước. Sự khác biệt về kinh tế, sự giàu có tiện nghi không phải là điều quan trọng, chủ yếu là sự khác biệt về cách suy nghĩ (mentality) giữa hai dân tộc. Vào thời điểm 1858, khi người Pháp bắt đầu xăm lăng VN thì dân ta vẫn còn u mê bám vào những giá trị đã lỗi thời, người Nhật tức thời bỏ những truyền thống hủ lậu, học hỏi những cái hay của Tây Phương để bắt kịp họ. Đến thời điểm sau Đệ Nhị Thế Chiến, VN muốn trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, người Nhật biết nuốt nhục của kẻ thua trận chịu sự đô hộ của Mỹ, tận dụng lòng mã thượng của kẻ chiến thắng, dồn mọi sinh lực dân tộc để vươn lên thành một cường quốc kinh tế.
Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Những nghiên cứu công phu và nghiêm chỉnh của các cơ quan quốc tế gần đây như Cơ quan Phát Triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program – UNDP) đã chứng minh một cách thuyết phục rằng sự chênh lệnh giàu nghèo giữa các quốc gia chủ yếu không phải do yếu tố địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tôn giáo, chủng tộc… mà chủ yếu là do yếu tố văn hóa. Văn hóa quyết định tất cả. Văn hóa tạo ra nếp suy nghĩ (mentality) của mỗi dân tộc, và chính nếp suy nghĩ này làm cho mỗi dân tộc có ứng xử khác nhau khi đương đầu với cùng một thử thách. Tại sao có những dân tộc mà quan chức chính phủ tham nhũng cả hàng triệu đô la như ở các nước Phi Châu hay VN ngày nay mà mọi người vẫn xem đó là chuyện bình thường, trong lúc đó tại một nước khác – một bộ trưởng chỉ vì nhầm lẫn nhận 600 đô cho quỹ tranh cử đã phải xin lỗi quốc dân rồi từ chức (1)? tại sao một quốc gia nhỏ bé như Do Thái chưa tới 3 triệu dân (2) có thể chiến thắng cả khối Á Rập trong cuộc chiến năm 1967 và tồn tại vững mạnh cho đến ngày hôm nay? Trong lúc đó có những nền văn minh đã từng một thời ngự trị thế giới mà ngày nay biến mất … và còn cả ngàn thí dụ khác để chứng minh rằng chính yếu tố văn hóa quyết định sự tồn vong và sự lớn bé của mỗi dân tộc.
Những dân tộc như Đức, Nhật, Do Thái, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Hoa Kỳ… cho dù bị thiên tai tàn phá đến đâu, cho dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn có thể vươn trở thành những nước giàu mạnh, trái lại những xứ như Iraq, Nigeria, Venezuela, Angola, Libya… mặc dầu tràn ngập dầu hỏa nhưng vẫn là những nước nghèo.
Bước ngoặt quan trọng nhất đã làm thay đổi khoảng cách giữa ta và Nhật chính là cuộc cách mạng Duy Tân tại Nhật bắt đầu từ năm 1868. Trong lúc người Nhật tức thời thay đổi thì các vua chúa VN vẫn còn ngủ mê bên trong các bức tường cung điện ở Huế. Họ không thấy được thế giới đã thay đổi, vẫn tiếp tục tôn sùng và thần tượng Trung Quốc trong lúc nước này đã bị thua thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương.
Vào tháng 7 năm 1853 khi triều đình Tokugawa từ chối không cho Thuyền trưởng người Mỹ Mathew Perry lên bờ để trao bức thư của Tổng Thống Fillmore, ông ra lệnh bắn vào thành phố Edo (Tokyo ngày nay). Những quả đại bác này đã làm cho người Nhật thức tỉnh ngay. Lòng ái quốc và niềm tự hào dân tộc đã làm cho họ đoàn kết lại để tìm cách giúp đất nước thoát khỏi nguy cơ nô lệ. Chính sự thức tỉnh này đã mở đầu cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân kéo dài 44 năm. Đó là một cuộc cách mạnh đúng nghĩa, một cuộc cách mạng triệt để, họ làm đến nơi đến chốn, kẻ đi Mỹ, người đi Âu Châu, kẻ đi chính thức người đi lậu bằng cách trốn xuống tàu buôn Tây Phương như trường hợp của thần đồng Yoshida Shôin, tất cả đều cùng một mục đích là tìm đến tận nguồn cội của nền văn minh để học hỏi những cái tinh túy mang về thay đổi đất nước. Họ từ bỏ một cách dứt khoát tất cả những cái cũ không còn hợp nhưng không để mất tinh thần độc lập. Họ không phải chỉ có một ông vua Minh Trị hết lòng yêu nước mà cả trăm ngàn những tấm lòng như thế quyết tâm đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Tây Phương.
Khi nói đến cuộc Duy Tân Minh Trị nhiều người vẫn lầm tưởng đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ, mở cửa để giao thương và học hỏi kỹ thuật của Phương Tây. Thật sự không phải như thế, học hỏi kỹ thuật chỉ là mặt nổi, chủ yếu là người Nhật học hỏi những tinh túy về tư tưởng của người Tây Phương để khai sáng trí tuệ cho dân tộc của họ.
Chỉ có vài quả bom của Thuyền Trưởng Mathew Perry đã làm cho người Nhật thức tỉnh, trong lúc đó nhìn lại đất nước chúng ta, kể từ thời điểm 1853 cho đến hôm nay đã có hàng trăm ngàn quả bom đã rơi xuống đất nước Việt Nam, không những chỉ tàn phá hình hài đất nước mà còn làm tan nát tâm hồn dân tộc với bao sự ngậm ngùi, nhục nhã đắng cay của một dân tộc nhược tiểu. Nhưng tất cả những nỗi đau đó vẫn chưa đủ để làm cho người Việt thức tỉnh, để thấy cần phải có một nhu cầu thay đổi cần thiết như người Nhật đã làm từ giữa thế kỷ thứ kỷ 19.
Vào tháng 8 năm 1858 người Pháp bắt đầu cuộc chiến xăm lăng đất nước VN, trước đó vào mùa thu năm 1847 để phản đối chính sách cấm đạo của vua Thiệu Trị, Trung tướng Rigault de Genouilly đã bắn chìm 5 chiếc thuyền của Việt Nam, năm 1842 Trung Quốc đã bại trận thê thảm trước sức mạnh của Tây Phương trong cuộc chiến Nha Phiến. Nhưng tiếc thay tất cả những dấu hiệu cảnh cáo đó vẫn chưa đủ để làm cho triều đình nhà Nguyễn thức tỉnh. Đến lúc đó họ vẫn không nhận ra rằng đất nước đang đứng trước khúc quanh của lịch sử. Từ thời điểm năm 1842 hay 1847 cho đến 1858, đó là một khoảng thời gian rất dài (14 năm), nếu các vua nhà Nguyễn thức thời, khôn khéo như các vua chúa Nhật Bản thì đất nước chúng ta đâu phải chịu 80 năm đô hộ của người Pháp và đâu phải chịu tai họa Cộng Sản kéo dài đến hôm nay.
© Phạm Hoài Nam

http://www.danchimviet.info/archives/35572
See Translation

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản? | Đàn Chim Việt
www.danchimviet.info
Trước đây do công việc tôi có dịp đi Nhật nhiều lần cũng như đi nhiều nước khác trên thế giới. Nước Nhật không phải là nước mà tôi thích đến nhất (có thể vì đắt đỏ quá) nhưng đó là đất nước mà tôi nể phục nhất – không chỉ phục ở

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản? | Đàn Chim Việt     ad468x60

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản? | Đàn Chim Việt ad468x60
danchimviet.info

Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

Bài này rất hay- Nên đọc:
Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa
(RFA)
Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy “xác chết” có tên Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.
Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.
Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới – đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa – Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi “Trích Lục Bộ Khai Sanh” [*].
Sài Gòn – nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam .
Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói. Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa – Trường Sa ngày xưa.
Thay mặt gia đình
Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.
Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.
Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật.
Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.
Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.
Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.
Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.
Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng. Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự “ân sủng” dành cho ông – một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự “ban ơn” nào từ người cộng sản.
Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.
Tôi có ba người chú ruột đều được “phong liệt sĩ”. Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được “tặng” “bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và “thân cộng” lúc đó. Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng “cách mạng 30/4”. Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong “khu”, người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v…
Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai – mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc “sinh đẻ có kế hoạch”. Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.
Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như…
Vâng, chính cái “giá như” nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi “tan đàn xẻ nghé” từ dạo ấy. Dạo mà “rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn” với ngày 30/4/1975 (!)
Một giòng tộc như thế mà nói đến “đoàn kết” (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là…hài kịch.
Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội.
Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.
Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:
– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.- Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, sách nhiễu v.v… Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”. – Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[*]*
Cá nhân tôi
Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội – có thể chưa phải là tốt đẹp nhất – nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng “cải cách” giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ.
Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam .
Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ – tựa như “hàng rào nhân cách” được kiểm soát kịp thời.
Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy – Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.
Tôi biết ơn các Giáo sư [*]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.
Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v… nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người “tay ngang” trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy – Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.
Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho “tính người” trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. Thảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng.
Đặc biệt “chữ nghĩa” hầu như trôi sạch hết cùng những “tem phiếu”, “xếp sổ mua gạo”, chầu chực “mua nhu yếu phẩm” v.v… ngày xưa.
Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi “trầm mình” trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.
Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.
Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy – Cô của ngày xưa.
Nguyễn Ngọc Già,
Việt Nam 11/06/2014
____________________
*Nội dung bài viết không nhất thiết phản ảnh quan điểm của RFA.
https://www.facebook.com/HAPPENINGTODAY/posts/427453970729892

Tóm gọn 5000 năm sử VIỆT xưa

Tóm gọn 5000 năm sử VIỆT xưa

Tộc Việt ở vùng Hồ Động Đình, phía nam trung lưu sông Dương Tử, khoảng năm 5000 ttl, cách đây 7000 năm.*1 Từ đó, Dân Việt ngày thêm đông đúc, và tỏa lan khắp các vùng chung quanh. Vùng sông hồ Đồng Đình đã giúp Dân Việt thạo nghề đánh cá và nông nghiệp lúa nước.

THỜI KHỞI NGUYÊN : 5000-2879 TTL [2121 năm]

1.1 Hai Ông Bà Tổ và vùng Đất Khởi Nguyên.

a. Hai Ông Bà Khởi Tổ của Tộc Việt ở vùng Hồ Động Đình, phía nam trung lưu sông Dương Tử, khoảng năm 5000 ttl, cách đây 7000 năm.*1

Từ đó, Dân Việt ngày thêm đông đúc, và tỏa lan khắp các vùng chung quanh. Vùng sông hồ Đồng Đình đã giúp Dân Việt thạo nghề đánh cá và nông nghiệp lúa nước.

 

Nhờ nhiều thuận hợp đặc biệt của vùng Đất Tổ Động Đình, dân Việt đã phát triển một nền Văn hóa Nông nghiệp Lúa nước nổi bật hơn những nền văn hóa lúa nước khác. (Bản đồ 1).*2

altalt

b. Di tích Tiêu biểu Hai Ông Bà Tổ.

1. Mấy trăm triệu con cháu. Ngày nay chúng ta không còn di tích của Hai Ông Bà Tổ. Tuy nhiên, mấy trăm triệu con cháu Tộc Việt, trên vùng đất mênh mông Á Đông, với một nền Văn hóa Việt đặc biệt, là di tích sống động và trường tồn của Hai Vị Thánh Tổ Linh Thiêng.

2. Bà Tiên Ông Rồng. Dân Việt coi Mẹ mình là Bà Tiên và gọi Cha mình là Ông Rồng. Rồi theo đà phát triển, với tình kính quý và biết ơn sâu xa đối với Hai Vị Tổ Đầu Tiên, Tổ Tiên ta đã tôn Hai Ngài thành Biểu Tượng Tiên Rồng Linh Thiêng cao quý nhất của Dân Việt. Dân Việt âu yếm gọi Ông Bà Tổ là Mẹ Tiên và Cha Rồng, và tự xưng là Con cháu Tiên Rồng.*3

*         *

1.2 Ba Giai đoạn Thời Khởi Nguyên.

a. Ba Giai đoạn 3 Vùng.

Vì hạ lưu sông Dương Tử còn úng nước, và vì thượng lưu Dương Tử núi rừng hiểm trở, Dân Việt đã phát triển về hướng thượng lưu Sông Tương. Vì vậy, vùng nầy được gọi là Việt Thượng.

Với thời gian, Dân Việt vượt thượng lưu Sông Tương, tiến về Nam và phát triển đặc biệt với 3 Trung tâm chính là vùng Đồng Đình Sông Tương, lưu vực Tây Giang, và lưu vực Sông Hồng Sông Mạ. (Bản đồ 2).*4

alt

b. Đặc điểm.

Biệt tài trên sông nước là niềm hãnh diện của Tộc Việt từ thời Khởi Nguyên ở vùng Hồ Động Đình cho đến hiện nay. Trên đường Nam tiến, đặc biệt với việc vượt biển đi về giữa cửa Tây Giang và Sông Hồng, dân Việt phương Nam đã phát triển tuyệt nghệ vượt biển.

Hơn nữa, theo khảo cổ hiện nay, từ nhiều ngàn năm trước, nhà sàn mái cong là đặc điểm của vùng Sông Hồng xuôi nam.*5

c. Di tích Tiêu biểu Thời Khởi Nguyên, 5000-2879 ttl.

1. Chữ Việt Vượt Biển 越.Hãnh diện với tuyệt nghệ vượt biển, hình ảnh vị Thủ Lãnh [4] trên Thuyền vượt biển đã trở thành biểu hiệu của dân Việt phương Nam. Từ đó, hình ảnh nầy trở thành chữ Việt 越 cho toàn thể Dân Việt.*6

alt

2. Chữ Thượng 常 Nhà sàn Mái cong. Chính hình vẽ nhà sàn mái cong là nguồn gốc của chữ Thượng 常.

alt

Như vậy, chữ Việt 越 là do Dân Việt phương Nam, chữ Thượng 常 được hiểu là dân Việt vùng Sông Hồng.

*         *         *         *

2. THỜI HÙNG : 2879-180 TTL [2699 năm]

a. Thời Hùng khởi đầu năm 2879 ttl, hơn 2000 năm sau Ông Bà Tổ, khi dân Việt đã tỏa lan khắp vùng Á Đông. Ngoài 3 vùng phát triển chính, Tộc Việt cũng đã có mặt trên khắp vùng từ Hồ Động Đình, rải rác dọc theo Sông Dương Tử ra tới Biển, lên phía Bắc tới ranh thiên nhiên Sông Hoài Tần Lĩnh, về miền rừng núi phía Tây tới sông Cửu Long, và xuống phương Nam tới vùng đường ranh Hải Vân.*7

Những điều kiện địa lý và khí hậu đã biến 2 vùng Động Đình và Sông Hồng thành 2 trung tâm Nông nghiệp Lúa nước quan trọng nhất trong vùng. (Bản đồ 3).*8

alt

b. Di tích Tiêu biểu Đầu Thời Hùng, 2879 ttl.

– 5000 năm lịch sử. Dân Việt ghi nhớ năm Khởi đầu Thời Hùng với việc liên tục đếm thời gian. Hiện nay ta có câu : ‘Dân Việt có 5000 năm lịch sử’. [2879+2013 = 4892].*9

c. Thời Hùng kết thúc năm 180 ttl, khi trị sở của Việt Lạc là Thành Ốc của Vua An Dương, nay là Cổ Loa, bị Triệu Đà xâm chiếm.*10

Thời Hùng từ 2879 tới 180 ttl, gồm 2699 năm.

* Thời Hùng bao trùm tất cả mọi biến cố của Tộc Việt. Tuy nhiên, sách vở Trung Hoa đã đánh lận một phần lịch sử Tộc Việt thành của họ. Dầu vậy, để chia Thời Hùng, ta có thể theo các thời kỳ sẵn có.*11

Thời Hùng có 4 thời kỳ lớn.

*         *         *         *

3. THỜI HÙNG 1 : 2879-2070 TTL – gồm cả thời Tam Hoàng Ngũ Đế  [809 năm].

Thời nầy chia là 2 giai đoạn.

3.1 Thời Hùng 1A : 2879-2700 ttl – gồm cả thời Tam Hoàng [179 năm].

a. Ba Vị Tam Hoàng là Nữ Oa, Phục Hy, và Thần Nông. Theo truyền thuyết, Tam Hoàng đã sống trước khi tộc Hoa thành hình hơn 1800 năm [tộc Hoa thành hình năm 1046 ttl ở vùng Thiểm Tây khô cằn]. Lại nữa, từ cách gọi tên tới tiểu sử , Tam Hoàng đều thuộc nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Vì vậy, quê hương của các Vị chỉ có thể là vùng Hồ Động Đình, và các Vị là Dân Việt.*12

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 1A, 2879-2700 ttl.

Tam Hoàng : Nữ Oa mặc áo lông chim, Nữ Oa và Phục Hy có đuôi rắn, thuộc văn hóa Tiên Rồng của dân Việt. Thần Nông là vị thần của vùng Nông nghiệp lúa nước. [không thể là vị thần của sa mạc du mục].*13

alt

*         *

3.2 Thời Hùng 1B : 2700-2070 ttl – gồm cả thời Ngũ Đế [630 năm].

a. Ngũ Đế gồm : Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Cũng như đối với Tam Hoàng, sách vở Trung Hoa đã đánh lận Ngũ Đế thành tổ của tộc Hoa. Tuy nhiên, lý lịch của Các Ngài chứng tỏ Các Ngài thuộc nền văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước của Tộc Việt, ở vùng Động Đình. [Khác hẳn với tộc Hoa thuộc nền văn hóa gốc du mục].*14

Ngoài vùng lúa nước Động Đình, các Trung tâm phát triển khác của Tộc Việt, là Tây Giang và Sông Hồng, cũng tiếp tục phát triển. Đây cũng là thời điểm Dân Việt Thượng vùng Sông Hồng xác định tính cách trổi vượt của mình, và tự xưng là Lạc.*15

b. Đặc điểm.

1. Rùa Việt Thượng. Truyền thuyết thời Đế Nghiêu năm thứ 5, 2191 ttl, có Sứ giả Việt Thượng dâng Rùa ngàn năm, trên mu có ghi chữ… Đế Nghiêu chép lại và gọi là Quy Lịch.*16

Đang khi đó, không chỉ hình ảnh gốc của chữ Việt 越 [Vượt biển] và chữ Thượng 常 [Nhà sàn mái cong] đều chỉ phương Nam và vùng Sông Hồng, [đoạn trên, 1.2b], mà cho tới hiện nay, khắp vùng Á Đông, Rùa ngàn năm cũng chỉ có ở lưu vực Sông Hồng và Sông Mạ. [Hồ Hoàn Kiếm].*17

 Như vậy, vào thời đó, 2191 ttl, dân Việt Sông Hồng đã có chữ viết, đã có lịch, và đã loan truyền tới các vùng khác.

2. Rùa thần Sách Lạc. Cuối Thời Hùng 1B, lại có truyền thuyết Đại Vũ được Rùa thần trên mu ghi Sách Lạc. Sách Lạc được biểu trưng bằng 9 nhóm chấm trên lưng Rùa Thần. Nhờ đó, Đại Vũ học được cách trị thủy và cách trị dân.*18

alt

 Như vậy, Rùa thần Việt Thượng và Rùa thần Sách Lạc có cùng một nguồn gốc và cùng một nội dung. Chỉ khác ở chỗ nội dung Rùa thần Sách Lạc súc tích và chi tiết hơn.

c. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 1B, 2700-2070 ttl.

1. Rùa thần ngàn năm. Khắp vùng Á Đông, chỉ có vùng Sông Hồng Sông Mạ là có Rùa khổng lồ ngàn năm.

alt

2. Chữ Việt Sách Lạc. Hơn nữa, dân Việt Sông Hồng còn dùng hình ‘Rùa thần mang Sách Lạc’ làm biểu hiệu riêng. Hình ‘Rùa thần mang Sách Lạc’ đã trở thành chữ Việt 粤 riêng của dân Lạc.*19

alt

3. 4200 năm Văn hiến. Để ghi nhớ thời dân Việt Sông Hồng đã có thể phổ biến chữ viết và kiến thức của mình, Tổ Tiên ta còn có câu ‘Chúng ta có 4000 năm Văn hiến’. Hiện nay đã là 4200 năm. [2191+2013 = 4204].*20

*         *         *         *

4. THỜI HÙNG 2 : 2070-1600 TTL [470 năm]

Thời Hùng 2 gồm cả Nhà Hạ :

4.1 Thời Hùng 2A : 2070-1800 ttl – gồm cả Tiền Hạ [270 năm].

a. Năm 2070 ttl, sau khi theo Sách Lạc để khai thông đường thủy, thoát nước vùng hạ lưu sông Dương Tử, Đại Vũ trở thành người cai trị vùng đất mới khai phá, tức là vùng Đất Hạ. Sau đó, Ông thành lập Nhà Hạ.*21

Cũng vậy, tuy sách vở Trung Hoa chỉ chú trọng tới Nhà Hạ, mà họ đánh tráo thành tổ tiên người Hoa, ngoài Việt Hạ, các vùng Việt khác vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Đặc biệt, qua truyền thuyết Đại Vũ được Sách Lạc, việc phát triển của vùng Sông Hồng đã ảnh hưởng tới kỹ thuật trị thủy và đường lối cai trị của Đại Vũ.

Theo khảo cứu hiện nay, nhờ phát minh chiếc cày cho trâu kéo, vùng Việt Thượng Sông Hồng và vùng Việt Hạ đã phát triển mạnh về kinh tế, về cuộc sống, cũng như về nhân số. (Bản đồ 4).*22

alt

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 2A, 2070-1800 ttl.

1. Chữ Hạ 夏 Trâu cày.  Hình vẽ con trâu kéo cày trở thành biểu hiệu của Việt Hạ đương thời. Thời gian sau, hình vẽ trở thành chữ Hạ 夏.

alt

2. Chữ Hồng 洚 Thủy Ngưu. Đang khi đó, thay vì dùng hình vẽ trâu kéo cày, người Việt Lạc Sông Hồng viết tên Hồng 洚 một cách trí thức hơn [vì đã có chữ viết từ lâu], bằng các chữ Thuỷ [1], Ngưu [2] và hình cái cày [3]. Ngưu là Bò, thủy ngưu là Trâu.*23

[1]: Chữ Thuỷ trong chữ HỒNG (洚)

[1]: Chữ Thuỷ trong chữ HỒNG (洚)

[2]: Chữ Ngưu trong chữ HỒNG (洚)

[2]: Chữ Ngưu trong chữ HỒNG (洚)

[3]: Hình cái cày trong chữ HỒNG (洚)

[3]: Hình cái cày trong chữ HỒNG (洚)

洚 HỒNG

*         *

4.2 Thời Hùng 2B : 1800-1600 TTL – gồm cả Hậu Hạ [200 năm].

a. Từ năm 1800 ttl, người dân Việt Hạ đã phát triển mạnh, và đã vượt Sông Hoài, lên lưu vực Hoàng Hà. (Bản đồ 5).*24

alt

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 2B, 1800-1600 ttl.

Khảo cổ hiện nay coi vùng đất Sông Vị chảy vào Hoàng Hà là đất Nhà Hạ.

alt

*         *         *         *

5. THỜI HÙNG 3 : 1600-1046 TTL [554 năm]

Thời Hùng 3 gồm cả Nhà Thương.

5.1 Thời Hùng 3A : 1600-1300 ttl – gồm cả Tiền Thương [300 năm].

a. Năm 1600 ttl, sau 200 năm được trợ lực bởi kỹ thuật, văn hóa, và nhân sự của Dân Việt mới nhập cư, dân địa phương vùng đông bắc Sông Hoài đã có thể thành lập Nhà Thương. (Bản đồ 6).*25

alt

Trong thời kỳ nầy, dân Việt vùng Dương Tử cũng phát triển mạnh, đặc biệt xuất sắc nghề đúc đỉnh và vạc đồng.*26

Đang khi đó, dân Việt Lạc Sông Hồng trổi vượt trong nghề đúc trống đồng. Cho tới hiện nay, vùng Việt Lạc vẫn là nơi phát hiện nhiều trống đồng cổ nhất. Ngoài Việt Nam có 360 trống đồng cổ, trong số 1460 trống đồng cổ ở Trung Hoa, năm 1988, Quảng Đông: có 230 trống, Quảng Tây: 560, Vân Nam: 160, Quý Châu: 88, Hồ Nam: 27. (Bản đồ 7).*27

alt

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 3A, 1600-1300 ttl.

1. Đông Di. Dầu gom Nhà Thương thành lịch sử Trung Hoa, dân Hoa vẫn coi Nhà Thương là Đông Di, tức là dân mọi rợ ở phía Đông, không phải tộc Hoa. (Bản đồ 8).*28

alt

2. Đồ đồng Dương Tử.  Càng ngày càng nhiều phát hiện ở các di chỉ 2 bên bờ Dương Tử.*29

alt

3. Văn minh Trống đồng Việt Lạc. Dầu là hiện nay, ngoài vùng Việt Lạc, các vùng khác hầu như không có trống đồng cổ.

*         *

5.2 Thời Hùng 3B : 1300-1046 ttl – gồm cả Hậu Thương / Ân [254 năm].

a. Năm 1300 ttl, Nhà Thương dời đô tới An Dương, thuộc vùng đất Ân. Vì vậy, còn gọi là Nhà Ân. Nhà Ân trở thành hùng mạnh, và lấn chiếm vùng phía nam Sông Hoài. (Bản đồ 9).*30

alt

Năm 1218 ttl, Ân Cao Tôn xâm lăng vùng Đồng Đình của Việt Lạc. Đây là thời cường thịnh nhất của Nhà Ân. Dầu vậy, 3 năm sau, Ân Cao Tôn bị dân ta đánh bại. Tuy nhiên, thời gian xâm lăng đã đủ để Ân Cao Tôn cướp bóc Dân Việt ở toàn vùng sông Dương Tử. (Bản đồ 10).*31

alt

Do đó, thủ đô An Dương trở thành kho chứa báu vật, đồ đồng và chữ viết, gia sản của Dân Việt.

Hiện nay đã khám phá tại An Dương hàng ngàn đồ đồng, và khoảng 5000 chữ viết trên xương, trong đó có hơn 3000 chữ đã chuẩn xác. Tuy nhiên, tại An Dương không có dấu vết của chữ viết thời sơ khai, hoặc của giai đoạn sơ khai của kỹ nghệ đúc đồng. Tất cả đều đột hiện ở An Dương, từ 1300 – 1046 ttl, từ khi cướp phá dân Việt phương Nam. [Hơn 170 năm trước khi tộc Hoa thành hình].*32

Đang khi đó, dân Việt Lạc Sông Hồng, Lạc Hồng, đã kiện toàn một nếp sống đem lại thịnh vượng, thanh bình, và hạnh phúc. Vào cuối Thời Hùng 3B, kỹ thuật đúc đồ đồng của Lạc Hồng đã bước vào thời tuyệt kỹ.*33

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 3B, 1300-1046 ttl.

1. Truyền kỳ Phù Đổng. Cuộc chiến đấu chống Ân Cao Tôn đã trở thành Truyền kỳ dạy Việc Cứu Nước.*34

 alt

2. Chữ Viết và Đồ Đồng của Dân Việt. 5000 chữ viết, hàng ngàn đồ đồng.

alt

3. Tuyệt tác đồ đồng Việt Lạc, đặc biệt Thạp và Trống.

 *         *         *         *

alt

6. THỜI HÙNG 4 : 1046-180 TTL [866 năm]

6.1 Thời Hùng 4A : 1046-771 ttl – đồng thời với Tây Chu [275 năm].

a. Năm 1046 ttl, sau thời gian tụ tập các bộ lạc du mục ở vùng Thiểm Tây khô cằn giá lạnh, bộ tộc Chu thành lập Nhà Chu ở thung lũng Sông Vị. Từ đó, tộc Hoa thành hình.*35

Tộc Hoa thuộc nền văn hóa gốc du mục, trọng vũ lực, hiếu thắng, chuyên cướp bóc… Về lãnh thổ, dân số, văn minh, văn hóa, sức mạnh quân sự… tộc Hoa đã chỉ bằng một phần nhỏ của dân Việt đương thời. (Bản đồ 11)*36

alt

 Đang khi đó, dân Việt vùng Dương Tử lại đã có Nước Sở và Nước Việt hùng mạnh. [Tuy nhiên, thời kỳ nầy, sách vở Trung Hoa chỉ biết tới nước Sở ở Bắc Dương Tử]. Sách vở Trung Hoa chê ghét phục sức, tính tình, phong tục, ca nhạc nước Sở, vì khác biệt với tộc Hoa du mục. Sở hùng mạnh từ năm 1030 – 223 ttl. (Bản đồ 12).*37

alt

Dân Việt Lạc vùng Sông Hồng cũng đã trở thành đông đúc, trù phú, phồn thịnh, và phát triển vượt bực về mọi phương diện, đặc biệt về văn hóa, văn học, về sách vở, tư tưởng, học thuyết.*38

Đặc điểm tuyệt vời của Lạc Hồng là đúc Thạp và Trống đồng để lưu truyền nền Văn minh và Văn hóa Việt, và nhất là để mã hóa toàn bộ học thuyết Việt, từ học thuyết Âm Dương Tám Quẻ, tới học thuyết Tiên Rồng, Đất Trời Năm Hành, Đạo và Đức.*39

Cũng vậy, với chữ viết thuần thục từ hơn 1000 năm, với việc thấu triệt toàn bộ Học thuyết, việc Lạc Hồng ghi chép thành Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Tiên Rồng, Kinh Đất Trời, Kinh Đạo Đức… cũng là đương nhiên. [Đang khi đó, tộc Hoa du mục sơ khai lạc hậu vừa thành hình].*40

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 4A, 1046-771 ttl.

1. Đồ đồng nước Sở có nhiều hình và trang trí chim, rắn.

alt

2. 3000 năm Học thuyết Lạc Hồng.  Trên Thạp Đào Thịnh và Trống Ngọc Lũ, Tổ Tiên Lạc Hồng đã lưu truyền toàn bộ học thuyết Việt.

Tiêu biểu : sau đây là nguồn gốc tên và chữ : – ‘Âm’ do tiếng Việt ‘Om’ là cái thạp, chữ ‘Âm’ là do hình vẽ cái ‘Om’. – ‘Dương’ do tiếng Việt ‘Rưng’ là cái trống, chữ ‘Dương’ là do hình vẽ cái ‘Rưng’. – Chữ ‘Dịch’ là do hình cái Om trên cái Rưng.*41

altaltalt

3. Chữ Việt Đồ Đồng. Hãnh diện và trao truyền cho con cháu thành công của mình, dân Việt Lạc Sông Hồng đã sáng tạo một chữ Việt thứ ba 鉞. Ngoài việc dùng chữ Việt 越 gồm hình ảnh vị Thủ Lãnh [4] trên Thuyền vượt biển, Tổ Tiên dùng thêm chữ Việt 鉞 gồm vị Thủ Lãnh [4] và chữ Kim 金,đồ đồng.*42

[4]: Hình ảnh vị Thủ Lĩnh trong chữ VIỆT (鉞)

[4]: Hình ảnh vị Thủ Lĩnh trong chữ VIỆT (鉞)

alt

Ghi dấu 3000 năm Tuyệt kỹ đồ đồng, mà cũng là 3000 năm Học thuyết Lạc Hồng.

4. Tác phẩm của Lạc Hồng.

altaltaltalt

*         *

6.2 Thời Hùng 4B : 771-207 ttl – đồng thời với Đông Chu và Tần [564 năm].

a. Năm 771 ttl, nhóm du mục Khuyển Nhung từ Ninh Hạ xâm chiếm vùng Sông Vị, và trở thành Nhà Tần. Nhà Chu chạy về phía đông, nên gọi là Đông Chu. Du mục Tần tàn bạo hơn du mục Chu. Dân trong vùng sống trong hơn 500 năm loạn lạc. Năm 221 ttl, Tần diệt tất cả các nước chung quanh, và thành lập nước Trung Hoa, với Tần Thủy Hoàng.*43

Các biến động ở miền bắc đã lan xuống phần đất giữa Sông Hoài và Dương Tử của Dân Việt. Vùng nầy bị kết chung với miền bắc, mà Trung Hoa gọi là Trung Nguyên.*44

Miền Nam Dương Tử có Nước Việt, thủ đô là Cối Kê [do Đại Vũ thành lập từ 1600 năm trước], trở thành hùng mạnh. Việt Câu Tiển tiến lên phía bắc, chiếm nước Ngô. (Bản đồ 13).*45

alt

Đang khi đó, Dân Việt Lạc ở vùng Đồng Đình và Việt Thượng vẫn tiếp tục phát triển trong thanh bình, và sáng tạo nhiều tuyệt tác tri thức cũng như kỹ thuật.*46

Dân Việt Lạc cũng chứng tỏ hùng mạnh qua việc chiến thắng quân Tần. Năm 214 ttl, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư kéo 50 vạn quân tinh nhuệ, vừa thống nhất Trung Nguyên, xâm lăng vùng đất Việt Lạc. Đây là lần đầu tiên Việt Lạc bị ảnh hưởng của Trung Hoa. Nhưng sau 3 năm, Đồ Thư bại trận và bị giết.*47

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 4B, 771-207 ttl.

1. Nước Việt Chiết Giang. Việt Câu Tiển là một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.

2. Việt Lạc đánh bại quân Tần. Đoàn quân 50 vạn của Tần Thủy Hoàng bị đại bại ở Việt Lạc.

alt

*         *

6.3 Thời Hùng 4C : 207-180 ttl : Việt Lạc với Triệu Đà [27 năm].

a. Năm 207 ttl, tướng Triệu Đà chiếm được một vùng của Việt Lạc, nay thuộc Quảng Đông và Quảng Tây, và thành lập nước Nam Việt.

Tuy nhiên, vì muốn lập một đế quốc riêng, Triệu Đà đã tự mình thay đổi theo phong tục, cách sống của Dân Việt Lạc, và củng cố mọi thể chế kinh tế, xã hội, quốc phòng Việt.*48

Đang khi đó, vùng Việt Lạc Đồng Đình còn có Trường Sa Vương. Vùng Việt Lạc Sông Hồng, trung tâm của Việt Lạc, còn có Vua An Dương.

Năm 180 ttl, với kế cho Trọng Thủy ở rể làm gián điệp, và được Mỵ Châu tiết lộ bí mật quốc phòng ‘Nỏ thần’, Triệu Đà xâm chiếm Thành Ốc (Loa thành), nay là Cổ Loa, trị sở của Việt Lạc.  

Thời Hùng kết thúc.*49

b. Di tích Tiêu biểu Thời Hùng 4C, 207-180 ttl.

1. Truyền kỳ Mỵ Châu. Kinh nghiệm mất nước đã trở thành Truyền kỳ dạy Việc Giữ Nước.*50

alt

2. Tượng Mỵ Châu không đầu. Vì trọn tình Nhà, hết lòng với chồng, nên Mỵ Châu được thờ kính, ở Cổ Loa. Nhưng vì có trách nhiệm trong việc làm mất Nước, nên (Mỵ Châu bị chém đầu, và) được thờ với tượng không đầu. [Văn hóa Việt : Có Nhà mà cũng phải có Nước, có Nước mà cũng có Nhà].*51

alt

*         *         *         *

7. THỜI SUY VI : 180 TTL – 906 DL [1086 năm]

Thời Suy Vi có 5 giai đoạn :

7.1 Thời Phụ Dung, 180 ttl – 30 dl [210 năm].

Trong 69 năm, 180-111 ttl, vùng Sông Hồng [và trong 96 năm, 207-111 ttl, các vùng Nam Việt], dầu sống dưới triều Nhà Triệu, dân Việt Lạc vẫn tiếp tục sống nếp sống và thể chế của Tổ Tiên, nên chỉ là một nước phụ dung.*52

Từ 111 ttl – 30 dl, Nam Việt trở thành một nước phụ dung đóng thuế cho triều Hán. [Như việc triều cống của các thời sau].*53

Năm 30 dl, Việt Lạc bị xâm lăng, Hán Quang Vũ đưa quan lại tới trực tiếp cai trị các vùng Việt Lạc, áp đặt chính sách Trung Hoa.*54

*         *

7.2 Nhà Trưng, 30-43 dl, Đức Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam [13 năm].

a. Từ năm 30 dl,  toàn thể Việt Lạc đã vùng lên chống giặc Hán xâm lăng, Đức Trưng Trắc trở thành Thủ Lãnh.*55

 Năm 40 dl, Việt Lạc hoàn tất việc tái chiếm toàn thể vùng đất Việt Lạc. Ngày nay, ngoài phần đất Nước ta, còn gồm Hồ Nam, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, và một phần Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến. Đây là phần đất thuộc hai Vùng Đồng Đình và Lĩnh Nam. Vì vậy, Đức Trưng Vương đáng được tôn xưng là Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam. (Bản đồ 14).*56

alt

b. Di tích Tiêu biểu Thời Nhà Trưng.

Trong 2000 năm qua, dân Việt Lạc khắp nơi , từ Mê Linh tới Hồ Đồng Đình, đều lập đền thờ thờ kính Đức Đại Đế Đồng Đình Lĩnh Nam.

alt

*     *

7.3 Bắc Thuộc lần 1, 43-541 dl [498 năm].

Năm 43 dl, giặc Hán áp đặt chế độ trực trị, khởi đầu thời Bắc thuộc.*57

Từ 43 tới 541 dl, dài 498 năm, sự lệ thuộc có nhiều giai đoạn và nhiều tình huống khác nhau, tùy theo tình hình và những thay đổi triều đại, đặc biệt tùy những xáo trộn trong nội bộ Trung Hoa.

Đây cũng là thời kỳ giặc Tàu cướp phá, soán đoạt, mạo nhận, cũng như xóa bỏ nguồn gốc những gì hay tốt, không chỉ vật dụng, mà còn cả nền văn minh, học thuyết, văn hóa của Việt Lạc, đặc biệt của Việt Lạc Sông Hồng.

Bà Triệu khởi nghĩa, năm 248 dl.*58

*     *

7.4 Nhà Tiền Lý, 541-602 dl [61 năm].

Đức Nam Việt Đế, [Lý Nam Đế], khởi nghĩa năm 541 dl, thành công từ năm 544 dl. Lần đầu tiên sách vở Trung Hoa ghi lại một vua Việt Lạc với Đế hiệu. Niên hiệu là Thiên Đức, quốc hiệu là Vạn Xuân. Nhà Tiền Lý dài 61 năm.*59

*     *

7.5 Bắc thuộc lần 2, 602-906 dl [304 năm].

Tổng cộng 2 lần Bắc thuộc là 802 năm.

Mai Hắc Đế, khởi nghĩa năm 722 dl.*60

Bố Cái Đại Vương, khởi nghĩa năm 791 dl.*61

*         *         *         *

8. THỜI PHỤC HƯNG : từ 906 DL

Từ năm 906 dl, dân Việt vùng Giao Châu giành quyền tự trị, mở đầu thời Phục Hưng nền tự chủ và nếp sống Việt. Từ đó, ranh giới phía bắc của Giao Châu trở thành ranh giới nước Đại Việt.

Năm 906 dl, Khúc thừa Dụ được dân bầu [‘chúng cử’] thành thủ lãnh cai trị Giao Châu. Năm sau, quân Tàu kéo qua, nhưng đại bại. Năm 931 dl, tướng Dương Diên Nghệ nối tiếp cuộc khởi nghĩa. Năm 938 dl, tướng Ngô Quyền đại thắng giặc Nam Hán ở sông Bạch Đằng, thành lập Nhà Ngô. (Bản đồ 15).*62

alt

Từ đây, tuy cần được nhuận chính theo đúng tinh thần tự chủ, nhưng là đã có nhiều tài liệu Việt.*63

*         *     *         *

Ghi Chú :

*1 – Đọc bài 1103 Tộc Việt thời Khởi Nguyên, đb phần 2.

*2 – Đọc bài trên, phần 3.

*3 – Đọc bài 1401 Nguồn gốc Tiên Rồng, phần 4.

*4 – Đọc bài 1103 Tộc Việt thời Khởi Nguyên, phần 5.

*5 – Đọc bài 1302 Văn minh Văn hóa Lạc Hồng trên Thạp và Trống đồng, mục 2.2.

*6 – Về chữ Việt 越, đọc bài trên, đoạn 2.4.

*7 – Đọc bài 1103 Tộc Việt thời Khởi Nguyên, đoạn 5.4.

*8 – Đọc bài 1105 Tộc Việt Thời Hùng 1, mục 2.2b.

*9 – Đọc bài 1403 Bốn chữ Việt Linh Thiêng, đoạn 3.3.

*10 – Đọc bài 1112 Việt Lạc cuối Thời Hùng, đoạn 1.2.

*11 – Đọc bài 1105 Tộc Việt Thời Hùng 1, mục 2.3a.

*12 – Đọc bài trên, mục 3.1a.

*13 – Đọc bài trên, đoạn 4.2.

*14 – Đọc bài trên, đoạn 3.3 và 4.3.

*15 – Đọc bài trên, đoạn 5.1.

*16 – Đọc bài trên, mục 4.3e.

*17 – Đọc bài trên, mục 5.4b.

*18 – Đọc bài 1107 Tộc Việt Thời Hùng 2, đoạn 3.3.

*19 – Đọc bài 1105 Tộc Việt Thời Hùng 1, mục 5.4e.

*20 – Đọc bài trên, mục 5.4c.

*21 – Đọc bài 1107 Tộc Việt Thời Hùng 2, mục 3.1b.

*22 – Đọc bài trên, đoạn 4.2.

*23 – Đọc bài trên, mục 6.2b-c.

*24 – Đọc bài trên, phần 5.

*25 – Đọc bài 1108 Tộc Việt Thời Hùng 3, đoạn 1.4.

*26 – Đọc bài 1301 Thạp và Trống Lạc Hồng, đoạn 3.1.

*27 – Đọc bài trên, đoạn 3.2-3.4. – Thượng Hải và Bắc Kinh có nhiều trống vì là thủ đô kinh tế và chính trị thời gần đây.

*28 – Đọc bài 1108 Tộc Việt Thời Hùng 3, mục 1.3b.

*29 – Đọc bài trên, mục 2.2b.

*30 – Đọc bài trên, đoạn 4.1. – Đây là vùng đất khảo cổ hiện nay coi là đất Nhà Thương.

*31 – Đọc bài trên, đoạn 4.2. – Vào thời kỳ nầy, vùng Đồng Đình cũng được coi là Việt Lạc, đọc bài trên, đoạn 7.3.

*32 – Đọc bài trên, đoạn 5.1.

*33 – Đọc bài trên, đoạn 6.2.

*34 – Đọc bài 2110 Việc Cứu Nước Cứu Người.

*35 – Đọc bài 1110 Việt và Hoa Thời Hùng 4A, mục 1.1a.

*36 – Đọc bài trên, đoạn 2.3.

*37 – Đọc bài trên, mục 3.1b.

*38 – Đọc bài trên, phần 4.

*39 – Đọc các bài về Nguồn gốc Lạc Hồng của các Học thuyết (1303 tt).

*40 – Đọc bài trên, phần 5, và bài 1111 Việt và Hoa Thời Hùng 4B-C, đoạn 1.5.

*41 – Đọc bài 1303 Nguồn gốc Lạc Hồng của Học thuyết Âm Dương Tám Quẻ, mục 2.1a, 2.1b, và đoạn 2.4.

*42 – Đọc bài 1108 Tộc Việt Thời Hùng 3, mục 6.2c.

*43 – Đọc bài 1111 Việt và Hoa Thời Hùng 4B-C, đoạn 1.1-1.3.

*44 – Đọc bài trên, đoạn 2.1.

*45 – Đọc bài trên, đoạn 2.2.

*46 – Đọc bài trên, đoạn 3.1 và 3.2.

*47 – Đọc bài trên, đoạn 3.3.

*48 – Đọc bài 1112 Việt Lạc cuối Thời Hùng, mục 1.2a.

*49 – Đọc bài trên, mục 1.2b.

*50 – Đọc bài 2109 Việc Giữ Nước Giữ Người.

*51 – Đọc bài trên, phần 9.

*52 – Đọc bài 1112 Việt Lạc cuối Thời Hùng, đoạn 2.1. – Đọc thêm Việt Sử Toàn Thư, do Phạm văn Sơn, nxb Thư Lâm, Sàigòn 1960, tr 58; và tr 86-87.

*53 – Đọc bài trên, đoạn 2.2. – Đọc thêm Việt Sử Toàn Thư, tr 101-102, 105.

*54 – Đọc bài trên, đoạn 2.3. – Đọc thêm Việt Sử Toàn Thư, tr 106.

*55 – Đọc bài trên, đoạn 3.1. – Đọc thêm Việt Sử Toàn Thư, tr 107.

*56 – Đọc bài trên, mục 3.2d.

*57 – Đọc Việt Sử Toàn Thư, tr 115.

*58 – Đọc thêm Việt Nam Sử Lược, do Trần Trọng Kim, nxb Trung Tâm Học Liệu, Sàigòn 1971, q1, tr 44.

*59 – Đọc thêm nt, tr 53.

*60 – Đọc thêm nt, tr 59.

*61 – Đọc thêm nt, tr 60.

*62 – Đọc thêm nt, tr 66-68.

*63 – Đọc thêm bài 1204 Ám thị Lệ thuộc Trung Hoa, bài 1404 Ảnh hưởng Hạn hẹp của Nho Học trên Dân Việt, và bài 1405 Dân Việt không Sống theo Nho Học.

 

Nguyễn Thanh Đức

MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM- cách đấy 100 năm vẫn ĐÚNG!

MƯỜI ĐIỀU BI AI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM- cách đấy 100 năm vẫn ĐÚNG!
1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.
2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.
3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.
4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.
5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.
6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.
7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.
8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.
9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.
10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v… 

Lịch sử “HỒ CON RÙA” và những sự thật ít ai biết được

Lịch sử “HỒ CON RÙA” và những sự thật ít ai biết được
Có thể nói chắc chắn 99% giới trẻ thời bây giờ ,những người sinh và trưởng thành sau ngày 30-4-1975 ở Sài Gòn chỉ biết Hồ Con Rùa là một bùng binh (vòng xoay giao thông) có đài phun nước, nối 3 con đường Võ Văn Tần, Trần Cao Vân và Phạm Ngọc Thạch (thuộc quận nhứt) ngày nay và là một trong các khu vực náo nhiệt (vì các hoạt động ẩm thực với các tiệm cà phê, hàng quán chung quanh mà ít ai biết được trước đó nó từng có bề dày lịch sử khá dữ dằn ,bây giờ chúng ta cùng nhau tìm hiểu nha.

1.Sự hình thành
Hồ Con Rùa trong quá khứ từng có tên là Đài Phun Nước, Công Trường Ba Hình, Công Trường Chiến Sĩ Trận Vong, Công Trường Quốc Tế, Công Trường Duy Tân… và nếu muốn kể đầy đủ thì PTV quay trở về thời khởi điểm của các vị trí Hồ Con Rùa bây giờ từ thời xa xưa (1790) nguyên là vị trí cổng thành tên là Khảm Khuyết (của Quy Thành (Bát Quái Thành). Sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (dưỡng tử của quan Tổng trấn Gia Định Thành-Lê Văn Duyệt) thì vua Minh Mạng cho phá bỏ Quy Thành này (1837) và xây một thành mới thay thế nhưng quy mô nhỏ hơn (gọi là Phụng Thành).

Do đó cổng thành Khảm Khuyết lại ở ngoài cái Phụng Thành (mới) này và tự nhiên trở thành con đường chạy thằng xuống sông (Bạch Đằng bây giờ). Phụng Thành cũng không bền vì sau khi người Pháp chiếm được thì họ lại phá hủy tan tành (ngày 8 tháng 3 năm 1859). Người Pháp (sau khi chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ) thì bắt đầu quy hoạch để xây khu đô thị mới (tiền thân của Sài Gòn) bằng cách dựa trên các trục lộ của (Quy Thành cùng các vị trí cũ) và một tháp nước được xây ngay (năm 1878) tại vị trí Hồ Con Rùa dùng để cung cấp nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng. Cái tháp nước này cũng nhỏ, do vậy khi lượng dân cư tăng lên thì người Pháp dựng các tháp nước khác thay thế (do tháp nước cũ không cung ứng đủ và bị phá bỏ vào năm 1921). Vị trí phá bỏ này, người Pháp đã cho xây dựng một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ, để đánh dấu cuộc xâm chiếm và biểu tượng của việc người Pháp làm chủ Đông Dương và vì vậy, dân trong vùng thường gọi nó là Công Trường Ba Hình.

2.Vì sao có tượng Đài này
Tượng đài (Ba Hình) này, người Pháp xây để tưởng nhớ đến các binh sĩ Pháp (bỏ mình trong trận Đệ Nhất Thế Chiến tận bên trời Âu) và hằng năm cứ đến ngày 14 tháng 7 (Quốc Khánh Pháp) thì quan chức Pháp (chính quyền thuộc địa) kéo về đây để làm lễ tưởng niệm chiến sĩ trận vong. Tượng các người lính chiến ở đài (Ba Hình ) này không có tên (vô danh), hình dáng mặc quần áo trận, mũ sắt, tay cầm khẩu súng Mút (dưới chân tượng là bệ đá hoa cương có khắc hàng chữ Le Soldat Inconnu và nơi này (tượng đài Ba Hình) còn có tên gọi là Công Trường Chiến Sĩ. Gọi tên là Ba Hình vì có 1 tượng trên đỉnh và 2 tượng ở dưới chân.

3.Hồ Con Rùa dưới thời Việt Nam Cộng Hòa
Khi cầm quyền (tư cách là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia của miền Nam VNCH), Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho phá hủy tượng đài Ba Hình này (quãng tháng 6 năm 1965) và thay thế bằng hồ nước (hình ảnh hiện như bây giờ). Có tin là ông (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) tin vào lời của một thầy địa lý xây Hồ Con Rùa để làm một trấn yểm. Trên mặt hồ là từng dãy lối đi được xây cách điệu hình hoa sen đang nở. Giữa hồ là 5 trụ bê tông sừng sững vươn lên cao, tượng trưng cho năm cánh tay của cộng đồng quốc tế công nhận miền Nam VNCH. Dưới chân trụ này là một đài tưởng niệm hình bầu dục, trên có một đỉnh đồng (đồng đỏ) chỉ được đốt hương trầm vào ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong của miền Nam VNCH, hình tượng chính của việc trấn yểm là một hình tròn đường kính khoảng gần 2m xây đối diện 5 trụ bê tông nói trên.

Trên hình tròn này là một tấm bia khoảng 5m, cẩn đá cẩm thạch trắng. Đỉnh bia có một phù điêu bằng đồng thau khắc nổi hình một bầu rượu (không hiểu nghĩa gì), dưới phù điêu ấy là tên các quốc gia (hình như là 44 quốc gia trong khối tự do và trung lập) đã công nhận miền Nam VNCH và có viện trợ kinh tế cũng như tinh thần (cho miền Nam VNCH khi đó), được khắc chìm vào mặt đá và mạ vàng. Ngay dưới chân bia là một con Rùa (Quy) tạo hình bằng những phiến đồng đỏ kích thước khoảng 40×40 cm/tấm, được ghép lại với nhau theo lối tán rivet (cũng bằng đồng)

4…HẾT…
Con rùa (hay Quy) đối với văn hóa Việt là một trong tứ Linh (Lân, Ly, Quy, Phụng) và có mặt trong tín ngưỡng như là linh vật (dù thực tế thì không có rồng, lân, phụng). Rùa gắn liền với truyền thuyết nỏ thần của An Dương Vương, nhận lại gươm báu từ tay vua Lê Lợi (trong truyền thuyết về hồ Gươm-Hoàn Kiếm…), rùa đội bia ( tượng đá trong Văn Miếu-Hà Nội), rùa đội hạc (tượng đồng, gỗ, đất… trong các chùa).

Chính vậy mà khi tạo dựng công trường Duy Tân mà chính quyền miền Nam VNCH đã làm tượng con rùa trên lưng đội tấm bia ghi tên (theo trật tự ABC) các quốc gia đã viện trợ (hoặc là đồng minh thiết yếu) cho chế độ của mình như là một cử chỉ trân trọng, biết ơn (đến các quốc gia đó). Có lẽ vậy mà công trường Duy Tân này còn có tên là công trường Quốc Tế Viện Trợ. Ngoài hình ảnh là một địa điểm (như công viên, đài…) đẹp, tô vẽ thêm cho cảnh quan Sài Gòn (từng được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông khi đó) thì hình ảnh rùa đội bia (tại Hồ Con Rùa) này cũng ít nhiều gây cho khách nước ngoài biết về nét văn hóa (qua hình ảnh con rùa đội bia) Việt. Gần như là chắc chắn, con rùa đội bia tại Hồ Con Rùa là tượng rùa đội bia lớn nhất (từ trước tới nay) ở trong nước.

Biến cố 30-4-1975 đến, chính quyền mới âm thầm để các vụ đập phá công khai các tượng đài trong khu vực nội đô Sài Gòn. Tượng 2 quân nhân Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Hạ Nghị Viện (nhà hát thành phố bây giờ) bị kéo đổ. Tượng Biệt Động Quân tại trung tâm giao lộ Ngã 7 cũng bị đập tan tành. Tượng người lính ngồi nghỉ chân (có tên là Thương Tiếc) bên cạnh đường vào nghĩa trang quân đội miền Nam VNCH ở Biên Hòa cũng bị lật đổ cắm đầu và kéo bỏ mất tiêu. Bào chữa cho các vụ đập phá này thì vì đây là các hình ảnh của quân đội phía thua cuộc nên không thể để tồn tại.

Cũng được đi nhưng còn tượng của các danh nhân Việt như tượng Petrus Ký (Trương Chánh Ký, Trương Vĩnh Ký), người được xếp vào danh sách toàn cầu thập bát quân tử trong thế kỷ 19 (do tự điển bách khoa LaRousse định hạng) nằm ở khu vực gần nhà thờ Đức Bà (công viên Kennedy) cũng bị kéo xếp bỏ nhà kho và chỉ mới không lâu, tượng này được đem về chưng trong viện Bảo tàng Mỹ Thuật. Tượng thương gia Quách Đàm (người xây cái chợ Bình Tây to đùng, góp phần làm phát đạt vùng Chợ Lớn bây giờ) dựng trong chợ cũng bị kéo bỏ (bây giờ thấy tượng ông cũng chưng trong viện bảo tàng Mỹ Thuật).

Còn các tượng danh nhân lịch sử khác như Hưng Đạo Vương (ở bến Bạch Đằng), tượng Trần Nguyên Hãn (giữa bùng binh trước chợ Bến Thành), tượng Phan Đình Phùng (tại giao lộ tròn, trước bưu điện Chợ Lớn)… thì đã bị gỡ bỏ hàng chữ, tấm chữ ghi tên là thánh tổ của một quân binh chủng thời miền Nam Việt Nam Cộng Hòa, làm vậy cũng được đi vì giang sơn giờ đã đổi chủ, có làm điều đó thì cũng không lạ và cũng chẳng ai chê trách nhưng lại có tin là (thoang thoảng trên báo trong thời gian gần đây) có các giới chức (lãnh đạo và trong ngành mỹ thuật) chê các tượng đài cũ thời xưa (không nói rõ là miền Nam VNCH) dựng đều cũ (đúng, vì cả mấy chục năm rồi) và không đẹp (có lẽ theo cảm quan) nên nếu có thể thì sẽ thay thế (bằng các tượng đài nào khác thì chưa biết).

..,và cuối cùng có khá nhiều người hỏi (chắc chắn đa số giới trẻ) thắc mắc với ad tại sao gọi là Hồ Con Rùa mà không có rùa …dạ ,mình xin thưa đây là con Rùa đây ,chú rùa nằm ngay hình đầu tiên nha ..còn giờ không thấy rùa mình xin không trả lời ..Hihi ,các em hãy tự tìm hiểu sẽ hay hơn ..
Thân

Image may contain: outdoor
Image may contain: sky, tree, plant, outdoor and nature
Image may contain: outdoor
Image may contain: sky and outdoor
+6

Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn, mà vẫn có sân golf!

Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn, mà vẫn có sân golf!

23/06/2017 11:11 GMT+7

TTO – Cử tri Nguyễn Công Chất (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) nêu vấn đề lợi ích nhóm này khi tiếp xúc với đại biểu Quốc hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sáng nay 23-6.

Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn, mà vẫn có sân golf!
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội sáng 23-6 – Ảnh: CTV

Cuộc tiếp xúc sáng nay diễn ra ngắn gọn với chỉ 5 ý kiến cử tri phát biểu trước khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đáp từ.

Ca trực 25 ngìn đồng, bác sĩ đi ôtô?

Cử tri Nguyễn Công Chất cho rằng vấn đề được dư luận, nhân dân quan tâm nhất hiện nay vẫn là chống tham nhũng, cử tri vẫn đang chờ kết quả xét xử các vụ đại án.

“Dự án trên dưới 10 nghìn tỉ đồng thua lỗ, làm nghèo đất nước. Không phải họ không có năng lực, trình độ mà chính là do thiếu trách nhiệm, có lợi ích nhóm. Sân bay Tân Sơn Nhất đang tắc nghẽn, gây bức xúc như thế, vậy mà lại có sân golf trong đó?” – ông Chất nêu vấn đề.

Cử tri này đề nghị xem xét những vấn đề nổi cộm đang đặt ra, đặt lợi ích dân tộc, đất nước lên trên hết và loại bỏ lợi ích cục bộ. Bên cạnh đó, chống tham nhũng phải đi kèm với chống lãng phí, nếu không thì “cũng chỉ được một nửa thôi”.

Liên quan đến phần trả lời chất vấn của Bộ trưởng Y tế trước Quốc hội, cử tri Nguyễn Công Chất bình luận rằng chẳng may phải vào bệnh viện bây giờ mới thấm thía.

“Bộ trưởng Y tế nói không có hiện tượng phong bì, nhưng vừa qua, tôi nằm viện mới thấy được. Bà bộ trưởng cũng nói mỗi ca trực trước không đủ một bát phở thì nay đã được 25 nghìn đồng, vậy với số lương ấy, làm sao nhiều bác sĩ lại có ôtô đi như thế?” – ông Chất nói.

Tiếp tục nêu các vấn đề giáo dục, học đường vô cùng bức xúc hiện nay khi liên tục xảy ra tình trạng nữ sinh đánh nhau, cử tri Nguyễn Công Chất nhận định đạo đức, văn hóa đang có nhiều vấn đề nổi cộm, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố mạng xã hội, phim ảnh…

Cử tri Hà Nội tại buổi tiếp xúc cũng bày tỏ mong muốn là sau phiên chất vấn với những lời hứa, và sau khi có nghị quyết của Quốc hội, các giải pháp phải được tổ chức thực hiện trong thực tiễn, từ vấn đề y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, đến nợ công, đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu quả…

Cái cần là tạo chuyển biến trong thực tế

Đáp từ cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết kỳ họp thứ 3 của Quốc hội chỉ diễn ra hơn 20 ngày nhưng đã thực hiện khối lượng công việc rất lớn với nhiều luật, nghị quyết được thông qua và cho ý kiến nhiều dự án luật.

Đặc biệt việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2015 là một thành công lớn.

“Đây là bộ luật rất quan trọng và nhạy cảm, đã thông qua nhưng thấy không thực hiện được lại phải dừng, tiếp tục sửa, cho ý kiến nhiều, rồi mới có thể thông qua” – Tổng Bí thư giải thích.

Tổng Bí thư cũng cho rằng điểm đáng chú ý là phiên chất vấn và trả lời chất vấn với 4 nhóm vấn đề đã nhận được hàng nghìn ý kiến cử tri, hàng chục câu hỏi tại chỗ, đại biểu tranh luận thẳng thắn.

“Trước đây phần lớn chỉ hỏi và trả lời, còn giờ thì chuyển nhiều sang tranh luận, không chỉ tranh luận với các thành viên Chính phủ, mà còn tranh luận giữa các đại biểu với nhau”, Tổng bí thư nói.

Theo Tổng Bí thư, điều quan trọng sau chất vấn là đưa các vấn đề nêu trong nghị quyết Quốc hội vào cuộc sống.

“Các bác băn khoăn điều đó? Chúng tôi cũng băn khoăn điều này. Nói nhiều nhưng quan trọng là có chuyển biến trong cuộc sống hay không. Nói hay là cần rồi, thuyết phục nhau là cần rồi, nhưng sau đó phải chuyển biến trong thực tế hành động, đó là cái cần” – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói.

Một sào huyệt của ve chai .(VC )

Một sào huyệt của ve chai .
Thông thường, mỗi khi vào được đến đây, các chiến sĩ tình báo của ta chụp hình và để lại truyền đơn trước khi rút lui. Trên truyền đơn, chúng ta báo cho ve chai biết rằng vị trí của bọn họ đã bị lộ và họ chỉ có chết, nếu không ra đầu hàng. Mặt sau của truyền đơn là để cho họ ghi vào đó danh tánh, đơn vị và quê quán để nếu có bỏ xác tại trận, quân ta căn cứ vào đó mà tìm cách báo tin cho thân nhân của họ sau khi chôn cất họ tử tế.
Chúng ta đã thấy nhiều truyền đơn có ghi đầy đủ các chi tiết trên trong túi áo, túi quần của xác chết cộng quân. Điều này chứng tỏ họ muốn ra hồi chánh nhưng không có cơ hội. Họ tin rằng chúng ta sẽ làm những gì đã hứa nên mới ghi các chi tiết cá nhân vào mặt sau của tờ truyền đơn như vậy.
Ngoài ra, việc chúng ta để lại truyền đơn cũng đã khiến cho cộng quân rất hoang mang, mất hết tinh thần chiến đấu và phải thay đổi vị trí thường xuyên .
Khiet Nguyen
Ảnh
Được chia sẻ công khaiXem hoạt động

Tuệ Sỹ, viễn mộng mấy khung trời

Tuệ Sỹ, viễn mộng mấy khung trời

9 Th05 2017

Nguyễn Mạnh Trinh


Thiền sư Tuệ Sỹ

Có người yêu thơ và hay tập tành làm thơ, sau khi đọc một tác phẩm “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của một người làm thơ viết về một người làm thơ khác (Tuệ Sỹ viết về Tô Ðông Pha) đã cảm khái:

“nghe từ thiên cổ
lời ru mênh mang
bước vào cuộc Lữ
mấy chuyến đò ngang.
Tà dương có khóc
Nắng ngả ánh vàng
Mưa bay thoảng chốc
Thiên địa hoang tàn
Một người đọc thơ
Nhìn trăng vừa khuyết
Sinh tử đâu chờ
Vòng quay nhật nguyệt.
Ði vào đất trích
Quanh quẩn nhân gian
Cho tròn vai kịch
Giây phút muộn màng
Phương trời viễn mộng
Sẵn lúc chào đời
Bốn bề gió lộng
Người ơi, Thơ ơi!!”

Viết về Tô Ðông Pha, mà nghe như viết cho chính mình. Tuệ Sỹ, trong cái quay cuồng của lịch sử, đã nhìn vào chặng lữ hành của lịch sử để tìm vào cõi sâu kín của vòng chuyển dịch. Ông, không phải trong vai trò thiền sư để đi tìm cái uyên áo mà, với thái độ mơ mộng lãng mạn đi tìm cho riêng mình một cõi thơ riêng. Ông viết:

“Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung, của Thời Ðại và Lịch Sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo cánh của Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng Viễn, dẫn Lịch Sử Uyên Nguyên tụ hội với Thời Ðại. Hình như những sự này tôi nghe được từ nơi thơ của Tô Ðông Pha, nhưng có nghe lộn hay không thì không biết…”

Kinh Thi và Kinh Dịch là những trầm lắng suy tư của người xưa, theo Tuệ Sỹ là hai cánh chim lớn của con thần nhạn chuyên chở định mạng của dân tộc Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên vòm trời Viễn Ðông. Thi và Dịch, là suy ngẫm để tìm đến đích đến rốt ráo của Chân Lý. Và, cũng là những phiến gương soi để tìm lại những bóng hình vẫn còn hiện hữu dù đã xa xôi những không gian, thời gian muôn trùng…

Có những câu thơ, của thấp thoáng tình Riêng trong Ý chung. Thấp thoáng nỗi niềm của Tuệ Sỹ trong ngôn ngữ một thuở Thịnh Ðường. Dù thơ lục bát, của ngữ ngôn thuần túy Việt Nam, nhưng giấc mộng vẫn vút cao

“Ðồi mai ngơ ngác nụ cười
cánh hồng lả mộng của đời lưu ly
tồn sinh thấp thoáng nẻo về
dấu trơ bãi tuyết, ngoài tê cánh hồng
Sư già, tháp mới, hồn không
Tường rêu đổ xuống đâu đồng vọng Thơ
Gập ghềnh năm tháng, hay chưa?
Ðường dài người mỏi, gót lừa kêu đau…”

Ôi, những phương trời viễn mộng, của những kiếp nhân sinh trôi nổi theo dòng thời thế, của nỗi niềm người tha hương lưu lạc ngay trong chính đất nước mình. Những canh trường mộng, những lời nỉ non nghe vẳng lại từ hai bờ tịnh không của cảm xúc. Vẫn, vần lục bát, lời của Tuệ Sỹ, làm vẳng nhớ đến Tô Ðông Pha thuở nào xa xưa:

“Ðá mòn phơi nẻo tà dương
nằm nghe bước lũ khóc chừng Cuộc Chơi
nghìn năm vang một nỗi đời
gió đưa cuộc lữ lên lời Viễn phương
đan sa rũ mộng phi thường
đào tiên trụi lá bên đường Tử Sinh
đồng hoang mục tử chung tình
Ðăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”

Viết về bài thơ, viết về cái tâm tình của bờ biển lớn, của cõi hoang vu mà thiên nhiên là đại dương bí ảo để, ở đó những dấu chân tỏ mờ trong ngã về hoang lộ. Tuệ Sỹ viết:

“… Người đã lãng phí trọn vẹn tinh thể của người, để cho thiên nhiên tỏ bày ân tình trơ trọi, như viên sỏi bên đường lây lất với nắng và gió. Nắng lên cùng với dấu hiệu của hao mòn và sụp đổ. Gió lên cùng với những ước nguyện thiên thu phảng phất ra ngoài khung trời Hoằng viễn và Tịch nhiên. Mộng Phi Thường được ký thác trong đan sa trong dấu hiệu của trường sinh bất tử, nhưng đường Sinh tử đi trong cõi Hoằng viễn Tịch nhiên, ấy thế mà không bao giờ dừng bước cho Lữ Khách một lần ngụ cư ở đó. Sống và Chết vẫn còn như một nỗi đời hư huyễn, vẫn rầm rộ như một cuộc chơi. Giữa khoảng đồng rộng, đồng trống, đồng không mông quạnh. Mục tử đăm chiêu tư lự những chuyện đường đời. Và Lịch sử qua bóng dáng con Hạc gầy, rồi tự hỏi; Ðâu là Cõi Mộng Thiên Thu?..”

Ðọc “Tô Ðông Pha, những phương trời viễn mộng” của Tuệ Sỹ để thấy từ một người hậu sinh sau những thế kỷ dài đã chia sẻ với Người Thơ những nỗi niềm của những người tri kỷ. Thời thế có khác, đất nước có khác, nhưng chất Thơ vô cùng bát ngát của những phương trời mở ra mênh mông những cánh vỗ để đi vào cái tận cùng của ngữ ngôn, để bay vào cái vô tận của ý tưởng. Viết về thơ đã khó, giải thích thơ lại khó hơn nhưng tái tạo lại không gian thơ, lại khó bội phần. Thơ ở trong thơ, không chỉ là cái khám phá hời hợt bên ngoài, mà, Thơ có tham vọng đi sâu vào cõi vô thủy vô chung của những nốt lặng của một bản trường ca chưa hoàn tất. Chinh cái dở dang ấy, là thái độ của người thơ, dù trong hoàn cảnh lao lung cấm cố, bốn bề là những bức tường đá lạnh lùng, mà, hồn vẫn thoát đi, bay bổng, không có gì ngăn chắn được. Thơ, là thái độ sống, là sự thản nhiên của người hiểu biết được cái vô cùng nhỏ nhoi nhưng cũng vô cùng lớn lao của tâm thức con người…

Một buổi tối, đọc lại tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn. Không dừng lại được, ngồi dậy bật máy, viết… Những tâm cảm đón nhận được từ những câu thơ. Như những làn sóng lan tỏa từ mặt nước yên tịnh. Ngoài trời chắc khuya lắm thì phải. Và những giọt mưa, mù mịt đất trời. Sắc không, còn mất, có lúc như hơi thở nhẹ. Lắng nghe từ vô thức, tôi đọc…

Có những điều, nói nhiều mà chẳng đủ. Cũng như có những việc, nói ít mà vẫn thừa. Chuyện thi ca, có khi chỉ một giây phút, hiểu rồi, sẽ bất khả tư nghị. Tôi không dám làm người vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm cánh. Mà, tôi chỉ diễn tả cái tâm chân thực của mình. Ðọc rồi cảm, cái quá trình ấy phải chăng là lúc này, khi mọi lắng đọng đã theo giấc ngủ ngon vút mất. Thơ như cáinh tay lay động, thức tỉnh ngũ quan..

Ðóng lại tập thơ. Với bài thơ cuối. Những câu lục bát đơn sơ. Như một lời nhắn nhủ. Có thể với chính mình nhưng cũng có thể là một ai khác, cùng mang khắc khoải trong lòng. Một chút vỗ về, một chút xao động thoảng qua. Bước chân ai, đi về, biền biệt.

“Khói ơi, bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần ra hoa.”

Tại sao lại nhớ những lần cây nhỏ ra hoa? Có phải vì ý niệm thời gian? Tôi nghĩ là không phải. Mổi lần ra hoa, là một lần sự phát triển đến mức tuyệt đối. Trong hành trình của con người, có phải là đi tìm một cái gì tuyệt đối mà chẳng bao giờ nắm bắt được. Cõi vĩnh hằng, có khi là khói sương, là những mong manh vô định….

Giấc mơ Trường Sơn – Những bài thơ có man mác ý tình, của cái tâm như biển động lúc nào cũng trào khơi theo ngàn sóng vỗ. Không nói đến thời thế mà quê hương vẫn hiển hiện trong thơ. Những nhọc nhằn của một thời đại nhiều máu lệ. Những giấc mơ của những người tham dự vào lịch sử một cách bất đắc dĩ. Những người nhìn thấy Trường Sơn vòi vọi nhân chứng.

Quê hương, những bước chân đi của mười năm, những mốc thời gian đau đớn.

“Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng
Nhìn quê hương qua dấu tích điêu tàn
Triều Ðông Hải vẫn thầm thì cát trắng
Truyện tình người và nhịp thở Trường Sơn.
Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị
Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng
Tay anh với trời cao chim chiều rủ rỉ
Ðời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường
Mười năm sau anh băng rừng vượt suối
Tìm quê hương trên vết máu đồng hoang
Chiều khói nhạt như lòng ai còn hận tủi
Từng con sông từng huyết lệ lan tràn
Mười năm đó anh quên mình sậy yếu
Ðôi vai gầy từ thuở dựng quê hương
Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Ðông phương
Và ngày ấy anh trở về phố cũ
Giữa con đường còn rợp khói tang thương
Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ
Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương”

Có phải đó là tự truyện của một người Việt Nam? Ở bên kia? hay bên này? Của chiến tuyến đã vạch sẵn từ bao nhiêu năm nay. Dường như đó là nỗi niềm chung mang của cả một thế hệ? Ở phố thị, lầm lì với những tâm tình khó ngỏ thành lời. Trời thì cao mà bàn tay thì khó với tới những ước nguyện và chim trời thì lênh đênh những cánh nhỏ ngơ ngác bên đường. Mười năm rồi tiếp mười năm, quê hương vẫn chỉ là những con sông huyết lệ. Ngày trở về phố cũ vẫn man mác nỗi hờn thiên cổ, của những người hình như mất mát một quê hương.

Thơ Tuệ Sỹ, trong ngôn ngữ bình dị có những suy tư thâm trầm. Xúc cảm hình như cố gắng để lắng đọng lại và ý tưởng cũng được trình bầy một cách gián tiếp để trong màn sương mờ ảo ấy, thấy được cái lẽ xoay vần của thời thế.

Thi sĩ cũng làm thơ tù. Cũng những ngày biệt giam, cũng những bức tường cao nhưng sao lồng lộng gió và đầy trăng sao. Cái thong dong của tâm thể đã vượt quá cái cùm gông của thân xác …

“…Vẫn khúc điệu tự ngàn xưa ám khói
Ép thời gian thành rượu máu trong xanh
Rượu không nhạt mà thiên tài thêm cát bụi
Thì ân tình ngây ngất cõi mong manh
Ôi tiết nhịp thiên tài hay quỷ mị
Xô hồn ta lảo đảo giữa tường cao
Trưa dài lắm ta luân hồi vô thủy
Ðổi hình hài con mắt vẫn đầy Sao.”

Viết ở trại giam Phan Ðăng Lưu mà tưởng đến quán trọ của ngàn sao, có lẽ chỉ có một mình Tuệ Sỹ! Sự tưởng tượng ấy như cánh buồm đưa con thuyền ra khơi về chân trời nào mênh mông chỉ có được từ những hồn thơ trải theo muôn dặm bát ngát. Thơ, vô úy, thong dong. Thơ, như trèo qua được con dốc thực tại để đến một nơi, rộng khắp bao la

“Mắt em quán trọ của ngàn sao
Ngọt ngất hoang sơ ánh rượu đào
Pha loãng nắng tà dâng cát bụi
Ấm lòng khách lữ bước lao đao
Mắt huyền thăm thẳm mượt đêm nhung
Mưa hạt long lanh rọi nến hồng
Sương lạnh đưa người xanh khói biển
Bình minh quán trọ nắng rưng rưng.”

Có những vần thơ ngưng đọng, xót xa. Như những thề nguyền, hứa hẹn cho những bước chân lên đường. Những hùng tráng trộn lẫn với bi thương.

“… Ta đã hát những bài ca của suối
Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời
Gọi quỷ sứ từ âm ty kéo dậy
Ngập rừng xanh lấp lánh ma trơi
Ðêm qua chiêm bao ta thấy máu
Từ sông Ngân đổ xuống cõi người
Bà mẹ soi tim con thành lỗ
Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời.”

Những câu thơ diễn tả tâm trạng của một người muốn làm chuyện đội đá vá trời. Ta đã hát những bài ca của suối. Gã anh hùng bẻ vụn mặt trời… Lời suối thầm thỉ muôn năm. Hát bài ca đó, có phải là từ thiên thu vọng lại. Gã anh hùng? Ta? Hay kẻ khác? Bẻ vụn mặt trời, để đêm tối kéo về, để quỷ sứ từ âm ty kéo dậy, để hãi hùng rừng núi những ánh ma trơi…

Một bài thơ viết giữa những ngày tháng tư năm 75 ở Nha Trang, lúc tình trạng đất nước nghiêng ngửa thẳm đen. Bài thơ, như một mốc dấu tích cho những ngày tháng không thể xóa nhòa trong tâm khảm những người dân Việt.

“Phố trưa nắng đỏ cờ hồng
Người yêu cát bụi đời không tự tình
Sầu trên thế kỷ điêu linh
Giấc mơ hoang đảo thu hình tịch liêu
Hận thù sôi giữa ráng chiều
Sông tràn núi lở nước triều mênh mông
Khói mù lấp kín trời đông
Trời ơi tóc trắng rủ lòng quê cha
Con đi xào xạc tiếng gà
Ðêm đêm trông bóng Thiên Hà buồn tênh
Ðời không cát bụi chung tình
Người yêu cát bụi quê mình là đâu?”

Cát bụi, từ ngữ được nhắc đi nhắc lại một cách cố tâm. Người yêu cát bụi đời không tự tình. Rồi Ðời không cát bụi chung tình. Người yêu cát bụi quê mình là đâu? Cát bụi, hình ảnh của hỗn loạn, của những lênh đênh ngày tháng. Bài thơ diễn tả nỗi niềm của một người ngơ ngác giữa vần xoay của thời cuộc… Tháng tư năm 75, những ngày tháng chẳng thể nguôi quên. Dù là một thiền sư cố giữ lòng không vọng động. Mà sao vẫn ầm vang thác lũ nỗi niềm.

Thơ Tuệ Sỹ có lúc cô đọng đến chẳng thể ngắn gọn hơn. Như những hé mở, để ở đó tầm nhìn bị kích thích để trải dài tới sâu xa rộng khắp hơn. Không phải thơ haiku của những cây trồng ép mình trong chậu bonsai mà ở đây tự nhiên sống đời thảo mộc trong khổ hạnh chịu đựng náu thân vào ngôn ngữ.

“Bứt cọng cỏ
Ðo bóng thời gian
Dài mênh mang”

Hay:

“Gió cao bong bóng vỡ
Mây sương rải kín đồng
Thành phố không buồn ngủ
Khói vỗ bờ hư không”

Buổi sáng tập viết chữ thảo, có một chút mênh mang thời cũ nhưng cũng có những khắc khoải bây giờ. Ban mai là lúc tấm lòng mở ra, vô tận. Thơ, cũng phơi phới, an nhiên vô ngại:

“Sương mai lịm khói trà
Gió lạnh vuốt tờ hoa
Nhè nhẹ tay nâng bút
Nghe lòng rộn âm ba”

Tụê Sỹ. Thiền sư khổ hạnh. Hay một nghệ sĩ phiêu bồng. Hay là chiến sĩ tranh đấu cho dân tộc cho đất nước với sự sắt son kim cương vô hoại. Thơ cũng trong những góc cạnh ấy để có một đời sâu sắc phong phu mà ngôn từ bình dị như thanh kiếm gỗ của Ðộc Cô Cầu Bại trong tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung sắc bén hơn vạn lần bảo kiếm. Thơ Tuệ Sỹ, ngôn ngữ đời thường để biểu hiện tấm lòng bồ tát…

Trong cuộc hành trình, đời sống mở ra những cảm xúc. Tuệ Sỹ làm thơ trong cái phơi phới của thiên nhiên, của núi cao mây trắng, của bến cũ neo thuyền, của mặt biển khơi xao động. Bài thơ “Một Bước Ðường”, không có phong vị của một bài hành nhưng sao nghe như có một điều gì bừng dậy của tâm tư, của những tâm can bừng bừng ngữ ngôn:

“Một bước đường thôi nhưng núi cao
trời ơi mây trắng đọng phương nào?
Ðò ngang neo bến chờ sương sớm
Cạn hết ân tình nước lạnh sao
Một bước đường xa xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra biển bình minh đó
Nhưng mấy ngàn năm tống biệt rồi
Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy ngàn sau ố nhạt nhòa
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạy lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu áo
Trên phím dương cầm hay máu xanh…”

Giấc mơ Trường Sơn, một tập thơ mỏng nhưng chứa đựng nhiều biển trời và đại dương như thi sĩ Bùi Giáng đã nhận xét khi đọc một bài thơ trong đó. Và tôi xin được trích dẫn lại thay cho lời kết bài viết này:

“… Thi nhân đã mấy phen ngồi ngắm trăng tàn. Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp với chân trời xa xôi đại hải?

Ðỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Ðỉnh đá quy tụ về mọi hướng màu trời mây rừng rú.Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Ðó là cái bất tận của tâm tình đứng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du. Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Ðường thi Trung Hoa đến siêu thực Tây phương…”

Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi