Ông Trọng thất bại trong việc tấn công phe Nguyễn Tấn Dũng!

Ông Trọng thất bại trong việc tấn công phe Nguyễn Tấn Dũng!

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị trung ương 6 vào ngày 10 tháng 10 vừa qua, ở phần đề cập về công tác cán bộ, ông Nguyễn Phú Trọng đã lên giọng đạo đức, kêu gọi cán bộ, đảng viên và công chức cần phải tu dưỡng, tránh xa những cám dỗ vật chất, tránh đi vào những vết xe đổ, để tay nhúng chàm. Ông Trọng còn nói thêm rằng nếu đã nhúng chàm rồi thì sớm tự giác gột rửa.

Sau khi kêu gọi sự tự giác gột rửa, ông Trọng còn răn đe rằng từ nay bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật sẽ phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ kỷ cương, kỷ luật đảng.

Phát biểu của ông Trọng nói trên có hai điều đáng chú ý.

Thứ nhất, ông Trọng kêu gọi sự “ăn năn” của những ai mà tay đã nhúng chàm và cần phải tự giác gột rửa. Điều phát biểu này khá mâu thuẫn với những gì mà ông Trọng đã từng nói với cử tri Hà Nội vào giữa năm 2016 rằng “tay đã nhúng chàm làm gì mà rửa sạch”. Nay ông Trọng kêu gọi sự ăn năn của những người tay đã nhúng chàm có một ẩn ý khác. Đó là ông Trọng muốn nhắn với phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng, nên tự ra đầu thú. Sự kêu gọi “đầu thú” của ông Trọng cho thấy là chiến dịch đánh tham nhũng mà cụ thể là “sát phạt” nhóm ông Dũng đã không có kết quả.

Cho đến nay sau hơn 16 tháng mở cuộc tấn công vào Bộ công thương và Tập đoàn dầu khí – một phần nhỏ của sào huyệt ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Trọng chỉ đạt một số kết quả phải nói là khiêm nhượng: Tước chức Bộ trưởng Bộ công thương của ông Vũ Huy Hoàng, cách chức Thứ trưởng Bộ công thương của bà Hồ Thị Kim Thoa, cách chức Ủy viên Bộ Chính Trị của ông Đinh La Thăng nhưng vẫn để ông Thăng giữ chức ủy viên Trung ương đảng.

Kết quả đánh tham nhũng nói trên không xứng với điều tuyên bố huyênh hoang hôm đầu tháng 8 vừa qua của ông Trọng rằng: “lò nóng lên rồi đưa củi nào cũng cháy”. Những củi mà ông Trọng đưa vào lò cũng chỉ là những củi mục nên các biện pháp kỷ luật của ông Trọng chỉ nhằm xoa dịu sự bất mãn nội bộ, trong thực tế không có ai hay phe nào thiệt hại sau cuộc thanh trừng này.

Thứ hai, ông Trọng tuyên bố sẽ “chơi” tới cùng đối với những ai không chịu sám hối. Điều này càng cho thấy tâm can bấn loạn của chính ông Trọng về sự thất bại trong việc dựng lò, dựng bếp với dự tính “ăn thua đủ” với phe Nguyễn Tấn Dũng.

Khi phải lên giọng “sẵn sàng chơi tới cùng” cho thấy là ông Trọng đã thấm mệt và nhìn thấy rõ sự vô vọng trong việc bắt tội Nguyễn Tấn Dũng, khi mà phe nhóm ông Trọng đã hoàn toàn bất lực trong việc giải quyết các khủng hoảng kinh tế, xã hội kể cả những thiên tai trong vụ lũ lụt hiện nay.

Nói cách khác, tuy quyền lực đã thu tóm vào trong tay; nhưng ông Trọng đã không có khả năng hạ gục nhóm ông Dũng mà chỉ mang vài đàn em của ông Dũng… ra tế thần, rồi đâu lại vào đó.

Tham nhũng đã từng được ông Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu gọi là Quốc Nạn từ thập niên 80 kéo dài cho đến nay. Lãnh đạo CSVN cũng đã tung ra không biết bao nhiêu đợt học tập, chỉnh quân, chỉnh cán, bắt kê khai tài sản; nhưng rốt cuộc quốc nạn này ngày một phát triển áp đảo và trở thành một di căn chính trong nội bộ đảng. Nay ông Trọng đòi xử lý nghiêm từ trên xuống dưới, rõ ràng là nằm mơ.

Nếu như ông Trọng đừng thù dai và chỉ chú trọng khôi phục lại quyền lực của phe đảng đã bị soi mòn từ khi ông Dũng lên làm Thủ tướng (2006-2016), có lẽ ông Trọng không bị tâm can bấn loạn như hiện nay.

Mai Linh22549499_1767552466880962_9016929754617644639_n

Advertisements

‘Rối loạn đất nước’: Mất tình dân còn hơn mất lòng đảng

‘Rối loạn đất nước’: Mất tình dân còn hơn mất lòng đảng


Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân trong một cuộc họp báo ở Hà Nội, ngày 23/7/2016.

Nguyễn Thị Kim Ngân – nữ chính khách từ lâu được coi là được lòng của “các bên” và “đang lên”, nhưng hầu như im bặt về nhiều vấn đề chính trị và xã hội bức bối trong cả đoạn đường thủ ghế phó chủ tịch Quốc hội – vừa đại diện cho Quốc hội làm một cử chỉ về việc tiếp tục “xù” món nợ với dân đã kéo dài gần một phần tư thế kỷ này.

‘Rối loạn đất nước’

Lộ diện rõ nhất là ngay sau khi trở thành chủ tịch Quốc hội cùng lời tuyên thệ trước “quốc dân đồng bào” lần thứ hai liên tiếp trong vòng 4 tháng, Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thị Kim Ngân đã phát ngôn trước báo giới: “Lợi ích phải hài hoà. Luật Biểu tình ra mà rối loạn đất nước thì không ai mong muốn. Vì thế, Quốc hội khoá 14 sẽ nghiêm túc xem xét về dự luật này sau khi Chính phủ đã rà soát và trình lên Quốc hội. Không phải dự luật này lùi vô thời hạn”.

Rất đáng lưu ý, đây là lần đầu tiên bà Ngân mạnh miệng “rối loạn đất nước” – một cụm từ thuộc về sở trường của giới tuyên giáo và công an.

Như một đồng pha, ngay trước khi Quốc hội Việt Nam tổ chức bầu lại các chức danh chủ chốt vào tháng 7/2016, Ủy ban thường vụ Quốc hội lại một lần nữa nại lý do hoãn Luật Biểu tình “do đây là dự án luật phức tạp, cần có thêm thời gian tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nên đã lùi thời gian trình dự án luật này”.

Báo nhà nước đã chỉ có thể mỉa mai trong khuôn khổ một bộ não tự kiểm duyệt: “Lại lùi vô thời hạn… Luật Biểu tình”, và “Như vậy, khó có thể tính được cho đến nay dự án Luật Biểu tình đã được lùi, hoãn, giãn bao nhiêu lần. Và khi nào Quốc hội mới trả được nhân dân ‘món nợ’ này vẫn là câu hỏi chưa thể có câu trả lời”.

Quả thế, cứ với cái não trạng điều hành đất nước mang lại khổ đau nhiều hơn hẳn “cơm no áo ấm” như hiện thời, còn lâu mới có chuyện những nhân vật đại diện cho “cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp” tự nguyện trả nợ cho dân.

Dù cố thanh minh trước dư luận xã hội về việc sẽ không kéo lùi Luật Biểu tình vô thời hạn, nhưng người đàn bà đẹp Kim Ngân của Bộ Chính trị đảng cũng chẳng hề hứa hẹn đến thời điểm nào thì dân mới được cấp phép để chính thức xuống đường, và càng không hề đả động đến nguồn cơn chính yếu gây ra hiện tượng chậm lụt Luật Biểu tình: Bộ Công an, còn được một số viên chức ngoại giao nước ngoài giễu cợt như “bộ nhân quyền”, là tác nhân khiến cho quyền biểu tình không ngóc đầu lên nổi.

Bộ nhân quyền’ làm gì?

Trong thực tế và chỉ tính từ năm 2015 đến nay, ít nhất 3 lần Bộ Công an – cơ quan được giao soạn thảo Luật Biểu tình từ năm 2011 – đã tìm nhiều cách trì hoãn việc trình luật này ra Quốc hội: Tháng 3/2015, cuối năm 2015 và tháng 3/2016.

Có quá nhiều lý do đã được Bộ Công an nại ra nhằm trì hoãn việc trình Luật Biểu tình:

“Trong quá trình soạn thảo có một số nội dung phát sinh cần tiếp tục đầu tư thời gian, công sức nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, khảo sát thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm quốc tế như khái niệm “biểu tình,” “quyền tự do biểu tình,” “nơi công cộng,” “tụ tập đông người”…; phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật (có bao gồm cả việc tổ chức mít-tinh, biểu tình do Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị xã hội tổ chức; việc khiếu kiện đông người, đình công, bãi công, bãi thị, bãi khóa hay không); vấn đề áp dụng các biện pháp trấn áp tương xứng, có hiệu quả đối với hành vi lợi dụng biểu tình vi phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình biểu tình…”.

“….dự luật biểu tình đã được xây dựng xong, đã xin ý kiến các bộ ngành liên quan, nhưng một số vấn đề có tính chất nhạy cảm thì các bộ liên quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp chưa cho ý kiến.”

Sau Đại hội XII, có vẻ Bộ Công an “rút kinh nghiệm” khi lùi vào một góc để lãnh đạo Bộ Tư pháp đứng lên “đọc bài”. Như một bài bản có sẵn, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường – người bị một số đơn thư tố cáo trong thời gian trước và trong Đại hội XII của đảng cầm quyền – xin “lùi Luật Biểu tình” với lý do “còn nhiều ý kiến khác nhau”.

Nhưng giới quan lại mang danh Cộng sản đã quá quan liêu lẫn chủ quan. Khác nhiều với không khí thụ động vào những năm trước, thời gian gần đây đã chứng kiến sự chuyển biến tâm thế của lớp dân chúng chịu thiệt hại lớn – từ đòi quyền tự do biểu tình theo đường ray Hiến pháp sang tự thể hiện một nhu cầu bị dồn vào chân tường. Hàng loạt cuộc biểu tình đông đảo bảo vệ cây xanh ở Hà Nội, phản đối chính sách không cho nhận trợ cấp một lần ở Sài Gòn, và “cá chết Formosa” trên một diện tích trải rộng của quốc gia… là bằng chứng hùng hồn về tâm thế “Xuống đường, rồi muốn ra sao thì ra” của nhiều người dân không còn gì để mất.

Quả thế, đói quá lâu sẽ hết đói. Cuối cùng, bánh vẽ Luật Biểu tình đã công nhiên trở thành một thứ phế thải. Cuối cùng, người dân Việt Nam đã tự động xuống đường mà bất cần một khung luật nào cho phép. Trong cơn phẫn nộ và bế tắc tận cùng, trong nỗi thất vọng vượt quá giới hạn trước một chế độ đặc trưng quá tham nhũng, độc đoán và khiến phát sinh đủ thứ hậu quả xã hội trầm kha, ngày càng có thêm nhiều người dân vượt qua nỗi sợ của mình để bước ra đường, mở miệng và thét to những gì họ muốn, không cần biết đến nội bộ chính quyền “còn nhiều ý kiến khác nhau về dự Luật Biểu tình”…

Mất tình dân còn hơn mất lòng đảng

Sau cuộc biểu tình bảo vệ môi trường lên đến hàng chục ngàn người diễn ra vào tháng 5 năm 2016 tại Sài Gòn, Hà Nội và một số tỉnh thành khác, đã xuất hiện một số ý kiến trong nội bộ đảng cho rằng trước sau gì cũng phải ban hành Luật Biểu tình, bởi nếu không có luật thì “làm sao quản được nó” (ý nói quản lý người biểu tình). Nhưng bàn tới bàn lui mà vẫn không một quan chức có trách nhiệm nào dám đưa đầu ra “quyết”. Hiện tượng tâm lý chính trị học này cho thấy chính quyền quá lo sợ trước làn sóng biểu tình ở nhiều vùng đất nước của quá nhiều người dân bất chấp có Luật Biểu tình hay không.

Còn tình thế hiện thời lại cho thấy Luật Biểu tình có thể bị hoãn vô thời hạn, ít nhất cho đến khi nào chính quyền hết sợ bộ luật về dân quyền này. Mà việc chính quyền hết lo sợ lại là một điều vô cùng hi hữu. Có lẽ trong lịch sử hơn 70 năm tồn tại của đảng Cộng sản, chưa bao giờ nó lo sợ về đủ thứ nợ cũ nợ mới như lúc này.

Rốt cuộc, bất chấp bị dư luận và báo chí lên án là “nợ dân quá nhiều”, một con nợ vẫn hoàn toàn có thể ‘”xù” nợ khi đã trở nên quá trơ tráo.

Không cần ngạc nhiên và cũng chẳng phải quá thất vọng về “nữ chính ủy” Nguyễn Thị Kim Ngân khi nhân vật này trở thành chủ tịch Quốc hội và chính thức được xếp vào “nhóm tứ trụ” của đảng cầm quyền. Trước đây, một số người kỳ vọng về tính khí hào sảng nữ lưu Nam Bộ của bà Ngân. Nhưng sau cú dốc tuột cả xô cám xuống Ao cá Bác Hồ của bà – một hành động mà chính Tổng thống Obama đứng bên cạnh cũng phải tỏ ra sững sờ, Nguyễn Thị Kim Ngân gần như lộ rõ thân phận một chính khách hoàn toàn thiếu óc chiến lược.

Thiếu óc chiến lược nhưng lại thừa tiểu xảo và bây giờ là ma mị. Tương lai của một “nghị gật” rất thường bắt nguồn từ quá khứ “không biết, không nghe, không thấy”. Phát ngôn “Luật Biểu tình ra mà rối loạn đất nước thì không ai mong muốn” của tân chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân rất có thể phản ánh khá đầy đủ tâm thế của bà và của cả một chính thể được coi là “chính danh”: không quản được thì siết, không siết được thì cấm – một phương châm bất di bất dịch của những người chẳng biết làm gì hơn ngoài thái độ trơ lì hứa và quên.

Mất tình dân còn hơn mất lòng đảng.

Quốc hội Việt Nam cũng vì thế, sau thời “gật gù” với Nguyễn Tấn Dũng – nhân vật nổi tiếng về che chắn cho nạn tham nhũng tột độ, lại tiếp diễn “nháy mắt đưa tình” với các nhóm quyền lực và nhóm lợi ích mới của đảng.

Chỉ có nhân dân là tiếp tục bị ra rìa.

Cái tên Nguyễn Thị Kim Ngân cũng bởi thế có nhiều triển vọng rơi vào đáy của lịch sử và bị lịch sử lãng quên còn nhanh hơn cả Nguyễn Sinh Hùng.

  • Blog của nhà báo Phạm Chí Dũng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Dân Việt / VOA

HÃY TỐ CÁO TỘI ÁC TÀU CỘNG VÀ CSVN.

HÃY TỐ CÁO TỘI ÁC TÀU CỘNG VÀ CSVN.
Cộng đồng người Hoa (Trung Quốc) ở quận 5, Tphcm đã dụ dỗ người Việt Nam nghèo qua Trung Quốc làm việc lương cao. Khi đến biên giới thì có 1 nhóm người bên kia Trung Quốc ra nhận người và thanh toán tiền cho bọn người Hoa ở Việt Nam!
Bọn người Trung Quốc cho người Việt Nam tắm rữa sạch sẽ và dọn cơm cho người Việt Nam ăn, chúng cho thuốc mê vào thức ăn và chở thẳng vào bệnh viện Trung Quốc.

Sau khi kiểm tra nhóm máu người Việt Nam và liên hệ các bệnh nhân Trung Quốc cần nội tạng thay thế thì nó cho người Việt lên bàn mổ và xẻ lấy hết nội tạng của người Việt Nam .

Cái kết quá đắng cho những người Việt Nam còn tin tưởng vào Trung Quốc.

Hãy share mạnh để người Việt Nam biết mà đề phòng.

Do mat thot

Tưởng năng Tiến -RFA 18-10-2017 Một chế độ gồm toàn khuôn mặt thớt. Phan Huy “Tôi đã từng rất ngạc nhiên khi được biết quyền tự do đi lại và cư trú, đặc biệt là quyền tự do xuất nhập cảnh dành cho chính công dân Việt là điều kiện tiên quyết mà Chính phủ […]

via – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đồ Mặt Thớt — PHẠM TÂY SƠN

VN có thể xây thêm 300-400 nhà máy thủy điện

VN có thể xây thêm 300-400 nhà máy thủy điện
Truyền thông trong nước ngày 9/10 vừa qua dẫn lời đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nói rằng nếu Việt Nam cho khai thác thêm 300-400 dự án thủy điện nhỏ và vừa thì sẽ góp phần bổ sung nguồn điện thiếu hụt trong các năm tới cho đất nước.

Tác động môi trường và con người

Tại Hội nghị toàn quốc về phát triển thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng tái tạo do Bộ Công Thương tổ chức hôm 9/10, ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam nói rằng hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với nguồn năng lượng hóa thạch cạn kiệt như than, khí đốt. Trong khi đó đến năm 2020 Việt Nam phải tìm ra các nguồn điện bổ sung cho lượng thiếu hụt khoảng 100 tỷ kWh và con số này sẽ lên đến 300 tỷ kWh vào năm 20130.

Vì vậy ông Ngãi đề xuất tiếp tục khai thác thủy điện vừa và nhỏ vì chúng mang lại hiệu quả kinh tế và có công suất điện khá cao.

RFA trao đổi với Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, một chuyên gia về môi trường, cũng là người đã vận động thành công việc hủy bỏ hai dự án thủy điện lớn trên sông Đồng Nai vì những tác động tai hại đến khu vực rừng quốc gia Nam Cát Tiên. Quan điểm của ông là phản đối việc phá rừng để xây dựng nhà máy thủy điện. Lý do ông đưa ra là ảnh hưởng đến hệ sinh thái:

Nếu làm thủy điện ở những vùng có rừng thì mình sẽ phá rừng để hi sinh làm thủy điện. Các dòng sông làm thủy điện có độ dốc tương đối cao và đa số những nơi đó là còn rừng. Nếu làm như vậy mình phải hi sinh môi trường, đặc biệt là đa dạng sinh học. Rừng không chỉ là cây như chúng ta nhìn vào mà còn nhiều loài khác nhau. Khi mình phá rừng, tổng thể hệ sinh thái phục vụ cho con người, và các loài khác trong chuỗi mắt xích sẽ bị phá hủy. Như vậy sẽ đe dọa đến sự tồn vong của loài người.

Khi không có nắng, không có gió là phải dùng Khi mình phá rừng, tổng thể hệ sinh thái phục vụ cho con người, và các loài khác trong chuỗi mắt xích sẽ bị phá hủy.
lượng dự trữ hoặc các nguồn năng lượng khác như nhiệt điện than, thủy điện để phát điện.
– Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật
Ông nói gần đây Việt Nam xảy ra nhiều trận hán hán, lũ lụt lịch sử mà nguyên nhân một phần lớn là do nạn phá rừng.

Trận lũ lụt đầu tháng 10 vừa qua đã khiến hơn 70 người thiệt mạng, hơn 200 ngôi nhà bị sụp đổ, hơn 40 ngàn ngôi nhà bị ngập, hơn 9000 gia súc và hàng trăm ngàn gia cầm chết đuối. Việt Nam gọi đây là trận lụt lịch sử trong tháng 10 ở Việt Nam.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, thuộc Đại học Cần Thơ cho biết nguồn thủy năng ở Việt Nam hiện nay đã gần cạn kiệt. Nếu làm thêm nhà máy thủy điện thì khả năng lớn là trên các sông suối nhỏ:

Tại vì mình không nắm được các hồ sơ đó nên không biết những nhà máy thủy điện vừa và nhỏ nằm ở đâu, chiếm bao nhiêu diện tích và bao nhiêu rừng sẽ bị phá để phục vụ chuyện này.

Tôi nghĩ từ 300-400 là nhiều lắm.

Mặc dù hiện tại dự án cụ thể của các nhà máy thủy điện này chưa được công bố nhưng Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng khả năng lớn sẽ được xây dựng ở các khu rừng núi hiểm trở bởi vì ở những địa hình dễ làm Việt Nam đều đã cho tiến hành xây dựng.

Ông nói rằng hiện tại rất khó đánh giá tác động cụ thể của các nhà máy này bởi vì chưa có một thông tin nào được công bố. Tuy nhiên theo ông, các nhà máy thủy điện bấy lâu nay đã để lại cho Việt Nam nhiều bài học về tác động môi trường và con người, mặc dù chúng cung cấp một lượng lớn điện năng cho cả nước:

Nó có nhiều vấn đề về môi trường, xã hội, ngoài yếu tố về kinh tế. Ví dụ chuyện di dân, những người sống ở khu vực lòng hồ sẽ phải di dân. Mà thường thường sẽ di chuyển đến chỗ khó khăn hơn chỗ ở cũ. Rồi vấn đề về tái định cư, và sinh kế của người dân ở đó bởi vì họ sống ở dưới thung lũng thì họ dễ dàng canh tác, bắt cá nhưng khi di dời, theo khảo sát của tôi, thì cuộc sống của họ khó khăn hơn rất nhiều.

Ngoài ra những hồ chứa như vậy phải hi sinh rất nhiều đất rừng. Mà rừng ở Việt Nam càng ngày càng thu hẹp và chất lượng không còn dồi dào như ngày xưa nữa. Nếu tiếp tục xây dựng thủy điện thì diện tích rừng càng ngày càng ít dần.

Ngoài ra, ông cho biết hồ chứa thủy điện sẽ giữ lại phần lớn phù sa trên sông, sẽ làm cho vùng hạ lưu gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp nhận phù sa. Bên cạnh đó sẽ cản đường di cư của các loài cá, hay ảnh hưởng đến vấn đề giao thông thủy trên sông.

Một vấn đề quan trọng nữa ông nêu ra đó là khi nhà máy thủy điện vận hành sẽ làm thay đổi các đặc điểm dòng chảy của sông. Dòng sông có lúc phải tích nước lại, có lúc phải xả nước nhiều, chứ không được chảy liên tục như trước đó.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật bổ sung thêm rằng việc xây dựng đập thủy điện có thể ảnh hưởng đến cuộc sống, văn hóa của người bản địa, đẩy họ vào tình thế vốn đã cô lập nay còn bị tổn thương hơn. Vô hình chung điều này sẽ ảnh hưởng đến tình hình ổn định chính trị để phát triển đất nước.

Một nguy cơ khác có thể xảy ra nếu phát triển quá nhiều nhà máy thủy điện, ông nói tiếp:

Đặc biệt ở Việt Nam luôn làm thiếu tính hệ thống. Vừa rồi ở Lào có vụ việc vỡ đập thủy điện. Nếu đập thủy điện bị vỡ như vậy sẽ tác động đến các đập khác, gây ra hiện tượng vỡ đập liên hoàn. Như vậy người dân ở vùng sâu sẽ không sơ tán kịp và nhiều người sẽ chìm trong vùng lụt, phải chịu mất mát về cả tính mạng con người và của cái vật chất.

Trong buổi Hội nghị về phát triển thủy điện nêu trên, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cũng nói rằng nếu Việt Nam có xây thêm nhà máy thủy điện thì cần hạn chế tối đa phá hoại rừng và phải có quy trình chặt chẽ trong việc xây dựng và vận hành hồ chứa.

thuydien
Xây dựng đập Xayaburi trên sông Mekong hôm 22/1/2014. AFP
Có khả thi?

Thủy điện là vấn đề gây nhiều tranh luận trong mấy năm trở lại đây. Tại miền Trung cứ đến mùa mưa lũ là các đập thủy điện lại xả lũ vì sợ vỡ đập. Điều này gây ra hiện tượng lũ chồng lũ ở khu vực vốn đã chịu nhiều thiên tai nhất trên cả nước. Những đợt xả lũ như vậy gây nhiều thiệt hại về vật chất và thậm chí là tính mạng của người dân.

Riêng tại Việt Nam hiện nay chưa có những nghiên cứu đầy đủ về tác động của các đập nước lớn như Sông Đà và Trị An, nhưng ngày càng có nhiều lo ngại về các đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong ở Lào và Trung Quốc, một ngày nào đó sẽ kết liễu sự sống của đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 5 vừa qua, các chuyên gia Việt Nam đã lên tiếng yêu cầu hoãn dự án thủy điện Pắc Beng ở Lào để bảo vệ 20 triệu dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm bảo vệ ngành thủy điện. Ngay trong buổi hội nghị, Phó vụ trưởng Vụ Thủy điện, Bộ Công Thương, ông Phan Duy Phú cho rằng, thủy điện nhỏ và vừa là nguồn tài nguyên quý giá của quốc gia, là nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo và cần được khai thác hợp lý. Hay ông Bùi Thế, Phó giám đốc Sở Công Thương Lâm Đồng nói rằng các công trình thủy điện đã giúp tỉnh này phát triển kinh tế trong thời gian qua.

Trước đó Bộ Công Thương cũng từng đưa ra đánh giá rằng thủy điện nhỏ và vừa có nhiều lợi ích như cung cấp năng lượng, giúp đỡ nông nghiệp, mang lại công ăn việc làm cho dân,…

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng bây giờ còn quá sớm để đánh giá liệu việc xây dựng 300-400 nhà máy thủy điện có khả thi hay không:

 

Bởi vì số lượng lớn như vậy thì có thể có một số nhà máy khả thi. Nhưng khả thi cho cái gì mới được? Ví dụ khả thi về mặt kinh tế nhưng đôi khi không khả thi về mặt môi trường hay mặt xã hội. Nên phải có hồ sơ mới đánh giá được tính khoa học, khả thi hay tính bền vững,… Ví dụ nhà máy đó đặt ở vị trí phù hợp hay không, điều kiện nước có bảo đảm hay không, phải hi sinh bao nhiêu rừng, và bao nhiêu người dân phải di tản.

Rồi vấn đề về tái định cư, và sinh kế của người dân ở đó bởi vì họ sống ở dưới thung lũng thì họ dễ dàng canh tác, bắt cá nhưng khi di dời, theo khảo sát của tôi, thì cuộc sống của họ khó khăn hơn rất nhiều.
TS. Lê Anh Tuấn
Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật lại có cái nhìn khác. Ông cho rằng việc xây thêm số lượng lớn nhà máy thủy điện như vậy sẽ không khả thi khi đưa vào thực tiễn. Ông giải thích:

Quan điểm của Hiệp hội Năng lượng hay Bộ Công thương có thể cho là khả thi. Nhưng khi đưa ra thực tiễn sẽ không khả thi.

Ví dụ đơn giản như hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, đã được Chính phủ đưa vào quy hoạch từ năm 2001 cho đến năm 2011 là 10 năm. Nhưng đến 2012 Thủ tướng vẫn phải rút lại.

Nó không khả thi ngoài thực tế vì dân những vùng đó sẽ phản đối và công luận cũng sẽ phản đối khi môi trường tự nhiên bị hi sinh để làm thủy điện.

Tiến sĩ Lê Tuấn Anh nói rằng bản thân ông không phản đối thủy điện, nhưng với điều kiện là phải cân nhắc thật kỹ lưỡng những tác động nó mang lại. Ông cho rằng Việt Nam cũng nên cân nhắc các nguồn năng lượng khác thân thiện với môi trường mà giá thành ngày càng rẻ như năng lượng gió, mặt trời, thay vì cứ chú trọng đầu tư thủy điện truyền thống.

Trong khi đó, tại Hội nghị, Vụ trưởng Vụ Năng lượng Tái tạo ông Phạm Trọng Thực lại nói rằng thực tế năng lượng tái tạo chỉ đủ cung cấp thêm cho nguồn điện chứ không thể thay thế các nguồn khác. Khi không có nắng, không có gió là phải dùng năng lượng dự trữ hoặc các nguồn năng lượng khác như nhiệt điện than, thủy điện để phát điện.

Những ý kiến các chuyên gia đưa ra dẫn đến một câu hỏi rằng liệu Việt Nam có xem xét trận lũ lụt lịch sử này khi đưa ra quyết định xây thêm đập thủy điện hay không? Và liệu Nhà nước có thảo luận công khai với người dân tại những khu vực được chọn xây nhà máy hay không?

TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG DÁM KIỆN TRUNG CỘNG RA TÒA?

TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG DÁM KIỆN TRUNG CỘNG RA TÒA?
September 12, 2014 at 4:37am
Phạm Trần

Bài này không nhằm trả lời câu hỏi tại sao cho đến giờ này, sau khi Trung Cộng đã rút gìan khoan Hải Dương 981 về nước ngày 15/07/2014, mà Việt Nam vẫn không dám đưa Trung Cộng ra trước tòa án Quốc tế dù Bác Kinh đã nhiều lần vi phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông. Đó là trách nhiệm trước nhân dân và lịch sử của đảng và nhà nước CSVN.

Mục đích bài viết này chỉ tập trung nói về những “sợi dây thòng lọng” của Trung Cộng đã tròng vào cổ lãnh đạo Việt Nam khiến Hà Nội phải nằm im trong qũy đạo của Bắc Kinh.

Những tuyên bố “khua chuông gõ mõ” từ phiá Nhà nước Việt Nam chẳng hạn như câu nói “viển vông” của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại phiên họp của Chính phủ ngày 16-07-2014 rằng: “Việt Nam luôn kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp và các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế” chẳng có nghĩa lý gì đối với Tổng Bí thư-Chủ tịch Nhà nước Trung Hoa Tập Cận Bình, người đã khẳng định kiên trì lập trường bất di bất dịch “biển của ta, gác lại tranh chấp cùng khai thác” với Việt Nam do lãnh tụ “mở cửa” Đặng Tiểu Bình để lại từ năm 1979.

Lập trường làm chủ hầu hết diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông mà Trung Hoa gọi là “Nam Hải” (South China Sea)” đã do các chính phủ Trung Hoa từ thời chính phủ Trung Hoa Dân Quốc năm 1948 (Tưởng Giới Thạch) tự vẽ mà không cần chứng minh bằng bản đồ “Đường 11 đọan”, hay còn gọi là “Đường lưỡi bò”. Sang thời Cộng sản Mao Trạch Đông từ 1949 thì Trung Hoa đã tự ý bỏ bớt 2 đọan trong vịnh Bắc Bộ vào năm 1953 mà không có lời giải thích nào.

“Đường 9 đọan” này được giữ cho đến cho đến nửa đầu năm 2014 thì Chính phủ Tập Cận Bình lại công bố “bản đồ dọc” có thêm 1 đọan thành 10 vào ngày 25/06/2014 sau khi Trung Cộng đặt gìan khoan dầu Hải Dương 981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ 02/5 và rút đi ngày 15/07/2014.

Trong thời gian có khủng hỏang giàn khoan HD-981, rất nhiều chuyên viên, học gỉa Việt Nam trong và ngòai nước, Quốc tế và cựu đảng viên Lãnh đạo đã khuyên nhà nước Việt Nam hãy chộp lấy cơ hội vàng này để kiện Trung Cộng ra tòa án quốc tế.

Rất tiếc Bộ Chính trị đảng CSVN do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu quyết định mọi việc, vẫn “bình chân như vại”. Theo phân tích của một số chuyên gia, khuynh hướng phải kiên nhẫn chịu đựng và tiếp tục duy trì quan hệ tốt với láng giềng “không thể bỏ được Bắc Kinh”, cầm đầu bởi ông Nguyễn Phú Trọng, chiếm đa số trong tổng số 16 Ủy viên Bộ Chính trị nên Việt Nam nằm im chịu trận.

Vì vậy khi người ta nghe ông Thủ tướng Dũng nói sẽ sử dụng “sức mạnh tổng hợp” để “bảo vệ chủ quyền” mà không thấy đưa ra giải pháp cụ thể nào để thoát lệ thuộc kinh tế vào Trung Cộng thì ai cũng biết ông “chỉ nói cho có nói” hầu tránh mất lòng người hàng xóm dù bất đắc dĩ nhưng “qúa hậu hỹ” với cá nhân ông trong 90% vụ trúng thầu các dự án kinh tế của Việt Nam mà ông đã dành cho các công ty Trung Cộng từ khi lên làm Thủ tướng ngày 27/06/2006.

Ông Nguyễn Tấn Dũng và Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng biết rõ như thế vì nếu Việt Nam có hành động chống Trung Cộng, dù chỉ bằng “các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế” rất mênh mông thì Trung Cộng sẽ không ngần ngại đưa ra các biện pháp trừng phạt rất tai hại cho Việt Nam.

Bởi vì vào lúc gìan khoan HD 981 đang hoạt động thì báo chí, một số tướng trong Quân đội và nhà bình luận diều hâu của Trung Cộng đã đe dọa sẽ có biện pháp quân sự và kinh tế trừng phạt Việt Nam nếu Hà Nội theo chân Phi Luật Tân kiện Trung Cộng ra toà án quốc tế.

Lời đe dọa này đã khiến nhà nước Việt Nam không dám coi thường vì sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam hòan tòan lệ thuộc vào nguyên liệu và máy móc phải nhập cảng từ Trung Cộng.

Nhưng quan trọng hơn vì lãnh đạo CSVN không đủ bản lĩnh và nghị lực để tìm cách kết thân với các nước có quân sự và nền kinh tế hùng mạnh Tây phương và trong vùng Á châu-Thái Bình Dương, đặc biệt là Hoa Kỳ, để thoát ra khỏi sự khống chế của Bắc Kinh.

ĐE DỌA CHỒNG CHẤT

Thêm vào đó, trước ngày ông Dương Khiết Trì, Quốc vụ viện Trung Cộng đến Hà Nội ngày 18/6/2014 để khuyến cáo các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng-Bộ trường Ngọai giao Phạm Bình Minh về hoạt động của gián khoan HD 981 mà họ Dương nói “hòan tòan nằm trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc” thì Xinhua (Tân Hoa Xã), hãng tin chính thức của Trung Cộng, đã đưa ra “lệnh 4 không” buộc phiá Việt Nam phải làm, đó là:

1) Không được đánh giá thấp quyết tâm và năng lực bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc với các đảo trên Nam Hải (Biển Đông).

2) Không được sử dụng các tư liệu mà Việt Nam tự nhận là “tư liệu lịch sử” để gây hiểu lầm cho cộng đồng quốc tế và dư luận Việt Nam về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa).

3) Không được lôi kéo các nước khác can thiệp vào Nam Hải.

4) Không được phá bỏ mối quan hệ Việt-Trung sau 20 năm bình thường hóa quan hệ.

Và tại cuộc họp với ông Phạm Bình Minh, ông Dương Trì đã trâng tráo nói, theo tường thuật của Tân Hoa Xã, Xinhua :”Đối với vấn đề trên biển hiện nay, hai bên cần phải xuất phát từ đại cục gìn giữ quan hệ giữa hai Đảng và hai nước, tránh mở rộng, làm phức tạp và quốc tế hoá vấn đề liên quan.

Điều bức xúc nhất hiện nay là Việt Nam cần phải đình chỉ quấy nhiễu đối với sự tác nghiệp của Trung Quốc, đình chỉ thổi phồng bất đồng, gây ra tranh chấp mới, xử lý và khắc phục tốt hậu quả vụ bạo lực đánh đập, cướp bóc và thiêu đốt xảy ra tại Việt Nam cách đây không lâu, đồng thời bảo đảm an toàn cho các cơ quan, doanh nghiệp và nhân viên Trung Quốc tại Việt Nam. Mong Việt Nam xuất phát từ đại cục, cùng với Trung Quốc hành động theo một hướng, thúc đẩy quan hệ Trung-Việt khắc phục khó khăn, tiếp tục phát triển lên phía trước theo quỹ đạo đúng đắn.”

Đó là áp lực về chính trị, kinh tế thì lép vế ra sao mà khiến lãnh đạo Việt Nam phải “ngậm tăm” ?

Báo Thanh Niên cho biết: “ Theo Tổng cục Thống kê, năm 2013, có 16 thị trường Việt Nam xuất siêu trên 1 tỉ USD trong đó, Mỹ tiếp tục là thị trường mà VN đạt thặng dư thương mại lớn nhất với 18,64 tỉ USD. Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đứng thứ 2 với 3,81 tỉ USD. Tiếp theo là Anh 3,13 tỉ USD, Hồng Kông 3,06 tỉ USD, Campuchia 2,42 tỉ USD, Hà Lan 2,26 tỉ USD, Nhật Bản 2 tỉ USD…

Tuy nhiên, do nhập siêu từ Trung Quốc quá lớn, tới 23,7 tỉ USD nên đã “nuốt” gần như toàn bộ thành tích xuất siêu từ các thị trường này.” (Thanh Niên, 14/05/2014)

Báo này viết tiếp : “Những tháng đầu năm 2014, tình trạng trên vẫn tiếp diễn. Tổng cục Hải quan cho biết, quý 1/2014 Việt Nam đã xuất siêu sang Mỹ 4,4 tỉ USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Nhưng cũng trong quý 1, Việt Nam nhập siêu của Trung Quốc 4,5 tỉ USD.

Điều đáng nói là, với cơ cấu nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc về gia công và xuất khẩu, chúng ta thực ra đang xuất khẩu giùm nước này và phần giá trị gia tăng được hưởng rất ít ỏi.

Theo Tổng cục Hải quan, cả năm 2013, Việt Nam xuất khẩu 17,95 tỉ USD hàng dệt may, nhưng phải nhập tới 14,81 tỉ USD, trong đó nhập khẩu của Trung Quốc 5,56 tỉ USD.

Công thức là, Việt Nam nhập nguyên liệu của Trung Quốc về gia công và xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ, EU. Ở hoàn cảnh tương tự là điện thoại các loại và linh kiện, Việt Nam xuất được 21,24 tỉ USD cả năm 2013 nhưng phải nhập khẩu 8 tỉ USD, riêng Trung Quốc gần 5,7 tỉ USD…

Không chỉ bán hàng hộ, chúng ta còn tiêu thụ công nghệ cho các doanh nghiệp Trung Quốc. Năm 2013, Việt Nam nhập từ Trung Quốc tới 36,8 tỉ USD, chiếm tới 28% tổng kim ngạch nhập khẩu chủ yếu là tư liệu sản xuất, máy móc, phụ tùng, nguyên vật liệu… Riêng 3 tháng đầu năm, nhóm hàng này nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam với tổng trị giá là 1,58 tỉ USD, tăng 29,7%.”

Trước đó, theo báo Dân Trí ngày 18/12/2013 thì : “ Theo số liệu đưa ra tại Hội nghị Quán triệt và hướng dẫn triển khai chiến lược tham gia các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) đến năm 2020 diễn ra ngày 17/12, Bộ Công thương cho biết, nếu như năm 2001, nhập siêu từ Trung Quốc chỉ là 210 triệu USD thì đến năm 2012, kim ngạch nhập siêu đã lên đến 16 tỷ USD.

Như vậy, sau hơn 10 năm, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng hơn 76 lần. Theo thống kê mới nhất Tổng cục Hải quan, riêng trong tháng 11 vừa rồi, Việt Nam thâm hụt thương mại với thị trường Trung Quốc lên tới hơn 2 tỷ USD.”

TRUNG CỘNG NẮM HẦU BAO VIỆT NAM

Lý do nhập siệu tang nhanh vì tất cả nguyên liệu, máy móc để sản xuất dệt may, giầy dép, hàng điện tử và đồ thông dụng khác đều phải nhập cảng từ Trung Cộng trong khi Việt Nam không tự sản xuất được, kể cả đồ phụ tùng thay thế cũng phải mua từ Trung Cộng.

Trung Cộng cũng đã kiểm soát 90% nền kinh tế của Việt Nam, quan trọng nhất là các nhà máy điện, xi măng, khoáng sản, xây cất đường xá, bến cảng bên cạnh dự án khai thác Bauxite đang sa lầy, giết vốn nghiêm trọng ở Tây Nguyên tại hai Tỉnh Lâm Đồng (Nhà máy Tân Rai) và Dăk Nông (Nhà máy Nhân Cơ).

Tiến sỹ Tô Văn Trường là một trong số chuyên viên đã báo động: “Sau những vật nài xin ưu đãi nhiều thứ kể cả vốn đầu tư, thuế tài nguyên, môi trường…hai dự án bôxit Tây Nguyên (Tân Rai và Nhân Cơ) đã phải công khai thừa nhận từ nay đến năm 2020, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ lỗ hàng nghìn tỉ đồng. Riêng Tân Rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ còn nặng nề hơn, dự kiến 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỷ đồng vv…

Thực tế bi đát của dự án này là điều có thể thấy trước và không làm ai ngạc nhiên. Nói theo nhà Phật thì “quả báo nhãn tiền” đã có ngay chứ không cần đợi đến kiếp sau.”

Ông cảnh cáo tiếp : “Nguy hiểm hơn, có vẻ như những người quyết định và đang theo đuổi dự án này đã lỡ ngồi trên lưng hổ rồi, nên cứ tiếp tục liều mạng bất chấp cái giá mà nhân dân và đất nước phải trả trong điều kiện nền kinh tế đang suy kiệt hiện nay. Việc cố tình che dấu tội lỗi thường mang lại hậu quả lớn hơn nhiều tội lỗi ban đầu.” (theo VNCOLD, 17/04/14)

Trong khi đó chuyên gia, Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Ban quản lý dự án đồng bằng sông Hồng của Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản VN (TKV) thì nói thẳng: “ Chúng ta phải nói vì sự thật là dù thí điểm nhưng với hai nhà máy, TKV đã “giúp” bổ sung vào nợ công VN hơn 1,2 tỉ USD. Nếu cứ “quyết liệt” làm nốt Nhân Cơ, tổng nợ công sẽ tăng thêm gần 2 tỉ USD. Để trả nợ cho hai dự án thí điểm này, gần 140.000 lao động của TKV, theo tính toán, sẽ phải làm việc cật lực 20 năm may ra mới “xong”.”

(báo Tuổi Trẻ,13/05/2013)

Nhưng tại sao biết là thua lỗ và tương lai rất mù mịt, không kể những tai họa hồ chứa “bùn đỏ” có thể bị vỡ nguy hiệm cho tính mạng và tài sản người dân ở hạ nguồn sông Đồng Nai, mà Việt Nam vẫn cứ lao đầu vào cuộc phiêu lưu ?

Lý do vì hai Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khóa VIII) và Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) đã không có bản lĩnh chống lại đòi hỏi của Trung Cộng để họ tham gia vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, vùng đất chiến lược quốc phòng của Việt Nam.

Sau đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định 167 ngày 01 tháng 11 năm 2007 phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô xít từ giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025.

Hàng ngàn chuyên viên, đảng viên, cựu Lãnh đạo, Tướng lãnh –kể cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nguyên Phó chủ tịch Nước bà Nguyễn Thị Bình–, trí thức, văn nghệ sỹ, kể cả Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Địa phận Vinh và người dân trong nước là chính đã gửi thư yêu cầu ngưng hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ vì có hại nhiều hơn lợi kinh tế cho Việt Nam nhưng nhà nước cứ làm.

Đến khi có quặng ở Nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) để xuất cảng thì Trung Cộng là khách hàng chính mua hàng của Việt Nam để sử dụng với giá thấp hơn rất nhiều so với tổng số vốn sản xuất ra 1 tấn quặng. Vì khi tính lời lỗ thì Nhà nước không tính tiền phí tổn làm đường, sửa đường, chuyên chở nên thua lỗ đã không tránh được như các chuyên viên đã vạch ra.

ÁP LỰC CHÍNH TRỊ

Trên lĩnh vực chính trị, vì bị ép buộc phải cam kết với Trung Cộng tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 để được nối lại bang giao với Bắc Kinh, theo lời Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CSVN tại Bắc Kinh từ năm 1974 đến 1987, mà Việt Nam không được nhắc đến vụ Trung Cộng chiếm Hòang Sa năm 1974 và cũng phải im luôn, không được nhắc nhở dưới bất cứ hình thức nào, kể cả truy điệu những người Việt Nam đã chết trong 2 cuộc tấn công của Trung Cộng qua biên giới từ năm 1979 đến 1989. Có khỏang 45 ngàn quân và dân 6 tỉnh biên giới đã tử thương, mất tích và bị thương trong cuộc chiến bi thảm này.

Do đó, trong tất cả các cuộc nói chuyện đôi bên về chủ quyền biển đảo Trung Cộng luôn luôn nhắc cho Việt Nam nhớ những điều đã cam kết của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng ở Thành Đô năm 1990. Ngoài ra Việt Nam còn ở vào thế yếu khi phải tranh cãi với Trung Cộng về Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Cộng tại hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.

Mặc dù đã nhiều lần các học gỉa, chuyên viên Việt Nam và báo chí đảng lý luận rằng Công hàm Phạm Văn Đồng “không hề đề cập đến Hòang Sa và Trường Sa”, cũng như Công hàm khi đó của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có tư cách pháp lý thay mặt cho nhà nước thực sự kiểm soát 2 quần đảo này là Việt Nam Cộng hòa ở nam Vỹ tuyến 17 nên bảo ông Phạm Văn Đồng đã thừa nhận quyền chủ quyền của Trung Cộn đối với Hòang Sa và Trường Sa là hòan tòan không có cơ sở pháp lý.

Phiá nhà nước Việt Nam Cộng sản còn lập luận rằng sở dĩ khi Trung Cộng chiếm Hòang Sa năm 1974 mà Hà Nội không có phản ứng nào vì khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang ở trong hòan cảnh đặc biệt cần sự giúp đỡ của Trung Cộng và các vũ khí của khối Liên Sô và các nước Cộng sản Đông Âu gửi cho Hà Nội để theo đuổi chiến tranh xâm lăng miền Nam Việt Nam chỉ có thể đến miền Bắc qua lãnh thổ Trung Cộng cho nên nhà nước phải chọn nhu cầu “đánh thắng miền Nam để thống nhất đất nước” làm ưu tiên và cần thiết hơn việc đưa ra lời tuyên bố phản đối Trung Cộng chiếm Hòang Sa của Việt Nam mà chẳng đi đến đâu.

Nhưng lời bào chữa này của CSVN có xuôi tai không và tại sao Nhà nước Việt Nam từng bác bỏ lập luận “do lịch sử để lại của Trung Quốc” mỗi khi họ nói đến chủ quyền của họ trong “Đường lưỡi bò”, đã không kiện Bắc Kinh ra tòa để thách đố Trung Cộng chứng minh bằng các “văn kiện lịch sử” hợp pháp ?

Vì vậy mà Trung Cộng đã tự do hành động, tuyên truyền như “múa gậy vườn hoang” tại các diễn đàn trên thế giới, trên báo chí, tài liệu ngọai giao, sách giáo khoa và bản đồ du lịch, giấy Thông hành v.v…

Tại Hội nghi an ninh Đối thoại Shangri-La ở Singapore năm 2014, Phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Vương Quán Trung (Wang Guanzhong) đã oang oang cho rằng:” Bản đồ “Đường lưỡi bò” phản ánh 2.000 năm lịch sử Trung Quốc, và do đó nó có trước Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Từ đó, ông Vương cho rằng khu vực này không phù hợp để áp dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển trong khi công ước này ra đời để áp dụng chung cho việc giải quyết mọi tranh chấp mà không hề nêu ra ngoại lệ.” (Tài liệu Bách khoa tòan thư mở).

Còn vụ Tầu tấn công và chiếm 8 đảo và bãi đá ngầm của Việt Nam ở Trường Sa tháng 3/1988 thì sao ?

Vẫn theo tiết lộ của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì vào thời điểm đó, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh (sau làm Chủ tịch Nước), người có lập trường thân Trung Cộng, đã ra lệnh cho binh lính bảo vể đảo “không chống lại quân xâm lược Trung Cộng”.

Và khi đó Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười cũng “ngậm miệng như hến” không dám quyết liệt chống lại Trung Cộng vì, theo lời một chuyên gia Việt Nam trong vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn nói với tôi (Phạm Trần) “vì khi đó đảng CSVN sợ cũng sẽ bị tan rã” như các nước Đông Âu và sau đó là nước Nga Cộng sản nên im luôn để hy vọng sẽ cùng với Trung Cộng tái lập lại Thế giới Cộng sản”, như đã thấy diễn ra ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 !

Nhận định của vị Giáo sư Đại học chuyên về Chính trị Ngọai giao Thế giới trùng hợp với việc Việt Nam đã “quên luôn” chuyện đem quân lấy lại những nơi bị mất ở Trường Sa, mặc dù Việt Nam gần Trường Sa hơn Trung Cộng đi từ đảo Hải Nam xuống.

Cho đến tháng 9/2014 thì Trung Cộng đã biến đảo Gạc Ma thành một căn cứ quân sự có bến cảng và sân bay ngắn. Trung Cộng cũng đã biến một số bãi đá tranh chấp chiếm được của Việt Nam và Phi Luật Tân thành các đảo nhân tạo để chuẩn bị đưa người, quân đội đến sinh sống và đồn trú hầu xác nhận chủ quhyền và kiểm soát an ninh hàng hải từ Hòang Sa xuống Trương Sa trong chu vi “Đường lươi bò”.

Trong khi đó, tính về số đảo ở Trường Sa thì Việt Nam kiểm soát lối 25, Trung Cộng và Phi Luật Tân bằng nhau từ 7 đến 8 đảo, Mã Lai Á chiếm 4 và Đài Loan làm chủ đảo Ba Bình, lớn nhất trong quần đảo này. Tuy nhiên nói về lực lượng quân sự thì Trung Cộng luôn luôn ở vào thế thượng phong và đang ngày đêm củng cố và khuếch trương những khu vực chiếm đóng.

NƯỚC BỌT NHẠT NHẼO

Trước thái độ hung hăng đe dọa chiếm đóng chủ quyền biển đảo của Việt Nam ngày một lên cao của Bắc Kinh, những người cầm quyền Việt Nam chỉ biết phản đối bằng nước bọt như họ vẫn làm từ trước đến nay

Gần nhất vào ngày 09/09/2014, người phát ngôn Bộ Ngọai giao Việt Nam Lê Hải Bình nói rằng : “ Theo thông tin xác minh từ các cơ quan chức năng của Việt Nam, trong các ngày 1 và 14/8 vừa qua, các tàu cá Quảng Ngãi mang số hiệu QNg 96416 TS và QNg 96674 TS trong khi đang hoạt động nghề cá bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa đã bị một số tàu Trung Quốc khống chế, ngăn cản và lấy đi một số tài sản.

Nghiêm trọng hơn, ngày 15/8 vừa qua, trong khi đang hoạt động bình thường tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, tàu cá Quảng Ngãi mang số hiệu QNg 96697 TS đã bị hai canô cao su cùng số hiệu 207 của Trung Quốc khống chế, lên tàu đập phá, tịch thu trái phép một số tài sản và đánh đập các ngư dân.”

Ông Bình bảo: “Đây là những hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, trái với luật pháp quốc tế và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc và đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo Cấp cao hai nước về việc đối xử nhân đạo với ngư dân.

Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc điều tra và xử lý nghiêm các hành vi của lực lượng chức năng Trung Quốc đồng thời không để tái diễn những hành động trên và bồi thường thỏa đáng cho các ngư dân Việt Nam” (TTXVN, Thông tấn xã Việt Nam)

Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên Trung Cộng đã dã man như thế mà từ năm 2005 đã có hàng trăm vụ tầu cá và ngư dân VN bị lính và cảnh sát biển Trung Cộng đán áp đẫm máu, bắt tù chuộc tiền và tịch thu tài sản ở Biển Đông.

Cũng ngạc nhiên là khi Trung Cộng đối xử với Việt Nam như thế thì chưa bao giờ thấy Cảnh sát biển Việt Nam dám bắt tầu cá hay giữ ngư dân Tầu khi họ công khai xâm nhập sâu vào đánh bắt tự do tại các vùng biển Đà Nẵng, Phú Yên, Vũng Tầu, Côn Đảo, An Giang mà chỉ dám khuyên bảo hoặc “xua đuổi hòa bình” ra khỏi khu vực.

Thậm chí đã có một thời gian rất dài cho đến khi xẩy ra vụ gìan khoan HD 981 thì Ban Tuyên Giáo Trung ương mới bật đèn xanh cho báo đài được phép nói trắng ra “tầu Trung Quốc”, thay vì “tầu lạ” hay “tầu nước ngòai” đã tấn công, đánh chìm tầu cá Việt Nam v.v…

Như vậy thì vì đâu mà Nhà nước CSVN phải chịu áp lực đến xấu hổ, bôi nhọ danh dự của Tổ quốc và xâm hại nhân phẩm của ngư dân Việt Nam như thế ?

Có phải trong số Lãnh đạo đã có những người đã được “nuôi ăn cơm Tầu” và nhận lương bằng “đồng Nhân tệ” hàng ngày nên mới sợ hãi đến nhục nhã như vậy ?

Hay là như Ủy viên Bộ Chính trị , Thường trực Ban Bí thư đảng Lê Hồng Anh, Đặc phái viên của ông Nguyễn Phú Trọng đã sang Bắc Kinh làm việc từ 26 đến 28/8 để “thể hiện nguyện vọng chính trị tích cực thúc đẩy cải thiện và phát triển quan hệ Trung-Việt của Đảng và Chính phủ Việt Nam “ thì đã đủ chưa để giải thích tại sao “các sợi giây thòng lọng” made in China đã quấn chặt lấy cổ các Lãnh đạo Việt Nam để họ không thể rút đầu ra khỏi lệ thuộc Trung Cộng ?

Phạm Trần
09/2014

Ai là sứ giả Việt đầu tiên vượt trùng khơi đến Hoa Kỳ?

Ai là sứ giả Việt đầu tiên vượt trùng khơi đến Hoa Kỳ?

(Kiến Thức) – Bùi Viện, một viên quan triều Nguyễn dưới thời Tự Đức đã được lịch sử ghi nhận cùng những minh chứng là sứ giả Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ…
Bùi Viện, một viên quan triều Nguyễn dưới thời Tự Đức dù đã được lịch sử ghi nhận cùng những minh chứng là sứ giả Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ đặt mối bang giao, nhưng những ghi chép về vị quan này quá sơ sài, ít ỏi. Rất nhiều người dù am tường sử học cũng không rõ gốc tích lẫn những việc làm của Bùi Viện.
Vậy để rõ hơn về thân thế, sự nghiệp và những việc làm của vị quan này, tòa soạn xin gửi tới quý độc giả những tìm hiểu tỉ mỉ nhất, cũng là mong góp cho ngành sử học nước nhà đôi dòng tư liệu.
Ai la nguoi Viet dau tien vuot trung khoi den Hoa Ky?
Chân dung Bùi Viện.
Bùi Viện là ai?
Tuy lịch sử có ghi nhận vị quan tên là Bùi Viện là sứ giả đầu tiên vượt biển trùng khơi sang Hoa Kỳ đặt mối bang giao, cùng với đó là cái chết của vị công thần nhà Nguyễn, nhưng những ghi chép ấy quá mỏng manh, đôi chỗ còn chưa có căn cứ chính xác nên vào cuối tháng 7, chúng tôi đã về xã An Ninh (Tiền Hải, Thái Bình) để tìm hiểu kỹ hơn về vị sứ giả nước Nam này.
Ông Bùi Luật, người giữ việc nhang khói ở từ đường họ Bùi, cũng là khu lưu niệm của quan Bùi Viện đang nắm giữ khá nhiều tư liệu cổ. Đáng chú ý, trong số những tư liệu ông giữ, có đầy đủ những bản chép cũ lẫn mới tương đối chính xác và có căn cứ cụ thể.
Ông Luật cho biết, Bùi Viện sinh năm 1839, hiệu là Mạnh Dực. Trước đây, xã An Ninh có tên gọi khác là làng Trình Phố, tổng An Bồi, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định. Bây giờ, cái tên Trình Phố được đổi sang là Trình Trung Tây.
Tuy Bùi Viện sinh ra tại thôn này nhưng gốc gác của ông là ở làng Diêm Phố (Hậu Lộc, Thanh Hóa). Khi dòng họ Bùi đến tổng An Bồi lập nghiệp mới lấy tên làng là Trình bởi vùng đất này có nhiều sông ngòi, gắn liền với dòng Trình Giang. Từ tên làng đó ghép với tên làng cũ để nhắc nhở con cháu không quên gốc gác.
Ai la nguoi Viet dau tien vuot trung khoi den Hoa Ky?-Hinh-2
Khu lưu niệm Bùi Viện tại Thái Bình.
Cử nhân ân khoa
Bùi Viện đỗ tú tài năm Giáp Tý, tức 1864. Bốn năm sau, tức năm 1868 thì đỗ cử nhân ân khoa. Ngay sau đó, Bùi Viện vào kinh thành Huế tập văn tại Quốc Tử Giám và ở nhà của người bạn rất thân với thân phụ là vị Tế tửu Vũ Duy Thanh, tức Trạng Bồng.
Năm 1871, Bùi Viện nhận nhiệm vụ phò Lê Tuấn lúc đó đương chức Hình bộ Thượng thư ra Bắc dẹp loạn quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc và quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh. Công việc hoàn thành, ông trở về Huế và sau đó được Doãn Khuê đương chức Doanh điền sứ Nam Định mời ra giúp việc khai hoang, lấn biển.
Năm 1873, lục tỉnh Nam kỳ lọt vào tay thực dân Pháp và đang âm mưu ép triều đình ký một hiệp định thay thế Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Lúc này, Tự Đức nhận thấy việc cấp bách, lại thấy Bùi Viện tài năng lỗi lạc, bản lĩnh hơn người nên cử ông sang nước ngoài xem xét tình hình, mưu việc cứu quốc.
Ai la nguoi Viet dau tien vuot trung khoi den Hoa Ky?-Hinh-3
 Ông Bùi Luật và những tư liệu về Bùi Viện.
Trong tài liệu lưu giữ tại từ đường họ Bùi ở Thái Bình có ghi: Vua Tự Đức đã dành cho Bùi Viện một buổi lễ bái biệt trọng thể tại Thúy Vân Sơn cùng lời căn dặn kỹ càng trước khi Bùi Viện căng buồm vượt biển.
Bùi Viện rời cửa biển Thuận An (Huế), để ngược ra Bắc tháng 8/1873 và hai tháng sau thì cập đến bến Hương Cảng. Lúc đó, Hương Cảng đang là nhượng địa của nước Anh cho nên tại đây, Bùi Viện có điều kiện kết giao với nhiều nhân sĩ trí thức của các nước.
Sau một thời gian tiếp xúc với các quan chức, Bùi Viện nhận ra không thể nhờ vả vào Lý Hồng Chương – một đại thần nhà Thanh nên ông chuyển hướng sang những chính khách Tây phương.
Bùi Viện sau nhiều lần bút đàm với viên lãnh sự Hoa Kỳ thì mới nhận thấy ngoài Anh, Pháp thì Hoa Kỳ cũng là quốc gia hùng cường có thể cậy trông. Biết được nguyện vọng của Bùi Viện, viên lãnh sự này đã viết một lá thư giới thiệu với một người bạn đầy uy thế ở Hoa Kỳ có khả năng giúp ông tiếp cận với Tổng thống Hoa Kỳ.
Ai la nguoi Viet dau tien vuot trung khoi den Hoa Ky?-Hinh-4
Làng Trình Phố được đổi sang là Trình Trung Tây.
Hai lần sang Hoa Kỳ
Từ Trung Quốc, Bùi Viện đến Yokohama (Nhật Bản) để xem xét tình hình. Sau thời gian ngắn, Bùi Viện nhận thấy đất nước này mới chỉ mở cửa chưa đủ mạnh để giúp Việt Nam nên ông đã đáp tàu sang San Francisco (Hoa Kỳ) rồi lưu lại đó suốt một năm để vận động gặp Tổng thống Hoa Kỳ thứ 18 là Ulysses Simpson Grant.
Thời gian này, Pháp và Hoa Kỳ đang xích mích với nhau trong chiến tranh Hoa Kỳ – Mexico nên Hoa Kỳ cũng tỏ ý sẽ giúp nước Nam. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là Bùi Viện không mang theo quốc thư nên 2 bên không thể có một cam kết chính thức.
Sau đó, khi về đến Huế tâu bẩm tình hình của Hoa Kỳ và những việc mắt thấy tai nghe, vua Tự Đức đã trao Bùi Viện quốc thư cho đầy đủ lề lối ngoại giao chính thức. Một lần nữa Bùi Viện lại xuất dương, nhưng người tính không bằng trời tính, khi sứ thần Việt Nam có quốc thư thì sự thù địch giữa Hoa Kỳ và Pháp đã được dàn xếp ổn thỏa nên Hoa Kỳ không thể trực tiếp giúp đỡ Việt Nam được.
Quá thất vọng, Bùi Viện đáp tàu lộn ngược đường cũ trở về nước. Vừa đặt chân lên bờ thì Bùi Viện nghe tin mẹ từ trần nên lập tức xin vua về quê cư tang. Trước đó, Bùi Viện đã nén đau thương vào triều tâu bẩm cặn kẽ tình hình với vua Tự Đức rồi xin về thọ tang mẹ.
Ai la nguoi Viet dau tien vuot trung khoi den Hoa Ky?-Hinh-5
Tổng thống Ulysses Simpson Grant, người mà Bùi Viện đã 2 lần gặp để mong có mối bang giao.
Ba tháng sau, Bùi Viện lại được triệu về kinh đô giữ chức Thương chánh Tham biện rồi sau đó là chức Chánh quản đốc nha Tuần hải. Chẳng lâu sau, ông qua đời đột ngột ở tuổi 40.
Cái chết của Bùi Viện cho đến nay còn là một bí ẩn. Lịch sử cũng chỉ viết, Bùi Viện qua đời đột ngột, trong khi đó ông mới ở tuổi 40, không bệnh tật, không ốm đau. Nhưng qua những hồ sơ ghi chép mà ông Bùi Luật đang cất giữ tại từ đường họ Bùi ở thôn Trình Trung Tây, cái chết của Bùi Viện mới dần dần sáng tỏ.
Nhưng tất thảy, sau những công trạng của Bùi Viện, người đương thời biết đến ông không chỉ với vai trò là sứ giả ngoại giao. Bùi Viện còn nổi lên với vai trò “Tổng công trình sư” của cảng Hải Phòng.
Tại sao ông không chọn cửa Ba Lạt hay Trà Lý quê mình để mở mang cảng biển, lại chọn vùng đất Hải Phòng để mưu cầu việc lớn cho quốc gia? Bài sau chúng tôi sẽ hạ hồi phân giải để quý độc giả có thêm cái nhìn mới về danh nhân Bùi Viện.
Đương thời, Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến viết đôi câu đối đánh giá về Bùi Viện: “Vi sở bất năng vi, đàm tiếu không lưu hoành hải khí/Cố bất thất vi cố, cầm thư khước ức thiếu niên du” – Tạm dịch: Làm việc chẳng ai làm, dọc đất ngang trời trơ chí lớn/Cũ người là bạn cũ, ôm đàn mở sách nhớ tình xưa.
 “Bùi Viện là một vị quan trí dũng song toàn. Dù 32 tuổi mới lần đầu được triều đình trọng dụng, lại dưới trướng của một quan đại thần nhưng ông vẫn nhất mực vì nước. Hai lần lênh đênh trên biển sang Hoa Kỳ mong có một bang giao cứu quốc đã chứng minh cho điều ấy”.
GS sử học Lê Văn Lan

Về sự xâm nhập phá hoại của Việt Cộng

NGUYEN PHUONG HUNG NGUYEN THI DOAN

Bài phân tích này được tác giả chuyển đến vào tháng 7/2013. Dù được viết vào năm 2006 nhưng bài phân tích này vẫn giữ nguyên giá trị trong mục đích cảnh báo và kêu gọi hành động rất có ích cho tình hình đấu tranh chính trị đối đầu với mạng lưới gián điệp cộng sản hiện nay tại hải ngoại. (Ban Kỹ Thuật, UBTTTAĐCSVN)

Phạm Quang Trình

1. Chuyện cũ trước 1975:

Năm 1968, tôi được dự một buổi nói chuyện về “Tình Báo của Việt Cộng” do Cục An Ninh Quân Đội tổ chức tại Sài Gòn. Diễn giả là Năm Công, nhân vật thứ 8 của Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) và Trung Úy Nguyễn Minh Châu, Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Năm Công nói rằng ông ta bị Sư đoàn 5 bắt tại Bình Dương chớ không phải đầu hàng hay là xin chiêu hồi. Ông cho biết vì được Cục An Ninh Quân Đội đối xử tử tế nên rất có thiện cảm và sẵn sàng đến trình bày với cử tọa về “Phương Châm Chiến Lược Ba Mũi Giáp Công” của Việt Cộng. Phương châm chiến luợc “Ba Mũi Giáp Công” là phương thức đấu tranh qua ba lãnh vực “Chính trị, Quân sự và Binh Vận”. Cuộc xâm lăng gọi là “Giải Phóng Miền Nam” của Cộng sản Hà Nội được đặt nền móng và khai triển trên ba lãnh vực đó. Chính trị bao gồm tổ chức, vận động, ngoại giao. Quân sự là xây dựng và đấu tranh bằng các lực lượng võ trang. Và Binh vận là công tác tình báo “xâm nhập và phá hoại” Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm Công đã trình bày tỉ mỉ bằng những dẫn chứng cụ thể về “sách lược đấu tranh” của Việt Cộng. Nói khác hơn, theo ông thì Việt Cộng đấu tranh có bài bản hẳn hoi. Cho nên muốn đối phó lại với âm mưu xâm lược của Việt Cộng thì phía Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có sách lược tương xứng.

Trung Úy Nguyễn Minh Châu nguyên là cán bộ Việt Cộng nằm vùng tại Miền Nam. Ông không tập kết ra Bắc, nhưng được bố trí ở lại Miền Nam và xin vô học Trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 5 (?). Ông cho biết vợ ông cũng là cán bộ Việt Cộng hoạt động ở trong bưng. Học Trường Sĩ Quan Thủ đức, tốt nghiệp, hoạt động trong ngành Chiến Tranh Tâm Lý, leo lên đến Trung Úy mà Cục An Ninh Quân Đội vẫn chưa phát hiện thì quả là một “kỳ công” của anh cán bộ Việt Cộng. Nhưng lý do nào khiến cán bộ Việt Cộng Nguyễn Minh Châu ra đầu thú mới là vấn đề. Ông cho biết trong thời gian học tập và sau này ra trường phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ông ta đã suy nghĩ rất nhiều. Nhờ được học tập, đọc các tài liệu và quan sát cuộc sống của dân chúng trong chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, ông thấy nó khác với những điều Việt Cộng tuyên truyền, nhồi sọ. Dưới mắt ông, cuộc sống của dân chúng trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa sung túc, tự do. Cá nhân ông cảm thấy thoải mái khác hẳn những gì là gò bó trong vùng Việt Cộng kiểm soát. Trong khi đó, theo dõi tin tức vào trong bưng thị vợ ông “theo lệnh Đảng” đã lấy một cán bộ khác. Sống trong sự dằn vặt về ý thức hệ và lý tưởng đấu tranh, ông luôn cảm thấy cô đơn và rất đau khổ mà không biết tỏ lộ cùng ai được. Cuối cùng, vì không chịu nổi cảnh cô đơn và dằn vặt đó, ông ra đầu thú với An Ninh Quân Đội. Nơi đây, họ cho ông biết là Cục An Ninh đã và đang theo dõi một “tên cán bộ Việt Cộng nằm vùng, bí danh là X… mà chưa biết tên này nằm ở đâu”. Cán bộ nằng vùng bí danh X. đó chính là Trung Úy Nguyễn Minh Châu.

Mới đầu, ông tưởng là sẽ bị vô ngồi tù thời gian rồi cho giải ngũ. Nào ngờ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đối xử tử tế và vẫn duy trì ông ở vị trí hiện tại là Trung úy ngành Tâm Lý Chiến và dành cho ông nhiều công tác quan trọng hơn. Ông cám ơn Chính Phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và hứa sẽ phục vụ chính nghĩa Quốc Gia một cách tích cực chống lại chủ nghĩa Cộng sản độc hại.

Qua hơn một giờ nghe trình bày, cử tọa rất chăm chú và thầm phục Năm Công ăn nói lưu loát, mạch lạc. Phần cá nhân tôi, tôi chú ý đến những mánh khóe xâm nhập của Việt Cộng vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những mánh khóe đó không có gì mới lạ và có vẻ rất là bình thường đến độ tầm thường, nhưng lại có công hiệu.

Sau phần nói về cá nhân mình cùng những hoạt động đặc biệt, hai diễn giả Năm Công và Trung Úy Nguyễn Minh Châu nói về công tác Binh Vận, làm sao xâm nhập vào hàng ngũ Quân Đội Quốc Gia. Phương cách hay mánh khóe rất đơn giản và tầm thường từ xưa đến nay là Tiền và Gái. Ngoài ra, có thể dùng cách “bắt địa hay bắt bí”.

Dùng tiền để đánh vào lòng tham. Thường kẻ tham tiền sẽ dễ dàng bị mua chuộc, từ cái tầm thường, vô thưởng vô phạt để cho đối tượng đi sâu vào vòng kiểm soát của mình đến những cái khác cao hơn. Rồi cứ dần dần tăng lên, đi sâu và lún sâu vào cái thế không sao thoát ra được, buộc phải theo và hành động cho Việt Cộng. Dùng gái là “mỹ nhân kế”. Chuyện này thì mấy ai thoát khỏi, kể cả Tổng Thống, Thủ Tướng. Trong những đồn bót, Việt Cộng đã dùng rất nhiều cán bộ phụ nữ được huấn luyện, làm sao để những cán bộ nữ này lập được “quan hệ tình cảm” với binh lính Quốc gia, từ binh nhì đến các chức vụ cao hơn. Chuyện thanh niên nam nữ yêu nhau rồi lập gia đình là chuyện bình thường. Cho nên điều cần là nữ cán bộ làm sao lập được quan hệ yêu đương với lính, rồi lấy lính làm chồng, lọt vào trong hàng ngũ, ít ra là trong đồn bót để làm nội công.

Công tác xâm nhập “bình thường” này của Việt Cộng đã có kết quả ít nhiều. Nhưng thực tế cho biết, thường đã có những phản ứng ngược lại, khi “quan hệ tình cảm yêu thương” lấn thắng “quan hệ Đảng và đồng chí”. Rất nhiều nữ cán bộ Việt Cộng khi đã có chồng là lính Quốc Gia, lại đem lòng yêu thương thật sự. Rồi khi có con, có cuộc sống thoải mái thì “thố lộ” cho chồng biết mọi chuyện, nhất là vai trò của mình và đồng ý “hợp tác” với An Ninh Quân Đội để “tiêu diệt” lại Việt Cộng.

Trường hợp bị “bắt bí” thì cụ thể nhất là trường hợp một Trung Úy tùng sự tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Gia đình Trung Úy Hải Quân này sống ở vùng nông thôn Miền Tây. Khi còn là học sinh thì Trung Úy này lên tỉnh và Sài Gòn học. Sau khi đậu Tú Tài, thanh niên này thi vào Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, ra trường và được phái đi phục vụ nhiều nơi. Sau cùng được bổ về Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bến Bạch Đằng. Cha mẹ ông Trung Úy này vẫn sống ở miền quê và vẫn bị Việt Cộng địa phương theo dõi. Khi biết viên Trung Úy về Bộ Tư Lệnh Hải Quân và thỉnh thoảng cũng về thăm nhà thì cán bộ tình báo nằm vùng đến “điều đình” với cha mẹ của viên Trung Úy là nhờ mua giùm thuốc Tây. Chuyện xem ra dễ dàng và vô thưởng vô phạt nên Trung Úy đã nhận lời mua giúp. Rồi dần dần, Việt Cộng nhờ mua nhiều hơn hoặc nhờ làm một vài việc khác xét ra cũng “vô thưởng vô phạt” như mua thuốc. Sau cùng, Việt Cộng yêu cầu Trung Úy vẽ giùm bản đồ Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bến Bạch Đằng thì viên Trung Úy này cảm thấy sợ hãi vì đã lún sâu vào vòng kiểm soát của Việt Cộng mất rồi. Làm theo chúng thì rất nguy hiểm, mà không làm thì cha mẹ sẽ bị Việt Cộng bắt vô bưng. Quyết định cuối cùng là Trung Úy đó đã báo cho Cục An Ninh Quân Đội biết và một kế hoạch phản gián được giăng ra bắt trọn ổ Việt Cộng nằm vùng ở vùng 4.

2. Chuyện mới sau 1975
Sau năm 1975, Phong Trào Phục Quốc một thời bùng lên trong nước. Ngoài việc đàn áp bắt bớ, Việt Cộng đã tung ra nhiều nhóm Phục Quốc giả để gài bẫy bắt những chiến sĩ phục quốc thật. Chuyện này xẩy ra nhiều lúc và nhiều nơi khắp trong lãnh thổ Miền Nam Việt Nam. Chính vì thế mà nhiều nhóm thật đã bị mắc bẫy và bị bắt giam. Sau khi chương trình đoàn tụ gia đình (ODP) được tiến hành và nhất là sau khi quan hệ ngoại giao Mỹ- Việt Cộng được thiết lập, Việt Cộng lại tìm cách xâm nhập vào khối Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại.

• a. Khoảng năm 1991, một người tại Sài gòn đang làm giấy tờ qua Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình tức là theo chương trình ra đi có trật tự (Orderly Departure Program, viết tắt là ODP). Đang tiến hành giấy tờ thì ông được Sở Công An Thành Phố gọi lên. Nơi đây hỏi ông có muốn đi sớm không? Ông tưởng rằng chúng muốn làm tiền, nên trả lời là muốn nhưng phải hoàn tất “thủ tục đầu tiên” là bao nhiêu. Công An bảo không cần tiền. Họ cần ông hợp tác làm việc. Ông hỏi hợp tác như thế nào? Công An trả lời rất rõ ràng: “Ông qua Mỹ viết cho một tờ báo chống Cộng”. Ông giật mình, trả lời rằng không có khả năng viết lách rồi từ chối khéo để ra về.

• b. Ông TDV trong Lực Lượng X về Việt Nam hoạt động bị Việt Cộng bắt giam khá lâu. Chúng dụ giẫm bảo viết bản kiểm điểm cá nhân rồi sẽ được thả. Thời gian ở tù lâu quá, ông buồn chán và thất vọng, nên đã làm theo chúng, viết bản kiểm điểm rất thành khẩn đến độ nhận lỗi với mọi người từ “cha mẹ, vợ con, bạn bè, gia đình, xã hội…” Không tội lỗi gì mà ông không nhận. Vì nghĩ rằng nhờ đó, ông sẽ được chúng thả. Vả lại viết kiểm điểm chỉ là hồ sơ cá nhân, có liên hệ khác đâu mà lo. Sau khi viết bản kiểm điểm đạt đúng tiêu chỉ chúng đặt ra, thì ông được Công An dẫn ra ngoài ăn uống, chụp hình. Điều ông không ngờ là khi được thả thì các bản kiểm điểm ông viết đã được đăng trên báo Công An, báo Tuổi Trẻ cùng với hình ông đang ăn uống, ngồi bên mấy người đẹp mà Công An bố trí trong tấn tuồng do chúng đạo diễn. Kết luận: Ông là con cua đã bị bẻ gẫy hết càng, hết gọng!

• c. Ông DHH trong Đảng Y (có quốc tịch Hoa Kỳ) cũng về Việt Nam hoạt động bị Việt Cộng bắt nhốt hơn một năm. Ông bị Công an dụ giẫm, tố cáo các đồng chí, viết bản kiểm điểm thành khẩn nhận tội và cam kết làm một số công tác cho Việt Cộng tại hải ngoại sau khi được chúng thả ra. Ông B đã tham gia nhiều đoàn thể và đoàn thể nào có ông là y như có chia rẽ, nội bộ lủng củng.

• d. Ông XVN trong Phong Trào Z về Việt Nam hoạt động bị Công an bắt. Chúng muốn thả với điều kiện nộp tiền chuộc mạng, viết lời cam kết và làm công tác báo chí tại hải ngoại. Trong trại giam, Công an chiếu Video cho ông coi sinh hoạt các Hội đoàn tại hải ngoại và nói: “Anh về hợp tác với chúng tôi. Anh được quyền tự do viết bài đả kích, chửi bới bất cứ ai, bất cứ cơ quan nào, ngoại trừ “Bác Hồ và Đồng chí Tổng Bí Thư”.

• e. Sau 30 tháng 04 năm 1975, khi phong trào vượt biên vượt biển lên cao, Cộng sản Việt Nam đã tổ chức nhiều chuyến vượt biên để làm tiền đồng thời đã gài một số cán bộ trà trộn trong đám người đó để xin tị nạn hầu làm công tác tình báo, giao liên. Ngay trong số những người vượt biên do Việt Cộng tổ chức, đã có những người phải cam kết làm một số công tác chỉ định khi định cư ở nước ngoài. Tất nhiên, Việt Cộng đã dùng nhiều mánh khóe kềm kẹp những người này để họ phải làm công tác, dù rằng họ không phải là Cộng sản nhưng ở thế kẹt, bắt buộc phải làm.

• f. Bà DTPH. cho biết: “Quán Cà phê” kia là của tụi nó đấy. Tụi nó nhờ người đứng tên mở ra để kinh tài, làm ăn. Tụi nó còn một căn nhà “Vãng Lai” ở đường Kird. Bất cứ ai cần đến tá túc đều đuợc tụi nó giúp đỡ. Nó bảo tôi cần xử dụng làm gì thì cứ cho biết, chỉ lấy lệ phí tượng trưng. Sao tụi nó lắm tiền thế?”

3. Những suy tư và thắc mắc
Những câu chuyện có thật nêu trên đã làm người viết và nhiều người suy nghĩ. Chuyện tưởng như đùa mà thật sự đã xẩy ra. Có nhiều người không tin. Nhưng những người có con mắt tình báo thì đó là chuyện thường tình, dù họ không thấy trước mắt. Phần đông dư luận cho rằng chiến tranh Việt Nam đã kết thúc. Đây là cái nhìn về quân sự. Còn về những mặt khác (chính trị, kinh tế, văn hóa) thì trận chiến Quốc-Cộng thật sự chưa chấm dứt. Nó đã biến thể hoặc chuyển sang một hình thức khác, từ quân sự sang chiến tranh chính trị. Quan niệm đấu tranh thường trực của Mao Trạch Đông khai triển từ chủ nghĩa Mác khẳng định điều đó: “Chiến tranh là chính trị đổ máu. Chính trị là chiến tranh không đổ máu.” Còn quan niệm của Chính Phủ Trung Hoa Quốc Gia thì “Chiến tranh Chính trị là sự kết hợp của Lục Đại Chiến. Đó là: Mưu lược chiến, Tư tưởng chiến, Tổ chức chiến, Tâm lý chiến, Tình báo chiến và Quần chúng chiến”. Quan niệm này được du nhập vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thuộc Bộ Tổng Tham Mưu phụ trách.

Trở lại cuộc chiến Quốc- Cộng tại Việt Nam, chúng ta thấy những điểm sau đây:

Cuộc chiến Quốc Cộng vẫn còn tiếp diễn? Cuộc chiến đó truớc đây xẩy ra là do âm mưu xâm lược của Cộng sản Hà Nội qua công cụ bù nhìn của chúng là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Cuộc chiến quân sự Quốc-Cộng đã thật sự chấm dứt ngày 30 tháng 04 năm 1975. Nhưng bây giờ cuộc chiến Quốc-Cộng đó tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức khác giữa bọn cầm quyền Cộng sản Hà Nội và Đại Khối Dân Tộc, cũng gọi là Khối Người Việt Quốc Gia. Nếu như Cộng sản Hà Nội nắm ưu thế trong nước thì Khối Nguời Việt Quốc Gia nắm ưu thế tại Hải Ngoại.

• Những hiện tượng không thể nghi ngờ: Cộng sản Việt Nam trước đây coi những người vượt biên tìm tự do tức Khối Người Việt Hải Ngoại là bọn phản quốc, phản động chạy trốn ra nước ngoài thì nay chúng coi là Khúc Ruột Ngàn Dặm, là Con Bò Sữa làm giàu cho Đất Nước bằng mọi cách phải tranh thủ. Chính vì thế, mà chúng tung ra Nghị Quyết 36 để thực hiện chủ trương xâm nhập và lèo lái. Với việc vận động lập được quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ từ hơn 10 năm nay, cộng thêm với việc du lịch về thăm Quê Hương của đồng bào hải ngoại, Cộng sản Việt Nam có bàn đạp pháp lý và có trớn để tìm cách xâm nhập Khối Người Việt Hải Ngoại. Cộng sản chóp bu đã tìm cách cho con em chúng du học, lập gia đình với Việt kiều, gửi tiền ra nước ngoài, xây dựng cơ sở làm ăn, buôn bán trong nhiều lãnh vực. Cộng sản gửi các đoàn nghệ sĩ ra hải ngoại trong chủ trương giao lưu văn hóa, mời phần tử hoạt đầu, đầu cơ, và các chính khách xa lông về thăm Quê Hương trong chủ trương hòa hợp hòa giải mà thực chất là củng cố chế độ và làm suy yếu tiềm năng đấu tranh của Khối Người Việt Quốc Gia.

• Những hiện tượng đáng nghi: Việc ông bạn ở Sài Gòn được Công An mời lên đề nghị làm thủ tục cho đi sớm với điều kiện “viết cho một tờ báo chống Cộng” là chuyện có thực. Điều đáng nghi là “những tờ báo chống Cộng” nào là của Việt Cộng. Có người nói cho biết “đã chứng kiến tận mắt thấy những tên làm trong Tòa Lãnh Sự Việt Cộng đậu xe ở khu X… rồi đến họp ở tòa soạn báo T… vào lúc 8 giờ tối…” Đáng nghi vì có những tờ báo viết bài chống Cộng đầy mình, nhưng đồng thời lại cũng đang những bài viết đánh phá, chụp mũ lung tung những nhân vật và những hội đoàn Quốc Gia. Theo lập luận của Công An nói cho ông C trong Phong Trào Z nói trên thì “Anh có thể đả kích, phê bình, chửi bới bất cứ ai, bất cứ cơ quan nào ngoại trừ “Bác Hồ và Đồng chí Tổng Bí Thư” có nghĩa là Việt Cộng không quan tâm nhiều về những bài viết chống Cộng của báo chí hải ngoại. Chúng biết Khối Người Việt Hải Ngoại chống Cộng mạnh mẽ, cùng mình. Mà dù cho có viết thêm thì trong nước cũng chẳng mấy ai biết. Nhưng Cộng sản cũng biết sợ và chúng sợ cái gì? Cộng sản có hai cái sợ: sợ (1) Cộng Đồng Người Việt đoàn kết và (2) sợ thần tượng bị sụp đổ.

Cái sợ thứ nhất của chúng là Khối Người Việt Hải Ngoại ĐOÀN KẾT. Cho nên chúng ra sức làm thế nào để cho Khối Người Việt Hải Ngoại CHIA RẼ và đánh nhau loạn xạ. Cách hay nhất là gây mâu thuẫn, chụp mũ, bới móc, bôi bẩn, đả kích, vân vân, nghĩa là làm thế nào trên những tờ báo chống Cộng do Cộng Sản làm chủ trực tiếp hay gián tiếp, xuất hiện những bài báo chống nhau, chống Cộng Đồng, chụp mũ những nhân vật Quốc Gia, các Hội đoàn, Đoàn thể. Việt Cộng dư biết một số nhân vật ở Hải Ngoại khi bị chửi, bị đả kích hay bị bôi bẩn là không dám tham gia hoạt động nữa, tìm cách rút lui. Cộng sản lợi dụng vào nhược điểm đó để cho tay sai viết bài bôi bẩn, chụp mũ đến độ phải rút lui để chúng nhào vô chiếm cứ. Điểm này thì Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận trong bài nói chuyện tại các Giáo Xứ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã khuyên Giáo Dân phải bình tĩnh và dấn thân trong xã hội nhiễu nhương. Nếu mình không dấn thân thì các phần tử xấu sẽ thừa cơ nắm giữ và làm băng hoại xã hội.

Hiện nay, trên các Trang Mạng xuất hiện những Nick ma chuyên viết bài xuyên tạc lịch sử, chia rẽ Tôn giáo để các khôi tín đồ “uýnh nhau” nhằm phân tán lực lượng của Khối Người Việt Quốc Gia. Đó là vấn đề chúng ta cần phải quan tâm và ra sức bẽ gẫy âm mưu xâm nhập phá hoại của Việt Cộng.

Cái sợ thứ hai là sợ thần tượng Hồ Chí Minh và kẻ kế vị bị sụp đổ. Vì như mọi người đều biết chủ nghĩa cộng sản đã sụp đổ trên toàn thế giới, ngay chính tại cái nôi sinh ra nó là Liên Sô. Cho nên để chống đỡ nguy cơ sụp đổ tại Việt Nam, Việt Cộng phải bày ra cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh để làm điểm tựa cuối cùng. Chúng cố tình tô son điểm phấn cho thần tượng Hồ có một tầm vóc tư tưởng khả dĩ làm nền tảng thay cho chủ nghĩa Mác khi chủ nghĩa lỗi thời này bị quăng vào sọt rác của lịch sử. Tất nhiên kẻ kế vị Hồ Chí Minh là những tên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản cũng cần được “thần tượng hóa” để làm điểm tựa giữ chế độ cho vững. Cho nên muốn đánh thắng Cộng sản Việt Nam thì trước hết phải đánh đổ thần tuợng Hồ Chí Minh, sau đó kẻ kế vị Hồ. Trong nước không ai dám công khai động đến Hồ Chí Minh thì hải ngoại tha hồ lột mặt nạ “thần tượng thúi tha này”.

Trở lại nhưng chuyện đánh phá chụp mũ, bôi bẩn ở hải ngoại thì trên thực tế, chúng ta chứng kiến một số tờ báo đã có hành vi y như lập luận của Công An Việt Cộng nghĩa là đăng những bài chống Cộng đồng thời không tiếc tay viết những bài đã kích thậm tệ bất cứ nhân vật quốc gia nào có vẻ “nổi” một chút. Hiện tượng tung tin giả, chụp mũ, bôi bẩn đầy rẫy trên báo chí. Bây giờ thì việc sử dụng Internet phổ biến khá mạnh. Ai có máy Computer đều có thể sử dụng dễ dàng. Có nhiều kẻ gian mang nhiều Nicks khác nhau xuất hiện trên các Diễn Đàn Internets, đánh phá lung tung. Cứ viết nhiều, viết bậy, nhắc đi nhắc lại nhiều lần là có kẻ tin. Điển hình trong hai năm qua, hồi ký chiến tranh Trở Lại Mật Khu Sình Lầy của ông Nguyễn Bửu Thoại là một bằng chứng về hành động phá hoại của kẻ gian. Ông Nguyễn Bửu Thoại chỉ nói đến hiện tượng tiêu cực về chuyện “lăng nhăng của” một anh lính dưới quyền với một cô thôn nữ mà cuối cùng anh lính đã cưới cô làm vợ. Vậy mà kẻ gian và cũng là kẻ thù của ông dựng đứng cho rằng ông Nguyễn Bửu Thoại mạ lỵ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chuyên hiếp dâm. Chuyện tung tin này rất dễ gây xúc động và nếu độc giả chưa từng đọc Trở Lại Mật Khu Sình Lầy thì dễ dàng tin rằng ông Nguyễn Bửu Thoại đã mạ lỵ Quân LụcViệt Nam Cộng Hòa.

Trên thực tế, chúng ta cũng chứng kiến một số phần tử xem ra không làm một việc gì nổi, nhưng hễ những tên này tìm cách len lỏi vào bất cứ hội đoàn nào là y như hội đoàn đó có chuyện lôi thôi. Điển hình là Tổng Hội Thủ Đức và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại thì loạn từ hơn 10 năm nay vì những tranh chấp vô bổ. Nhưng nếu hiểu rõ chuyện ra thì không lấy gì làm lạ cả. Đây là tiếng nói duy nhất của Khối Nguời Việt Quốc Gia trên Diễn Đàn Văn Bút Quốc Tế mà Cộng sản Hà Nội và Hội Nhà Văn của chúng thì không được tham gia chỉ vì chúng không tôn trọng Nhân Quyền và quyền Tự Do Ngôn Luận của người cầm bút. Cho nên chúng phải tìm cách len lỏi, xâm nhập để phá hoại. Đó là Văn. Còn bên Võ, Tổng Hội Thủ Đức là hội quy tụ những cựu Sinh Viên Sĩ Quan của một Quân Trường có tiếng là đào tạo số lượng sĩ quan đông nhất cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong thời kỳ chiến tranh. Cho nên chúng ta cũng không lấy làm lạ khi thấy Tổng Hội đang đà đi lên thì lại có những tranh chấp phá hoại.

Quan sát những buổi lễ sinh hoạt của Cộng Đồng tại nhiều nơi, người ta thường chứng kiến một số người hình như không ở trong Ban Tổ Chức, nhưng lại làm nhiệm vụ quay phim, chụp ảnh. Câu hỏi cần đặt ra là những người này làm gì, cho ai? Cho nên trở lại chuyện ông C trong Phong Trào Z được Công An Việt Cộng cho coi Video về sinh hoạt Cộng Đồng Hải Ngoại thì ta có quyền nghĩ rằng Việt Cộng đã bỏ tiền ra thuê bao một số người, có thể là bọn nằm vùng, gián điệp, những kẻ cần tiền sẵn sàng làm công tác đi chụp hình, quay Video cho chúng mọi sinh hoạt của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại. Chỉ cần một số tiền nhỏ và dụng cụ quay phim là “kẻ làm công” có thể thực hiện dễ dàng công việc thuê mướn. Cách đây mấy năm, người viết được đọc một số báo của Việt Cộng từ một ông bạn có người nhà về ViệtNam. Tờ báo đó đã viết bài với đầy đủ chi tiết đả kích một số nhân vật tên tuổi hoạt động tại San Jose là những tên “ăn trợ cấp của Mỹ”. Buồn cười là tác giả viết những bài báo này không biết gì sinh hoạt của xã hội Mỹ mà dám viết bừa viết bậy. Tất nhiên là những nhân vật bị báo Việt Cộng đả kích đã có một số chất liệu do tay sai nằm vùng thâu thập và cung cấp.

• Những điều không thấy nhưng vẫn phải nhận là có thực: Người viết muốn nói đến chuyện tình báo, gián điệp. Bọn làm công tác gián điệp, tình báo luôn được huấn luyện kỹ càng về kỹ thuật công tác. Chúng xâm nhập rất hay, ngụy trang rất khéo, tổ chức rất giỏi, và phá hoại cũng rất kinh hồn. Bình thường chẳng mấy ai biết chúng. Nhưng các chính phủ nào cũng có cơ quan chuyên môn về tình báo để theo dõi, khám phá. Rồi khi khám phá ra kẻ phá hoại, những tên gián điệp được công bố tên tuổi thì lúc ấy chuyện đã đổ bể hay lộ tẩy thì quần chúng mới hay mới biết. Hãy nói về các nhân viên ngoại giao của bất cứ chính phủ nào thường đều là những nhân viên tình báo. Chuyện chẳng đâu xa, trường hợp Đinh Bá Thi đại diện của Cộng sản Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và David Trương Đình Hùng (con trai LS. Trương Đình Dzu) bị chính quyền Mỹ bắt quả tang tội làm gián điệp hồi năm 1977. David Trương Đình Hùng bị tống giam còn Đinh Bá Thi bị trục xuất. Lúc ấy, người viết còn ở Việt Nam thấy dư luận xôn xao làm cho Việt Cộng bẽ mặt. Cái tin Đinh Bá Thi bị trục xuất đã làm người trong nước nghĩ thầm rằng: “Tên này khôn thì tìm cách trốn đi hoặc đầu hàng Mỹ. Ngu thì cứ về Việt Nam.” Quả nhiên là đúng, sau khi về Việt Nam được mấy tháng, có tin Đinh Bá Thi bị xe đụng chết tại Tuyên Đức.

Công tác xâm nhập phá hoại Cộng đồng người Việt Hải Ngoại hiện nay do Tổng Cục Phản Gián/Cục Đối Ngoại của Hà Nội phụ trách với ngân khoản cả hàng trăm triệu Dollars mỗi năm. Tổng Cục Phản gián do tên tướng Nguyễn Chí Vịnh cầm đầu. Nguyễn Chí Vịnh là con tướng VC Nguyễn Chí Thanh (bị B 52 ném bom chết trong chiến trường miền Nam năm 1967). Khi thực hiện kế hoạch xâm nhập phá hoại, Việt Cộng sẽ dùng đủ mọi phương tiện, mọi thủ đoạn: Tiền bạc (Dollars), gái đẹp, thân nhân… Điều này dễ hiểu như đã nói trên. Nhưng biết như vậy mà vẫn có thể mắc mưu.

Cũng cần phải nói thêm về ngành tình báo của Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến cũng đã tạo được biết bao thành tích. Nếu như Việt Cộng đã cài được nhiều ổ gián điệp vào trong Chính Quyền và Quân Đội mà điển hình là trường Sĩ Quan Thủ Đức thì nguợc lại phía Việt Nam Cộng Hòa cũng cài ngược lại vào nội bộ của Việt Cộng, thế nên bao nhiêu cơ sở gián điệp của Việt Cộng bị tóm trọn ổ. Từ Phong Trào Tố Cộng đến Quốc Sách Ấp Chiến Lược, rồi đến Chiến Dịch Phượng Hoàng, bao nhiêu ổ Việt Cộng bị phanh phui. Nhân đây cũng phải khen sư đoàn 5 Bộ Binh một lần vì đã bắt được Nam Công, nhân vật thứ 8 của Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam). Rồi Việt Nam Cộng Hòa còn bắt được vợ của Trần Bạch Đằng nhốt trong Tổng Nha Cảnh sát Quốc Gia. Sau biến cố Mậu Thân 1968, Mỹ mượn vợ Trần Bạch Đằng để khai thác, nhưng rồi đem đổi lấy tù binh Mỹ bị Việt Cộng bắt. Sau ngày 30.04.1975, vợ Trần Bạch Đằng được chức Thứ Truởng Tư Pháp đặc trách Miền Nam, một chức vụ bù nhìn làm kiểng, chớ vợ Trần Bạch Đằng thì dốt đặc cán mai biết gì luật lệ với tư pháp. Chính Trần Bạch Đằng cũng thú nhận trong cuốn Kẻ Sĩ Gia Định rằng y chút nữa cũng bị thộp cổ. May mà y ngâm mình dưới nước trong một bụi cỏ trên sông mà thoát. Rồi đến Phạm Thị Yến, một dược sĩ là vợ của Trần Bửu Kiếm (Trung Ương Cục Miền Nam) cũng bị Việt Nam Cộng Hòa bắt nhốt ở Trung Tâm Cải Huấn Thủ Đức. Sau Mỹ lại mượn khai thác và trả cho Việt Cộng. Nhưng có lẽ cũng vì thế mà sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trần Bửu Kiếm bị nghi ngờ và chìm luôn.

Trở lại Cộng đồng Người Việt tại Hoa Kỳ hiện nay là đối tượng quan trọng của Cộng sản Việt Nam. Đương nhiên là chúng phải tìm mọi cách len lỏi xâm nhập vào trong mọi lãnh vực, mọi hoạt động. Các đoàn thể ái hữu là dễ dàng nhất. Ngay đến các đoàn thể chính trị, chúng vẫn có thể xâm nhập dễ dàng. Lý do là vì tổ chức lỏng lẻo, kết nạp đoàn viên bừa bãi, chỉ cần số đông. Mặt khác, người ta có quyền nghi ngờ một số đoàn thể mà dư luận cho rằng “chống Cộng giả”. Những đoàn thể đó có thể do chính Việt Cộng nằm vùng tổ chức, cũng có thể do người Việt quốc gia tổ chức rồi bọn cán bộ nằm vùng xâm nhập, lèo lái, rồi nhẩy lên nắm lấy vai trò lãnh đạo.

Một sự kiện nữa là trong buổi giao thời, bao giờ cũng xuất hiện bọn “đón gió trở cờ”, bọn hoạt đầu chính trị, bọn cơ hội chủ nghĩa, vân vân. Vì không có lập trường vững chắc, nhất là không có khả năng tổ chức mà chỉ ham lợi lộc, chức quyền, nên bọn người này rất dễ dàng tự nguyện làm tay sai cho giặc. Như tình hình hiện nay, bọn đón gió trở cờ đang âm thầm hoạt động để may ra Việt Cộng “bố thí” cho chút cơm thừa canh cặn. Thật là ngu xuẩn khi bọn người này đi đêm với Cộng sản mà không biết rằng “không có thực lực mà xin nói chuyện với chúng thì chỉ có khả năng làm tay sai” mà thôi.

Câu hỏi đặt ra là tại sao những đoàn thể chính trị mon men về biên giới dễ dàng bị chúng tóm trọn ổ? Câu trả lời không khó vì cái tật ồn ào phô trương “lạy ông tôi ở bụi này” của một số đoàn thể đấu tranh. Ngoài ra, Thái Lan là đất chứa đầy thứ tình báo, trong đó dại gì mà Việt Cộng không có. Bây giờ chuyện đi lại giữa Hoa Kỳ- Việt Nam quá dễ dàng, những quan hệ hôn nhân, buôn bán, đổi tiền, vân vân là cửa ngõ để chúng xâm nhập. Tất nhiên là Mỹ dư biết và họ có đường lối xử sự riêng của họ. Còn khối Người Việt Quốc Gia thì chúng ta đối phó ra sao?

Tạm kết luận:

Chuyện Việt Cộng xâm nhập phá hoại là điều hiển nhiên. Nhưng muốn phát hiện sự xâm nhập của chúng thì phải có cái nhìn về tình báo và để tâm theo dõi. Ai lãnh nhiệm vụ này, tất nhiên là các đoàn thể đấu tranh phải đi tiên phong, sau đến mọi đoàn thể người Việt quốc gia ở hải ngoại. Kẻ thù thì làm việc 24 trên 24 và có nhiều phương tiện với ngân khoản cả hằng trăm triệu Dollars. Còn các đoàn thể mình thì đấu tranh theo kiểu cuối tuần (Weekend). Trận chiến tuy không đổ máu những cũng khốc liệt không kém. Phải làm sao đây? Tất nhiên ngoài công cuộc xây dựng, đoàn kết thì các đoàn thể đấu tranh phải tích cực hơn trong mọi lãnh vực. Ngay những hội đoàn ái hữu, nếu chịu dấn thân xa hơn mục tiêu ái hữu thì sẽ mang lại nhiều hiệu quả hơn. Và có lẽ đã đến lúc chúng ta nên làm một cuộc tổng kiểm kê lại mọi thành quả và thất bại của 30 năm lưu vong để biết vị thế và tương quan Địch-Ta như thế nào. Nhìn đúng thực trạng, thấy rõ nhu cầu, mới có thể tìm ra phương pháp hay sách lược đấu tranh hữu hiệu.

San Jose ngày 08 tháng 09 năm 2006
Phạm Quang Trình

Đem cả Hạm đội TBD đến Triều Tiên,…. Mỹ đang toan tính gì….?

Đem cả Hạm đội TBD đến Triều Tiên,…. Mỹ đang toan tính gì….?SOFREP_News_Background-v01Mỹ đang toan tính gì….?

Trong cuối tháng này Bán đảo Triều Tiên sẽ tràn ngập tàu chiến Mỹ khi có tới hai biên đội tác chiến tàu sân bay thuộc Hạm đội Thái Bình Dương được triển khai trong khu vực. Và đây luôn được xem là điềm báo trước cho một hành động quân sự đơn phương hoặc là giới hạn cuối cùng cho sự kiên nhẫn của Washington đối với Bình Nhưỡng. Nguồn ảnh: Asia Times.

Chỉ tính riêng quân số và thủy thủ đoàn trên hai tàu sân bay hạt nhân lớp NimitzUSS Theodore Roosevelt cùng USS Ronald Reagan mà Mỹ sẽ và đang triển khai tại Bán đảo Triều Tiên đã lên tới hơn 10.000 người, con số này chưa bao gồm biên đội tàu chiến đi cùng chúng. Nguồn ảnh: The Japan Times.

Dù Hải quân Mỹ tuyên bố nhiệm vụ của hai tàu sân bay này trong khu vực là hoàn toàn khác nhau nhưng ai cũng hiểu rằng Washington đang muốn chứng minh cho Triều Tiên thấy rằng họ không đơn giản là chỉ là dọa miệng mà sẵn sàng hành động nếu như Bình Nhưỡng tiếp tục các hành động khiêu khích như thời gian gần đây. Nguồn ảnh: Navy Live.

Một diễn biến khác vào đầu tháng này, Hạm đội Thái Bình Dương cũng sẽ triển khai hai tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Michigan và USS Tucson đến Hàn Quốc và chúng sẽ neo đậu ở cảng Busan, nơi từng là chiến tuyến cuối cùng của Quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Triều Tiên 1950. Nguồn ảnh: National Interest. Với quy mô và trạng thái binh lực của Mỹ tại Bán đảo Triều Tiên cũng như ở Đông Bắc Á hiện tại dư luận đang đặt ra câu hỏi rằng Mỹ thực sự đang toán tính điều gì?

Bởi với những gì họ đang làm chỉ càng khiến Bình Nhưỡng nổi giận hơn là vãn hồi tình hình để có thể đi đến hòa giải tạm thời.

Nguồn ảnh: Wikimedia. Có lẽ hôm 10/10, cả Mỹ và các đồng minh ở Đông Bắc Á đều đã ngồi đợi Triều Tiên phóng thử tên lửa nhân kỷ niệm 72 năm ngày thành lập Đảng Lao động Triều Tiên, tuy nhiên chẳng có gì xảy ra và họ cũng chẳng thể tìm ra được một cái cớ nào đó để có thể trừng phạt thêm đối với Triều Tiên. Nguồn ảnh: jalopnik.com. Do đó với những gì đang diễn ra hiện tại rất có khả năng Washington đang muốn duy trì thường trực ở Đông Bắc Á và đặc biệt là gần Bán đảo Triều Tiên hai biên đội tác chiến tàu sân bay như họ từng thường làm vài năm trước.

Thay vì chỉ một biên đội tàu sân bay luân phiên nhau như hiện nay. Nguồn ảnh: twitter.com. Cũng không loại trừ khả năng, Mỹ sẽ triển khai vũ khí hạt nhân chiến thuật trên các tàu sân bay này nhằm duy trì khả năng răn đe Bình Nhưỡng trước mọi hành động quá khích. Hai tàu sân bay hạt nhân và hai tàu ngầm tấn công hạt nhân là quá đủ để Mỹ khơi mào một cuộc chiến tranh tổng lực trên Bán đảo Triều Tiên.

Nguồn ảnh: YouTube. Trong bối cảnh khủng hoảng trên Bán đảo Triều Tiên hiện tại rất khó để nói trước được rằng điều gì sẽ xảy ra khi các bên liên quan đều không có dấu hiệu xuống nước leo thang. Dù nói nguy cơ chiến tranh nổ ra là cực kỳ thấp nhưng cũng không phải là không có khả năng và lúc này chỉ cần một mồi lửa nhỏ thì cả Bán đảo Triều Tiên sẽ một lần nữa bị thiêu rụi hoàn toàn bởi lửa chiến tranh.

Nguồn ảnh: defensesystems.com. Theo nhận định của nhiều chuyên gia phân tích quân sự, khả năng Mỹ hay Triều Tiên tự phát động chiến tranh là cực kỳ thấp không phải họ không đủ khả năng mà vì hệ quả mà cuộc chiến này có thể gây ra là cực kỳ tàn khốc, khi tất cả các bên đều sẽ thiệt hại nặng nề không chỉ Hàn Quốc và Triều Tiên mà cả các quốc gia trong khu vực. Nguồn ảnh: Sputnik..

Nhưng Mỹ cũng không muốn Triều Tiên quá tự tin vào khả năng quân sự của mình để rồi sau này họ ưa làm gì cũng được, và gần một nữa Hạm đội Thái Bình Dương tại Đông Bắc Á có lẽ là quá đủ để Mỹ ngăn chặn mọi nguy cơ từ Triều Tiên cũng như làm giảm bớt các hành động khiêu khích trong khu vực.

Nguồn ảnh: sofrep.com. Hy vọng hành động chuyển quân mang tính chiến lược này của Mỹ sẽ giúp làm giảm bớt tình hình căng thẳng trên Bán đảo Triều Tiên thay vì khiến nó trở nên phức tạp thêm trong thời gian sắp tới, khi Hải quân Mỹ hoàn tất việc triển khai hai biên đội tác chiến tàu sân bay đến khu vực này.

Nobel nào cho Việt Nam? — Nhận thức là một quá trình…

Phùng Hoài Ngọc (VNTB) – Viện Nobel Na uy hồi ấy tưởng lầm Hiệp định hoà bình Paris 1973 sẽ đem lại Hoà bình cho Việt Nam và nhiều nước liên quan nên đã trao nhầm Giải cho hai ông. Ai học được chữ ngờ!

via Nobel nào cho Việt Nam? — Nhận thức là một quá trình…