Người Nhái Hải Quân VNCH

Người Nhái Hải Quân VNCH

https://bienxua.files.wordpress.com/2016/06/huy-hieu-lien-doan-nguoi-nhai-4.jpg?w=187&h=186

Người Nhái VNCH

Nói về các hoạt động và chiến tích của lực lượng Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Đây là đơn vị đặc nhiệm thực hiện các cuộc đột kích, xâm nhập vào Bắc Việt bằng các cuộc đổ bộ bằng đường thủy. Ngoài đơn vị này, Quân Lực VNCH còn có lực lượng Người Nhái thuộc quân chủng Hải Quân (HQ) đảm nhiệm các công tác vô cùng nguy hiểm qua các hoạt động trong lòng địch như phá hoại chiến hạm Bắc Việt, xâm nhập các mật khu Cộng quân, vô hiệu hóa hoạt động đặc công thủy của đối phương, bảo vệ sự an toàn cho các tàu bè của VNCH và lực lượng đồng minh.

Sau đây là tiến trình hoạt động và chiến sử của lực lượng Người Nhái Hải Quân VNCH, được biên soạn dựa theo tài liệu của Khối Quân sử Phòng 5/Bộ Tổng tham Mưu Quân Lực VNCH, chiến sử của Hải Quân VNCH và bài viết của cựu Người Nhái Lê Quán (anh là người tham dự khóa huấn luyện khóa Người Nhái đầu tiên ở Đài Loan) được phổ biến trong tạp chí KBC.

https://bienxua.files.wordpress.com/2016/11/bo-chi-huy-lien-doan-nguoi-nhai-hqvnch.jpg?w=659&h=459

Tiến Trình Hình Thành Của Đơn Vị Người Nhái

Vào tháng 7/1960, Việt Nam Cộng Hòa gửi một toán 16 quân nhân gồm 2 sĩ quan, 14 hạ sĩ quan và đoàn viên sang Đài Loan tham dự khóa huấn luyện Người Nhái, trong số đó có 8 người thuộc quân chủng Hải Quân, 5 người thuộc lực lượng Bảo An (Địa Phương Quân), 3 người thuộc Lực Lượng Đặc Biệt. Sau 5 tháng huấn luyện, có 14 người trúng tuyển kỳ thi mãn khóa, 2 người rớt vì yếu thể lực. Hai tháng sau khi toán Người Nhái mãn khóa ở Đài Loan về, Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH tổ chức một cuộc thao diễn ở Vũng Tàu để Tổng Thống Ngô Đình Diệm duyệt khán. Báo chí lúc đó đã loan tin, tường thuật đầy đủ về cuộc biểu diễn nàỵ

Vào thời gian này, mặc dù Hải Quân Hoa Kỳ chưa chấp thuận huấn luyện Người Nhái cho Hải Quân VNCH, nhưng sau khi biết được có một số quân nhân VNCH đã được huấn luyện tại Đài Loan thì họ khai thác ngay. Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hoa Kỳ đã gửi chuyên viên và dụng cụ Người Nhái từ Hoa Kỳ sang để huấn luyện bổ túc cho 8 quân hân Người Nhái của Hải Quân VNCH và 3 Người Nhái của Lực Lượng Đặc Biệt VNCH trong thời gian hai tháng tại Nha Trang. Mục đích của cuộc huấn luyện này là đào tạo các cảm tử quân Người Nhái về cách thức đột kích phá hoại các chiến hạm của Bắc Việt tại miền Bắc.

Chuyến Đột Kích Phá Tàu Bắc Việt Ở Hòn Cọp

Chuyến công tác đầu tiên là toán Người Nhái bí mật đột kích phá hoại tàu của quân Bắc Việt ở Hòn Cọp. Toán được chia làm 2 tổ, mỗi tổ hai người. Tổ thứ nhất có 2 cảm tử quân thuộc quân chủng Hải Quân là hai chiến binh Lê Văn Kinh và Nguyễn Hữu Thảo, tổ thứ 2 là hai chiến binh Nguyễn Văn Tâm và Lê Văn Chuyên. Cả hai tổ xuất phát từ Đà Nẵng bằng ghe của Hải Thuyền trong một đêm trời tối. Ghe chở toán cảm tử quân vượt qua Bến Hải tiến tới Hòn Cọp với dụng cụ lặn và mìn từ tính nổ chậm.

Trong khi đặt mìn vào tàu của Bắc Việt, không hiểu vì lý do gì mìn nổ quá sớm trong khi các Người Nhái đang trên đường lội ra khơi để rút lui. Vì thế mà cả toán bị địch phát giác. Anh Lê Văn Kinh bị bắt, 3 cảm tử quân còn lại kiên quyết không đầu hàng và bắn vào quân Bắc Việt sau đó đã bị hạ sát tại trận. Anh Lê Văn Kinh bị tòa án Cộng Sản xử khổ sai chung thân. ( Theo tài liệu của ông Lê Quán, anh Lê Văn Kinh được Cộng Sản thả vào năm 1980 và trở về miền Nam với một chân bị tàn tật vì bị tra tấn bằng điện ).

Năm 1961, đội Người Nhái của Hải Quân VNCH với sự hợp tác của đơn vị Người Nhái Hải Quân Hoa Kỳ đã tổ chức một khóa huấn luyện Biệt hải tại Đà Nẵng với 35 khóa sinh. Từ năm 1965 đến 1968, Hải Quân VNCH đã tổ chức 3 khóa huấn luyện Người Nhái tại Nha Trang : khóa 1 có 41 khóa sinh, tất cả đều tốt nghiệp, khóa 2 có 48 khóa sinh tốt nghiệp, khóa 3 có 45 người tốt nghiệp. Sau đó, các khóa 4, 5 và 6 được tổ chức tại Cam Ranh với tổng số khóa sinh thụ huấn khoảng 150 người

Năm 1968, Hoa Kỳ đã yểm trợ cho Hải Quân VNCH trong kế hoạch gửi sĩ quan và nhân viên đến Hoa Kỳ và Phi Luật Tân để theo học các khóa như Trục Vớt (salvage) chuyên vớt các tàu chìm, khóa Tháo Gỡ Chất Nổ ( Explosive Ordenance Disposal, gọi tắt là EOD ) chuyên tháo gỡ chất nổ và bảo vệ các chiến hạm đậu và neo trong các sông rạch ở ngoài khơi, chống đặc công thủy của Cộng quân đặt mìn phá hoại, khóa Underwater Demolition Team ( UDT ) chuyên phá hủy các chương ngại vật tại các bờ biển và hải cảng cũng như đặt mìn phá tàu địch quân.

Năm 1970, lực lượng Người Nhái gia tăng quân số nhưng thiếu hụt sĩ quan nên Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH chấp thuận cho ban chỉ huy lực lượng Người Nhái đến Trường Bộ Binh Thủ Đức để tuyển mộ Sĩ quan, có 20 người được chọn, tất cả được gửi đến Trường Sinh Ngữ Quân Đội để học tiếng Anh và sau đó được Hải Quân Hoa Kỳ gửi sang Mỹ thụ huấn khóa đặc biệt Người Nhái. Trong số 20 sĩ quan theo học, có 11 tốt nghiệp và sau khi trở về Việt Nam chiến đấu một thời gian, hơn một nửa đã tử trận.

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2016/12/nguoi-nhai-huan-luyen-cheo-thuyen.jpg?w=655&h=442

Liên Đoàn Người Nhái Trong Giai Đoạn Từ 1970 – 1975

Cũng trong năm 1970, Liên Đội Người Nhái được đổi thành Liên Đoàn Người Nhái với 3 đơn vị cơ hữu: đơn vị Hải Kích, đơn vị Tháo Gỡ Chất Nổ, đơn vị Trục Vớt, mỗi đơn vị được giao trách nhiệm thực hiện các công tác theo ngành chuyên môn riêng biệt.

Đơn vị Hải Kích chuyên về đột kích bất thần vào các sào huyệt của địch quân. Các cảm tử quân Hải Kích đã tấn công chớp nhoáng vào các mật khu của địch, nhất là trong lúc có các buổi họp mặt của các cán bộ cao cấp của Cộng quân. Ngoài ra, trong nhiều chuyến công tác, các toán Hải kích tấn công vào trại giam của Cộng quân để giải thoát tù binh. Trong khi hoạt động trong lòng địch, các cảm tử quân Hải Kích đều ngụy trang với quần áo bà ba đen, đội nón cối, đi dép Bình Trị Thiên, trang bị súng AK- 47 y hệt như cán binh Việt Cộng. Nhiều lần, họ đã len lỏi vào hàng ngũ địch mà đối phương không biết. Và cũng đã nhiều lần, các toán Hải Kích đã bí mật đột kích lãnh thổ miền Bắc bằng xuồng cao su và bơi từ ngoài khơi vào bờ.

Tại Nam phần, do địa thế có nhiều sông rạch nên đặc công thủy của Cộng quân luôn tìm cách làm tắc nghẹn thủy lộ, cản trở sự lưu thông bằng đường thủy bằng cách đánh chìm tàu bè của các giang đoàn Hải Quân VNCH. Vì vậy mỗi lần có tàu chìm là các toán của đơn vị Trục Vớt được điều động khẩn cấp đến để giải tỏa lưu thông. Đơn vị này đòi hỏi cấp chỉ huy phải giỏi tính toán, thông thạo kỹ thuật và có nhiều kinh nghiệm.

Từ năm 1968 cho tới khi cuộc chiến kết thúc, Bắc Việt tăng cường phá hoại bằng cách thả đặc công thủy lặn dưới nước đột kích phá hoại các tàu bè VNCH và Đồng Minh neo và đậu tại các bến. Để chận đứng các hoạt động đặc công thủy của Cộng quân, đơn vị Tháo Gỡ Chất Nổ đã hoạt động rất hữu hiệu trong nỗ lực chống lại Người Nhái của đối phương. Các toán của đơn vị này đã bắt sống và tiêu diệt nhiều Đặc Công Thủy Việt Cộng và tháo gỡ nhiều quả mìn nổ chậm do các toán đặc công thủy của Cộng quân đặt vào tàu bè VNCH và đồng minh.

https://bienxua.files.wordpress.com/2016/06/cac-chien-si-lien-doan-nguoi-nhai-dien-hanh-ngay-quan-luc-19-thang-6-nam-1973.jpg?w=668&h=441

Chặng Đường Chiến Binh Của Người Nhái

Để trở thành một Người Nhái, chiến binh phải có sức khỏe thật tốt để chịu đựng suốt 18 tuần lễ huấn luyện về cơ thể và tinh thần, phải lội được ít nhất phải 2 hải lý (Mỗi hải lý gồm 1,852 mét). Những môn huấn luyện chính thức gồm có bơi lội, thể dục, chạy bộ, cận chiến, nhảy dù, đặt chất nổ, thám sát bờ biển và phá hủy chướng ngại vật, đột kích, chèo thuyền cao su, và lặn sâu 130 bộ Anh. Trong 18 tuần lễ huấn luyện đặc biệt có một tuần lễ mệnh danh là tuần lễ địa ngục, tuần lễ này là tuần lễ thứ ba và bắt đầu từ 8 giờ sáng thứ Hai và chấm dứt vào 4 giờ chiều thứ Sáu.

Suốt cả tuần lễ khóa sinh được ăn nhưng không được ngủ. Suốt ngày bị bắt buộc chạy bộ, bơi lội, chèo thuyền. Huấn luyện viên “quấy rầy và hành hạ” thân thể khóa sinh tới mức tối đa. Suốt cả tuần lễ mặc dầu các khóa sinh được cho ăn nhưng không ai ăn uống gì được cả vì quá mệt mỏi, mỗi bữa ăn chỉ ăn được vài miếng mà thôi, phần nhiều khóa sinh chỉ lấy múi cam hay chanh để bỏ vào miệng ngậm cho đỡ khát rồi mau rời bàn ăn để tìm chỗ ngả lưng một lúc. Nhưng khi vừa nằm xuống chưa đầy một phút thì nghe tiếng còi ré lên và phải chạy ngay đến chỗ tập họp, nếu đến trễ phải bị phạt ít nhất là 50 cái hít đất. Nội trong tuần lễ này có từ 50 đến 60% khóa sinh bị loại vì không chịu nổi.

Trong suốt cuộc chiến, số thương vong, tử trận của Liên Đoàn Người Nhái lúc nào cũng cao so với số khóa sinh tốt nghiệp. Do đó, không thể có đủ số khóa sinh để cung cấp, bổ sung cho các đơn vị đang thiếu hụt quân số. Việc đào tạo Người Nhái càng ngày càng khó khăn vì sự nguy hiểm của công tác và sự đòi hỏi quá nhiều yếu tố trong huấn luyện. Do đó, trong các khóa huấn luyện sau này, số người tình nguyện ít hơn so với các khóa đầu. Từ khi thành lập cho đến khi cuộc chiến kết thúc, có đến 60% Người Nhái hy sinh, trong số những người còn sống, có 1/3 được di tản sang Hoa Kỳ.

Chính Nghỉa

Advertisements

TIN MỚI NHẤT VỀ BÁC SĨ HỒ HẢI do em trai bác sĩ thông báo sau khi đi thăm gặp

TIN MỚI NHẤT VỀ BÁC SĨ HỒ HẢI
do em trai bác sĩ thông báo sau khi đi thăm gặp
– Bác sĩ Hồ Hải ra toà không có luật sư , anh ngang nhiên và đầy hào khí khi đứng trước bọn cộng sản . Ngay cả yêu cầu phải xưng hô thưa toà , bị cáo anh cũng không sử dụng và phải bị nhắc nhở liên tục . Chúng hỏi anh có thấy đó là hành vi cấu thành tội phạm không, anh trả lời rằng “Tất cả những người yêu nước đều có tội với các ông ! ”

⁃ Sau khi kêu án , bác sĩ Hồ Hải đã nở nụ cười khinh bỉ và gương mặt đanh lại kiêu hãnh trước tà quyền cộng sản .

⁃ Ban đầu anh chẳng thèm kháng án và xem như cuộc dạo chơi trong chốn địa ngục bởi biết với bọn chúng thì bên ngoài hay bên trong có gì khác biệt .

Tuy nhiên, Mẹ bác sĩ đồng ý cho bác sĩ kháng án , đồng ý mướn luật sư với ý chỉ duy nhất là thông qua người luật sư đó thông tin cho thế giới biết thêm về cộng sản. Bà đã gõ cửa đại sứ quán Mỹ và phía Mỹ đã có thư phản đối phiên toàn và yêu cầu được tái xét xử với sự tham dự của họ. Bà kêu tới các tổ chức nhân quyền thế giới can thiệp vì con bà là bác sĩ chỉ giúp đời và thực hành mục đích khai sáng cho lớp trẻ trong cái xã hội bưng bít này với trách nhiệm của một Trí Thức sống trong xã hội cộng sản . Và hơn hết bà đã chính thức mở toang cánh cửa kêu gọi cộng đồng khắp nơi hãy giúp bà đánh động lương tâm loài người dẫu biết rằng chúng có thể tăng ác hơn với con mình Bác sĩ Hồ Hải ( nói rõ các bạn biết anh Hải rất có hiếu với Mẹ nên từ nào giờ bà nói gì anh không dám cãi, nay tự bà quyết định nên anh cảm thấy rất an lòng).

⁃ Trước khi ra toà một thời gian chúng rất tàn bạo khi nhốt anh ở khu trại giam tử tù nhằm khủng bố tinh thần của anh và hù dọa anh nếu phản kháng chúng có thể nhốt lại nơi này trước khi ra toà . Anh đã xem là cuộc dạo chơi dưới địa ngục thì có chi đáng sợ !

#Theo Fb Hoang Son Dinh Nguyen: “:Đây là những Thông tin mới nhất tôi nhận được và được phép của gia đình công bố công khai cùng toàn thể các bạn và dư luận
⁃ Được biết phía Mỹ đã đưa tên anh cùng ba người tù bị xử ở Hà Nội là Vũ Quang Thuận , Trần Hoàng Phúc và Nguyễn văn Điển vào nghị trình trong buổi đối thoại Nhân Quyền sắp tới với VN và yêu cầu trả Tự do vô điều kiện cho họ.
⁃ Trên tinh thần đó tôi thành tâm kêu gọi tất cả những ai còn có lương tri hãy đồng loạt gióng tiếng nói về vị bác sĩ và ba người tù nhân vì nói tiếng nói Tự do cùng các anh chị em đang ở trong ngục tù cs, cùng tất cả những ai đã tranh đấu cho một Việt Nam thực sự Tự Do Dân Chủ .”

https://www.facebook.com/kha.ngu.1/posts/1081382418668415

Nhạc sĩ Việt Khang, cựu tù nhân lương tâm và là tác giả các bài hát nổi tiếng như “Anh Là Ai,” “Việt Nam Tôi Đâu,” “Trả Lại Cho Dân,” đã rời Việt Nam sáng Thứ Năm, 8 Tháng Hai

 

Nhạc sĩ Việt Nam sẽ đến phi trường Los Angeles trưa Thứ Năm

Nhạc sĩ Việt Khang, cựu tù nhân lương tâm và là tác giả các bài hát nổi tiếng như “Anh Là Ai,” “Việt Nam Tôi Đâu,” “Trả Lại Cho Dân,” đã rời Việt Nam sáng Thứ Năm, 8 Tháng Hai
LOS ANGELES, California (NV) – Nhạc sĩ Việt Khang, cựu tù nhân lương tâm và là tác giả các bài hát nổi tiếng như “Anh Là Ai,” “Việt Nam Tôi Đâu,” “Trả Lại Cho Dân,” đã rời Việt Nam sáng Thứ Năm, 8 Tháng Hai (theo giờ Việt Nam) và đang trên đường đến Los Angeles, nhờ sự can thiệp của chính phủ Mỹ, theo bản tin đài truyền hình SBTN.

“Việc nhạc sĩ Việt Khang được sang định cư tại Hoa Kỳ là kết quả của một quá trình can thiệp lâu dài của chính quyền Mỹ và nhiều tổ chức quốc tế đối với chính quyền CSVN, trong đó, đặc biệt phải nhắc đến Thượng Nghị Sĩ John McCain, người đã trực tiếp can thiệp, nêu trường hợp của nhạc sĩ này với chính phủ Hoa Kỳ khi làm việc với CSVN,” theo bản tin.

Thượng Nghị Sĩ John McCain (Cộng Hòa-Arizona), hiện là chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện, là một người có tiếng nói rất uy tín tại Quốc Hội và là người nhiều lần đến thăm Việt Nam cổ vũ bang giao hai nước.

Bản tin cho biết thêm: “Tự do cho Việt Khang cũng là thành quả của công cuộc đấu tranh chung của cộng đồng hải ngoại, do đài truyền hình SBTN khởi xướng vào năm 2012, qua chiến dịch ký thỉnh nguyện thư gởi Tòa Bạch Ốc.”

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài SBTN, nói: “Khi hay tin, tôi cảm thấy tất cả gánh nặng trên đôi vai mình giảm bớt rất nhiều.”

Nhạc sĩ Trúc Hồ cũng cho biết tin Việt Khang rời Việt Nam được chính quyền Mỹ xác nhận với đài SBTN.

Theo bản tin của SBTN, nhạc sĩ Việt Khang đi chuyến bay số CI 0782 của China Airlines rời phi trường Tân Sơn Nhất lúc 11 giờ 5 phút sáng, và theo dự trù, anh sẽ đến Đài Bắc vào lúc 3 giờ 20 phút chiều (giờ Đài Loan) trong cùng ngày Thứ Năm. Sau đó, nhạc sĩ Việt Khang sẽ đi chuyến bay số CI 0006, cũng của China Airlines, đến phi trường Los Angeles lúc 12 giờ 40 phút trưa Thứ Năm (giờ California).

Nhạc sĩ Việt Khang tên thật là Võ Minh Trí, sinh năm 1978 tại Tiền Giang, bị chính quyền CSVN bắt vào cuối năm 2011, và bị kết án 4 năm tù vào ngày 30 Tháng Mười, 2012. Anh được trả tự do vào ngày 14 Tháng Mười Hai, 2015, và bị quản chế hai năm.

Cả ba ca khúc “Anh Là Ai?,” “Việt Nam Tôi Đâu,” và “Trả Lại Cho Dân” rất nổi tiếng, thường đường đồng bào hải ngoại hát tại các cuộc tập hợp đấu tranh chính trị.
https://www.nguoi-viet.com/hoa-…/nhac-si-viet-khang-tac-gia/

BÁU VẬT 

BÁU VẬT 

http://daichung10.blogspot.com/2017/08/tt-iv-33q.html

 “Dọc đường lịch sử nhân loại, có rất nhiều báu vật bị người đời, vô tình hay hữu ý, lỡ bỏ đi, lỡ đánh rơi, đã chìm trong quên lãng. Kẻ nào muốn có ngọc , chỉ cần dò tìm lại chúng, nhặt lên, đánh bóng…” NTT   

“Sách là nguồn của cải quý báu của thế giới và là di sản xứng đáng của các thế hệ và các quốc gia.”

Henry David Thoreau

“Khi họ đốt sách thì chính là họ cũng đang đốt cả loài người.”

Heinrich Heine

“Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng.

 Chẳng bằng kinh sử một vài pho.”

 Lê Quý Đôn

   

“Lạc vào cõi mộng Tự Nhiên
Thẫn thờ một bóng giữa miền Siêu Linh
Nhặt lên dáng ngọc bí huyền
Mắt ai thăm thẳm đắm nhìn mắt ai.”

Thầy Cãi

CHƯƠNG I: TRỐNG ĐỒNG

“Khi đã biết sự thực của vật thể, ta sẽ thấy rằng thật vô lý khi tôn thờ các sản phẩm cô lập của dòng chảy không ngừng nghỉ của sự biến hóa, làm như chúng là vĩnh cửu và đích thực. Đời sống không phải là vật thể hay dạng của vật thể mà là một sự vận động liên tục hay chuyển hóa”

  1. Radhakrishnan

“Nếu có ai hỏi di vật thuộc nền văn minh cổ xưa nào của những người anh em ruột thịt thiểu số phương Nam của Trung Hoa là quan trọng nhất, chúng ta có thể trả lời không do dự rằng đó chính là Trống Đồng”

Wen You

(Tiếp theo)

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng tục thờ cúng ông Táo ở Việt Nam có xuất xứ Trung Quốc. Người Trung Quốc còn gọi ông Táo bằng những tên khác nhau, như: Táo Vương, Táo Quân, Đông Trù Tư Mệnh, Nhất Gia Chi Chủ… Về nguồn gốc của tập tục này, có thuyết cho rằng ông Táo lúc đó chính là Thần Lửa, do Viêm Đế (vị vua đầu tiên của Trung Quốc theo truyền thuyết) sau khi chết, hóa kiếp ra. Thuyết khác lại nói ông Táo là Chúc Dung, con Chuyên Húc (một ông vua khác cũng theo truyền thuyết). Nói chung, càng về sau thì càng có nhiều thuyết về sự ra đời của ông Táo, không biết tin vào thuyết nào. Có người bảo tục thờ Táo Quân của Trung Quốc có từ thời nhà Hạ, người thì bảo xuất hiện vào thời nhà Thương, cũng có người khẳng định tục đó chỉ có thể xuất hiện vào đời nhà Chu. Trong chuyện kể dân gian Trung Quốc có chuyện về hai anh em nhà họ Trương, người anh làm nghề đốt lò, xây bếp, còn người em, chuyên việc vẽ tranh, nặn tượng. Người anh vốn tốt bụng, thường xuyên khuyên bảo mọi người ăn ở hòa thuận và đứng ra can gián nhiều cuộc xô xát. Sau khi người anh chết, người em, để hạn chế tình trạng mất đoàn kết ở các gia đình, đã dựng chuyện người anh được Ngọc Hoàng phong là Táo Vương, giao cho cai quản việc bếp núc và theo dõi mọi chuyện tốt xấu của từng gia đình để báo về Trời vào dịp cuối năm.

Cứ mỗi năm đến ngày 23 tháng chạp thì nhà nhà nô nức sửa xoạn một mâm cổ để cúng ông táo về trời. Ngày lễ này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì theo tín ngưỡng ngày này ông táo sẽ cưỡi cá chép hóa rồng bay lên trình tâu với ngọc hoàng muôn chuyện bếp lử và những việc gia chủ làm. Mọi người cúng ông táo để xin ông táo trình bày nhẹ tội lỗi gây ra trong năm và cầu chúc cho người người an lành thật nhiều sức khỏe và thật thành công trong năm mới. Đến giao thừa ông táo sẽ trở về nhân gian và làm tiếp công việc của mình. hãy cùng Thuvienanhdep.net khám phá Hình ảnh mâm cổ cúng ông táo về trời truyền thống đẹp nhất nhé!

Vai trò, chức trách của ông Táo cũng thay đổi theo thời gian. Vào thời Tiên Tần, ông Táo chỉ lo việc bếp núc, nhưng từ thời Hán trở đi, ông Táo được tôn thành một vị thần được Ngọc Hoàng Thượng Đế phái xuống trần gian để giám sát công, tội của con người, của từng gia đình. Cuối mỗi năm, ông Táo phải về Trời bẩm báo và căn cứ vào bẩm báo này mà Ngọc Hoàng phán xử, thưởng phạt. Trước thời Hán, ngày về chầu Trời của ông Táo được định vào tháng tư âm lịch, sau đó thay đổi nhiều và đến thời Đường – Tống trở đi thì cố định vào hai ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp (ở miền bắc Trung Quốc là ngày 23, ở miền nam là ngày 24).

Lễ cúng đưa ông Táo được người Trung Quốc rất coi trọng, nhất là vào thời nhà Thanh. Triều đình nhà Thanh từng qui định: “Toàn bộ nha sổ trong ngày hôm đó nhất loạt niêm phong ấn tín, không thụ lý các công việc dân sự, quan viên đều được về nhà để đưa ông Táo”. Vua Càn Long, trong 60 năm trị vì của mình, không năm nào là không cúng ông Táo tại cung Khôn Ninh. Trong dân gian, tại nơi thờ ông Táo, người ta thường dán câu đối: “Thượng thiên ngôn hảo sự, hạ giới giáng cát tường” (“Lên trời nói chuyện tốt, xuống trần đem điều lành), hay: “Hảo thoại truyền thượng thiên, hoại thoại đu nhất biên” (Lời đẹp truyền lên trời, lời xấu vứt một bên), và ở nơi hoành phi cũng dán thêm hàng chữ “Nhất gia chi chủ” (Ông chủ của gia đình).

Ngày xưa qui định, việc lễ bái do gia chủ trực tiếp làm, nhưng phải là đàn ông:“Nam bất bái nguyệt, nữ bất tế Táo” (Đàn ông không được bái trăng, đàn bà không được cúng Táo).

Sự tích về ông Công, ông Táo, mang những nét đẹp truyền thống của người dân Việt nam. Vì thế, cứ ngày 23 tháng Chạp hàng năm, người Việt Nam lại làm cơm cúng tiễn đưa ông Táo về trời. Nói là 23 tháng Chạp nhưng những hoạt động chuẩn bị cho ngày lễ được chuẩn bị từ trước đó vài ngày, thậm chí là cả tuần. Ở thành thị, các gia đình thường mua hàng mã gồm: 2 mũ nam, 1 mũ nữ và 3 con cá chép để cho ông Táo cưỡi về chầu trời.

Vai trò của Táo Quân quan trọng như thế nên cũng được dân gian suy tôn là Định Phúc Táo Quân (Vua Táo qui định phúc đức cho từng nhà), là Đệ nhất gia chi chủ, vị thần đứng đầu trong hệ thống “Ngũ tự chi thần” mà theo sách “lễ ký” của Nho giáo là gồm: Táo Quân, Môn Thần (Thần Cửa), Hộ Thần (Thần Nhà), Trung Lựu Thần (Thần Đất), Tỉnh Thần (Thần Giếng).

Còn dung mạo Táo Quân thì được thể hiện dưới hình thức một vị quan mặc áo bào đen, mặt đen, đầu đội mũ cánh chuồn đen. Trên những bức tranh thờ, ngoài Táo Quân ra, còn thấy một bên có quỉ dạ xoa cầm chùy, một bên có phán quan bưng ấn.

Ngoài ra, ở Trung Quốc còn có ngày vía Táo Ông (3-8 âm lịch) và ngày vía Táo Bà (24-8 âm lịch). Tuy nhiên vào hai ngày này, chỉ có người Hoa ở duyên hải phía Nam – Trung Quốc tổ chức dâng lễ vật, bày mâm cúng.

Câu chuyện về tục thờ cúng Táo Quân bên Trung Quốc mà chúng ta “nghe” được là như vậy. Ở đây bật ra câu hỏi: thế thì quan niệm cổ truyền của dân tộc Trung Hoa là có mấy ông Táo và mấy bà Táo? Nếu chỉ nhìn bức tranh thờ và hàng chữ “Đệ nhất gia chi chủ” thì chỉ có một ông Táo và cũng không có bà Táo. Có thể quan niệm xưa kia là chỉ có một ông Táo, muộn hơn nhiều sau này mới xuất hiện quan niệm “gia đình” Táo và quan niệm này cũng rất mờ nhạt? Vậy thì điều đáng tin cậy nhất là đúng thực, ông Táo được định hình ở Trung Quốc. Nhưng sự định hình ấy có xuất xứ từ đâu và trên cơ sở nào thì chưa xác định chính xác được, dù rằng cái cội nguồn xa xôi của quá trình chính là tục tôn thờ Lửa. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng theo nguyên lý nhân – quả thì không thể “đùng một cái” mà vào thời rất đỗi xa xưa nào đấy, con người ở khắp nơi trên thế giới đều đồng loạt biết cách tạo ra lửa, biết dùng lửa để nấu nướng chuyển sang lối ăn chín và tôn thờ lửa như một vị thần.

Ở hầu hết các khu vực phía Bắc Trung Quốc, Cúng ông Táo rơi vào vào 23 hay 24 tháng 12 âm lịch. Tuy nhiên ở tỉnh Chiết Giang, Thượng Hải và các khu vực Giang Tô, Cúng ông Táo rơi vào ngày thứ Năm của tháng Giêng âm lịch. Ở nhiều nơi khác trên đất nước Trung Quốc, lễ Cúng ông Táo lại liên quan tới Lễ hội Đèn lồng (ngày 15/1 âm lịch).

Mỗi tỉnh thành ở Trung Quốc thường có một ngày Cúng ông Táo khác nhau.

Sự tích Tết ông Công, ông Táo ngày 23 tháng Chạp

Chắc rằng tục thờ cúng ông Táo của dân tộc Trung Hoa đã du nhập vào Việt Nam từ lâu, nhưng cái sức sống mãnh liệt của những tập tục truyền thống có gốc rễ từ thời Hùng Vương và trước đó, vượt qua những vừa ăn cướp vừa tàn phá văn hóa ác liệt của phong kiến phương bắc, mà có tính tàn bạo, triệt để nhất là cuộc xâm lược và đô hộ của nhà Đông Hán và nhà Minh, đã làm cho nó biến dạng đi nhiều, hay nói cách khác là đã đồng hóa nó một cách phù hợp hơn với tâm tư, tình cảm và hoàn cảnh sống của người Việt đương thời.)

Ở Việt Nam, dù gọi chung là ông Táo, nhưng quan niệm xưa nay vẫn hiểu là nhà Táo, gồm bộ ba: hai ông Táo và một bà Táo. Trong “Gia Định thành đông chí”, không biết dựa trên cơ sở nào mà Trịnh Hoài Đức giải thích quan niệm bộ ba đó xuất phát từ quẻ Ly với hai hào dương trên, dưới và ở giữa là hào âm , tượng trưng cho hai người đàn ông và một người đàn bà đồng thời cũng có nghĩa chỉ phương Nam, chỉ củi lửa. Bộ ba đó là Táo Quân, Táo Bà và Táo Tướng. Trong đó, Táo Quân và Táo Bà (còn gọi gộp là Phật Táo) cuối mỗi năm phải lên chầu, bẩm báo cho Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn Táo Tướng là thần củi lửa lúc nào cũng phải phục vụ thế gian, Vì thế mà ở Nam Bộ – Việt Nam có câu:

Hăm ba Phật Táo về Trời

Thổ Táo ở lại đội nồi suốt năm

Chúng ta không tin vào sự giải thích của Trịnh Hoài Đức vì lẽ nếu có bộ ba “hai ông một bà” thì cũng phải có bộ ba “hai bà một ông” (quẻ khảm,  ), thế nhưng chẳng thấy ai đả động đến cả; Hơn nữa, đi yết kiến Ngọc Hoàng đâu phải chuyện đùa, nhất là vào thời phong kiến, mà dắt díu lê thê như các vị tổng thống hay thủ tướng ngày nay mỗi khi có việc đi du ngoại, thì thật là… nguy tai.

Người Việt tiếp thu tất cả những tên gọi khác về ông Táo của người Trung Hoa phiên âm sang, đồng thời vẫn gọi ông Táo bằng những cái tên thuần Việt và dân dã khác như: Ông Đầu Rau, hay Ba Ông Đầu Rau, Ông Núc Bếp, Vua Bếp… Đặc biệt, ông Táo còn được gọi là Táo Công hay gọi tắt là ông Công.

Trong dân dã, người Việt có cách gọi rất hay, vừa tôn kính, vừa thân thiết gần gũi đối với các vị thánh, thần, chẳng hạn như ông Đùng, ông Gióng, ông Táo, ông Địa, ông Công… Ông Địa chính là thần Thổ Địa và ông Công chính là thần Thổ Công. Đến nay vẫn còn lưu truyền câu của dân gian Việt: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Vậy Thổ Công là ai? Theo quan niệm người Việt xưa thì Thổ Công là vị thần tại gia, trông coi gia cư, định sự may rủi họa phúc cho mọi gia đình. Nhờ thần Thổ Công mà các hồn ma xác quỉ không dám lánh héo, xâm nhập để quấy nhiễu cuộc sống của gia đình. Từ xa xưa, cùng với truyền thống tôn thờ tổ tiên, người Việt cũng rất thành kính thờ phụng Thổ Công.

Theo phong tục cổ truyền  của người Việt, Táo quân là vị quan túc trực quanh năm để cai quản mọi việc ở hạ giới. Ngày 23 tháng Chạp (23/12 Âm lịch), các Táo cưỡi cá chép về trời để tâu báo với Ngọc Hoàng những việc xảy ra trong năm cho Người rõ và thưởng phạt công minh. Để “lấy lòng” các vị trọng thần này, dân gian thường bày cỗ cúng tiễn ông Táo về trời với những món ngọt hoặc các món ăn truyền thống cùng giấy tiền vàng mã, hia và áo mũ, cá chép giấy.
Tuy nhiên, ngày nay, mâm cỗ cúng Táo quân được đơn giản đi nhiều và không cần quá bắt buộc phải có đầy đủ tất cả các món ăn truyền thống. Mâm cỗ cúng Táo quân còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cũng như khẩu vị của gia chủ.
Năm nào cũng vậy, cứ cách ngày 23 tháng Chạp từ 1-2 ngày, chị em văn phòng đã chia sẻ rất nhiều mâm cỗ cúng ông Táo. Phần lớn các món ăn vẫn là các món truyền thống hoặc món chay. Điểm trong đó là một vài món ăn mới lạ nhưng vẫn phù hợp với khẩu vị gia đình.
Chị Nguyễn Thị Minh Trang (Nick face Cỏ Ba Lá – nhân viên ngân hàng ở Bắc Ninh) cho biết, năm nay chị làm 2 mâm cỗ cúng ông Táo. Một mâm cỗ chay và một mâm cỗ mặn. Để làm hai mâm này chị mất 2 tiếng chuẩn bị với rất nhiều món ăn ngon và hấp dẫn.

Mâm cỗ mặn với các món nem tôm; gà rang muối, nấm xào gà, salad, canh thập cẩm, xôi giò của nhà chị Nguyễn Thị Minh Trang

Bên cạnh mâm cỗ mặn, chị Trang còn làm thêm mâm cỗ chay gồm các món bánh bao, salad, khoai lang chiên, thịt bò khô giả chay, khoai mon lệ phố, gà chay, canh, xôi, xào thập cẩm.
Cùng xem thêm những mâm cỗ được các chị em chia sẻ:

Mâm cơm cúng ông Táo của chị Tô Hưng Giang ở Hà Nội gồm các truyền thống như món nem rán, gà luộc, canh mọc rau củ, bánh chưng, xào thập cẩm, giò lụa

Nhân vật có nick face Quynh Lam (Hà Nội), 31 tuổi cho biết, năm nào chị cũng làm mâm cơm để cúng ông Táo. Mâm cơm năm nay nhà chị cũng bao gồm các món truyền thống như giò lụa, gà luộc, canh măng, nem rán, bánh chưng…

Mâm cỗ của chị Lại Thu Trang gồm rất nhiều món ăn hấp dẫn. Ngoài các món truyền thống như gà luộc, canh bóng thì chị làm thêm các món ăn phù hợp với khẩu vị gia đình như nem tôm, cánh gà rôti, khoai tây chiên, bò cuộn nấm kim châm, mực xào dừa cần tỏi tây, gỏi ổi tai heo… Mâm cơm này của nhà chị Trang hết khoảng 550.000 đồng và được chuẩn bị trong 2 tiếng

Mâm cỗ của gia đình chị Nguyễn Thị Mai Nghĩa (Đường Bưởi, Hà Nội)

Mâm cỗ gồm các món truyền thống của gia đình chị Nguyễn Ánh Hòa (Nam Định). Chị Hòa cho biết, mâm cỗ nhà chị có nhiều món “của nhà trồng được” nên không quá tốn kém

Mâm cỗ cúng Táo quân của chị Hà (Nhân Hòa, Hà Nội). Theo chị Hà, đáng lẽ chị sẽ làm thêm vài món nhưng vì quỹ thời gian eo hẹp, chị không chuẩn bị được 6 món mặn, thêm 1 món ngọt. Quan trọng là lòng thành của gia đình dành cho các vị Táo quân mà thôi

Tín ngưỡng thờ Thổ Công của người Việt, dù qua thời gian đã nhuốm màu Đạo Giáo thì những đặc điểm tinh tế có gốc tích bản thổ cũng không bị khỏa lấp đi được.

Thông thường, bàn thờ Thổ Công đặt ngay cạnh bàn thờ tổ tiên (có thể ở gian bên). Những gia đình thuộc dòng thứ, không có bổn phận cúng giỗ, nên trong nhà không có bàn thờ tổ tiên, nhưng vẫn phải có bàn thờ Thổ Công, và có thể đặt ở gian chính giữa nhà.

Bàn thờ Thổ Công nhỏ hơn, giản dị hơn bàn thờ tổ tiên. Trên án hương có mâm nhỏ, ba đài rượu, bài vị, bình hương và đôi nến. Thay cho bài vị hoặc cùng với bài vị có cỗ mũ (đồ mã) 3 chiếc: một mũ đàn bà, màu vàng để giữa, 2 mũ đàn ông, màu đen để hai bên, tượng trưng “hai ông một bà” (có nơi chỉ đặt một chiếc mũ nam và một đôi hia). Mũ nam có cánh chuồn vút lên hai bên. Cỗ mũ được đặt trên chiếc bệ (bằng mã). Kèm theo mỗi mũ là 1 áo và 1 đôi hia. Dưới mỗi mũ để 100 vàng thoi (tất nhiên cũng là hàng mã).

Việc bày sắp bàn thờ Thổ Công như thế là sự biểu hiện quan niệm “bộ ba” đã khắc rất sâu vào tâm hồn người Việt xưa, thông qua việc thờ cúng Thổ Công. Đúng như vậy thật, bàn thờ Thổ Công không chỉ thờ một vị thần mà 3 vị thần cùng lúc là: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ, trong đó:

– Thổ Công, đứng đầu, đồng thời trông coi việc bếp núc.

– Thổ Địa trông coi việc trong nhà (nội gia).

– Thổ Kỳ trong nom việc chợ búa cho phụ nữ, hoặc việc sinh sản các vật ở vườn đất.

Người Việt xưa cúng Thổ Công quanh năm, vào những ngày giỗ, tết, sóc, vọng. Tùy theo gia chủ mà có thể cúng chay hay cúng mặn. Trong những ngày mồng một, rằm (âm lịch), nhiều gia đình cúng chay, đồ cúng gồm giấy vàng bạc, trầu, nước, hoa quả. Cũng có gia đình cúng mặn. Cúng mặn, ngoài đồ lễ cúng chay, còn có xôi gà, có khi là cả một mâm cỗ, và phải có rượu. Trong mọi trường hợp, làm lễ cúng cáo gia tiên bao giờ cũng cúng Thổ Công và khấn cầu sự phù hộ của Thổ Công, và khi cúng phải khấn đủ thần linh trong bài vị. Văn khấn Thổ Công được chép ra dưới đây dùng quanh năm, chỉ thay đổi ngày, tháng cho phù hợp:

 “Nước Đại Việt, năm …… tháng …… ngày ……

Tín chủ là …… toàn gia cư trú tại xã …… huyện …… tỉnh ……, trăm bái

Kính cẩn dâng lên rượu, nước, bạc vàng, đèn hương, hoa quả, cỗ bàn phẩm vật cùng mọi đồ lễ.

Cùng mời:

Bản gia Thổ Công, tại vị ở trước

Thổ Địa tại vị ở trước

Thổ Kỳ tại vị ở trước

Giáng lâm chứng giám

Cầu xin phù hộ chủ từ già đến trẻ hạnh phúc, bình an, không bệnh tật.

                                                                           Thượng hưởng”

Tuy nhiên, lễ cúng Thổ Công quan trọng nhất trong năm là vào ngày 23 tháng Chạp, gọi là Tết ông Công. Lễ này thường được tổ chức vào buổi trưa, nhưng cũng có nhiều nơi thực hiện vào buổi tối. Sau khi lễ xong thì hóa vàng, hóa luôn cả cỗ mũ, áo, hia, bài vị của năm cũ (đốt mã), thay bằng đồ mới để thờ cho đến Tết năm sau. Ở làng quê Bắc Bộ, gia chủ còn mua con cá chép còn sống, thả trong chậu nước để tặng ông Công. Cá này sẽ được phóng sinh xuống ao, chuôm hoặc sông, hồ để nó (vượt Vũ Môn) hóa rồng cho ông Công cưỡi lên chầu Trời. Ở Trung Bộ, ông Công lên Trời bằng cách cưỡi ngựa với đầy đủ yên cương (đồ mã). Ở Nam Bộ, ông Công được dâng cặp giò, tức cặp hia – mã, ngoài ra còn có cặp cây mía đặt hai bên trang thờ để ông Công chống khi đi đường, gọi là “gậy ông Công”

Cách sắp xếp bàn thờ cúng ông Công ông Táo đúng sẽ thể hiện lòng thành kính của gia chủ đối với các vị thần, nhờ đó sẽ đem lại may mắn cho các thành viên trong gia đình trong năm mới. Hãy cùng xem cách bài trí bàn thờ cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp có gì đặc biệt nhé?

Ở phía trước cái kệ nhỏ đặt bát hương hoặc đỉnh trầm. Hai bên bát hương là đôi nến hoặc cây đèn dầu. Cũng có thể đặt đôi ống hươngTheo quan niệm từ xưa truyền lại, mỗi gia đình có riêng một Thổ công. Vị Thổ công này mỗi năm đều được thay thế vào ngày 23 tháng Chạp. Ngày này ở Việt Nam gọi là ngày ông Táo chầu trời hoặc là ngày Tết ông Công ông Táo. Trong ngày này, các gia đình làm cỗ cúng rồi đốt bài vị cũ thay bài vị mới.

Sau khi đã bày trí bàn thờ xong, việc tiếp theo các bạn cần chuẩn bị chính là một mâm lễ cúng ông Công ông Táo với đầy đủ mũ, áo cho Táo quân, một mâm cỗ mặn hoặc chay tùy theo điều kiện từng gia đình. Mâm lễ cũng ông Công ông Táo không cần quá cầu kỳ, nhiều món mà chỉ cần có đầy đủ những món như phong tục của các cha ông để lại như bánh chưng, giò, nem rán, canh nấu.

Có thể thấy “vai trò, chức năng” của thần Thổ Công theo quan niệm người Việt xưa dù có những nét dị biệt rõ ràng, nhưng cũng có nhiều nét tương đồng sâu sắc với “vai trò, chức năng” của Thần Táo Quân theo quan niệm người Hoa. Điều này đưa chúng ta đến cảm tưởng rằng hai vị này có chung một “huyết thống”, đều “sinh thành” từ ông Núc Bếp và lấy ông Núc Bếp làm “thần tượng”. Tuy nhiên, hai ông này đã đi theo hai hướng khác nhau, tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội khác nhau để rồi một ông hóa thành Thổ Công (của người Việt), một ông hóa thành Táo Quân (của người Hoa). Thế rồi, khi Táo Quân Trung Hoa xuất hiện ở Việt Nam (trong thời kỳ lan tỏa dân cư mà hướng chủ yếu, nổi trội là từ Bắc xuống Nam, do nhiều nguyên nhân khác nhau), hai ông, Thổ Công Việt Nam và Táo Quân Trung Quốc, do có sẵn tương đồng, đã hòa hợp với nhau mà thành Táo Công, một nhân thần “tuy hai mà một”: nói chính xác hơn, có lẽ phải thế này: Ông Táo Việt gặp ông Táo Hoa, hóa thành Táo Việt – Hoa. Trong bài vị trên bàn thờ Thổ Công của gia đình người Việt vẫn thường ghi:

                    “Bản gia đông trùng tư mệnh Táo Phủ thần quân

                 Bản gia Thổ Địa long mạch tôn thần

                 Bản gia Ngũ phương ngũ thổ phúc đức chính thần”

Có nơi chỉ viết gọn là “Định phúc Táo Quân” (Vua Táo qui định phúc đức trong nhà)

Tuy nhiên sự hòa hợp đó có thể là chưa đủ “mãnh liệt” và chưa đủ thời gian để khỏa lấp những dị biệt từng có trong quá khứ cũng như mới phát sinh sau này. Trong thực tiễn, nơi này nơi khác, lúc này lúc khác, vẫn xuất hiện dị biệt, nghĩa là dù đã “hai trong một” nhưng nhiều nhà lại thờ cả Thổ Công lẫn Táo Quân, trong khi Thổ Công được cúng quảy quanh năm vào những ngày giỗ chạp, sóc vọng thì Táo Quân chỉ được nhắc đến 2 lần trong dịp Tết (lễ cúng đưa tiễn chầu Trời và đón rước về nhà). Rất có thể ông Táo Việt (Thổ Công) ngày xưa chưa phải về chầu Trời vào mỗi dịp cuối năm. Sau này mới phải gánh vác “nhiệm vụ thiêng liêng” đó là do ông Táo Tàu “san sẻ” cho. Vậy có thể hiểu khi Táo Công là Táo Quân thì vị thần này có vai trò là “Đệ nhất gia chi chủ” và hàng năm phải lên chầu Trời để bẩm báo; khi Táo Công là Thổ Công thì chỉ là vị thần trông coi bếp núc, bình đẳng với hai vị thần kia là Thổ Địa và Thổ Kỳ (bên Trung Quốc có tới năm vị thần tại gia cơ!); hoặc cũng có thể hiểu Thổ Công là tên chung của 3 vị thần: Táo Quân, Thổ Địa, Thổ Kỳ?

Tại Nam Bộ, khu vực mới khai khẩn sau này với sự có mặt hầu như ngay từ buối đầu đông đảo người Hoa, đã là nơi giao lưu văn hóa truyền thống Việt – Hoa sôi nổi nhất thời cận đại trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, sự hòa hợp “hai trong một” cũng có vẻ “thành công” hơn cả, đồng thời sự dị biệt “tuy một mà hai” cũng biểu hiện rõ ràng hơn cả. Ngày nay, ở Nam Bộ, hình như tiếng tăm của Thổ Công đã phần nào nhạt nhòa và việc thờ cúng Thổ Công trong nhiều gia đình dân cư (nhất là ở thành phố) cũng có phần bị sao lãng. Thay vào đó nhiều nhà thờ cúng ông Táo riêng và Thổ Địa, Thần Tài riêng.

Bàn thờ Táo Quân được định vị khác nhau, tùy địa phương, Có nơi đặt bệ thờ Táo Quân ngay trên khuôn bếp. Trên tường bếp treo bức tranh chân dung Táo Quân, mặt đen xì, áo mũ chỉnh tề như quan triều đình phong kiến xưa. Có nơi, như ở Hà Tiên, không thờ tại bếp, cũng không kê kề bên bàn thờ tổ tiên mà ở vách giữa phía sau nhà. Ở chỗ này, người ta không đặt bệ thờ mà chỉ treo tấm ván hình chữ nhật, dài 1,5m đến 2m, rộng 0m5 đến 0,6m. Tấm ván này đóng vai trò như một bàn thờ, bàn thờ treo. Lễ vật thường là hương, hoa, quả, trầu, rượu, đĩa xôi, con gà hay miếng thịt heo.

Hầu hết cư dân khu vực Nam Bộ đều thờ cúng chung Ông Địa – Thần Tài. Ông Địa chính là Thổ Địa, vị thần trông coi nhà cửa đất đai mà chúng ta đã biết. Thần Tài được xem như vị thần đem tài, lộc đến cho gia đình, phù hộ cho gia chủ làm ăn phát đạt. Thần tài mới xuất hiện gần đây, có thể vào khoảng đầu thế kỷ XX. Có người nói rằng tục thờ Thần Tài được du nhập từ Trung Quốc. Điều này có lẽ không hẳn đúng. Nói cách khác, nếu có đúng thì may ra chỉ đúng một nửa.

Đáng chú ý là bàn thờ Ông Địa – Thần Tài không bao giờ được đặt ở nơi khang trang, cao thoáng (và cũng không cần to, cầu kỳ) như bàn thờ tổ tiên hay bàn thờ Thổ Công mà phải đặt ở dưới đất, ở những nơi xó xỉnh, hàng hiên, góc nhà (nhưng phải hướng ra phía mặt tiền nhà). Nguyên nhân phải đặt dưới đất (trên nền nhà) là vì đất là nơi trú ngụ của ông Địa (có lẽ vì quan niệm này mà xuất hiện bàn thờ ông Thiên, được đặt trước sân, không có sân thì trước hàng hiên, nhưng phải ở trên cao, thường trên đầu trụ gỗ hoặc trụ xây – có ông Địa thì phải có ông Thiên!). Nguyên nhân thứ hai là do truyền thuyết sau đây:

Ngày xưa, có một người lái buôn tên là Âu Minh, khi đi qua hồ Thanh Thảo được Thủy Thần cho một nàng hầu là Như Nguyệt để đem về nhà. Từ đó Âu Minh làm ăn phát đạt, giàu to. Một hôm (đó là ngày Tết), Âu Minh đánh Như Nguyệt. Nàng sợ hãi chui trốn vào đống rác rồi biến mất. Từ đó, Âu Minh làm ăn sa sút, chẳng mấy chốc mà trở nên xác xơ, nghèo kiết. Người xưa đồn Như Nguyệt là Thần Tài và lập bàn thờ. Từ đó mà cũng có tục kiêng hốt rác trong 3 ngày Tết (nếu có chăng là quét sơ rồi dồn rác tạm vào nơi xó xỉnh, góc nhà, chỗ khuất).

Có phải ai thờ Thần Tài Thổ Địa cũng đều được giàu có buôn may bán đắt ? Nếu thật là có thể như thế thì thế gian làm gì có người nghèo phải không, nhiều nhà thờ thần tài được buôn may bán đắt, nhà thì cũng thờ mà buôn bán ế ẩm, vậy nên có sự khác biệt trong cách thờ thần tài, thờ thần tài cũng phải biết cách nếu không thì không có tác dụng hoặc có khi còn bị xuôi xẻo nữa.
n thờ thần tài gồm những gì ?

Sơ đồ bài trí bàn thờ thần tài – bàn thờ thần tài gồm những gì

Những người tin tưởng và nhất là những gia đình buôn bán thì không chỉ cúng Thổ Địa – Thần Tài vào những ngày giỗ Tết, sóc vọng mà cúng quanh năm, thậm chí là trước mỗi “độ” làm ăn, mỗi cuộc buôn bán. Trong các dịp giỗ, tết, sóc vọng, thường người ta cúng mặn, có lúc bày cả một mâm cỗ. Trong những ngày thường, việc cúng đơn giản hơn: thắp hương, dâng trầu, nước và có thể thêm một đĩa trái cây. Ở thành phố, vào sáng sớm, khi mở tiệm, hàng, quán bắt đầu buôn bán, người ta thắp hương cho Thổ Địa – Thần Tài, nhiều khi lễ vật chỉ đơn giản là điếu thuốc đã mồi sẵn và ly cà phê đen cho 2 ông dùng chung để 2 ông vui vẻ phù hộ cho mua may, bán đắt, làm ăn suông sẻ.

NGUỒN GỐC CỦA BÁNH CHƯNG, BÁNH DẦY, BÁNH TÉT

NGUỒN GỐC CỦA BÁNH CHƯNG, BÁNH ẦY, BÁNH TÉT

 

Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống. Song chưa thấy dân tộc nào có một thức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng, bánh giầy (dầy) của Việt Nam.
Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng.
Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ. Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6

Nguyên liệu để gói Bánh chưng hay bánh tét là nếp. Đây là loại gạo có tính rất dẻo, mùi đặc biệt thơm lừng thường dùng để nấu xôi, nấu chè, làm bánh chưng, bành tét, bánh ú… ít được nấu vào các bữa ăn chính, bởi tính dẻo của gạo thường khiến chúng ta ăn nhanh ngán.

THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG CỦA BÁNH CHƯNG – BÁNH TÉT
Bánh tét mang hương vị đặc trưng và rất hấp dẫn. Mỗi loại bánh tét sẽ có mùi vị khác nhau, nhưng nhìn chung thì nguyên liệu cơ bản phải có là nếp, dừa, đậu,….hoặc tùy theo loại nhân bánh mà có thêm thịt, trứng, chuối, tôm khô lạp xưởng…..
Thành phần dinh dưỡng (Tính theo 100g bánh nhân đậu xanh): Nước 0.52 g, Năng lượng 35 kcal.
Protein 0.74 g, Chất béo tổng cộng 0.25 g, Tro 0.15 g, Carbohydrate 7.34 g, Ca 1 mg, Fe 0.13 mg, Mg 12 mg, P 32 mg, K 26 mg, Na 29 mg, Zn 0.27 mg, Cu 0.04 mg, Mn 0.336 mg, Se 2.2 mcg

Thiamin (Vitamin B8) 0.005 mg, Riboflavin 0.014 mg, Niacin 0.702 mg, Pantothenic acid 0.09 mg, Vitamin B6 0.013 mg, Folate tổng cộng 2 mcg, Vitamin K 0.2 mcg, Acid béo bão hòa 0.051 g, Acid béo đơn phân tử chưa bão hòa 0.093 g, Acid béo đa phân tử chưa bão hòa 0.089 g, Tryptophan 0.009 g, Threonine 0.026 g, Isoleucine 0.031 g, Leucine 0.06 g, Lysine 0.028 g, Methionine 0.016 g, Cystine 0.008 g,Tyrosine 0.027 g, Valine 0.042 g, Arginine 0.055 g, Histidine0.018 g, Alanine 0.042 g, Aspartic acid 0.068 g,Glutamic acid 0.149 g, Glycine 0.036 g, Proline 0.034 g, Serine 0.038 g. Tuy nhiên, không nên ăn quá nhiều nếp sẽ khiến ra nóng người, khó tiêu và dễ bị mụn.

TRUYỀN THUYẾT VỀ BÁNH CHƯNG
Truyền thuyết của người Việt có rất nhiều truyền thuyết liên quan đến thời đại của các Vua Hùng được truyền lại trong dân gian đến nay. Đó là chuyện Vua Hùng kén rể, chuyện nàng công chúa Tiên Dung với chàng trai nghèo Chử Đồng Tử, và sự tích bánh chưng, bánh dày gắn với tích Hùng Vương chọn người truyền ngôi báu… Nhưng cùng với những truyền thuyết đó, là những trang sử được ghi lại: “Thời Trang Vương nhà Chu năm 692-682 TCN, ở bộ Gia Ninh có một người thu phục được các bộ lạc chung quanh, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, truyền được 18 đời , gọi là Hùng Vương.” (Đại Việt sử lược). Trong Đại Nam nhất thống chí – Quốc sử quán triều Nguyễn cũng thấy chép rằng, Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu, nay là huyện Bạch Hạc.
Qua những công trình nghiên cứu khảo cổ học đã chứng minh rằng, từ ngàn năm trước, dải đất từ Việt Trì đến Đền Hùng và một số địa danh phụ cận là đất phát tích của người Việt Nam. Nơi đây đã ra đời một kinh đô đầu tiên, Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và Đền Hùng là nơi thờ tự 18 đời Vua Hùng theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Mỗi địa danh trên đất Phú Thọ, đặc biệt là dải đất từ Việt Trì đến Đền Hùng đều có tên gọi gắn liền với một tích cổ thời Hùng Vương. Phú Thọ – chính là cơ sở bảo tồn văn hóa làng xã và di sản văn hóa dân tộc như bánh chưng bánh giầy . Phú Thọ còn mang những sắc thái văn hóa cổ đặc sắc với nét văn hóa gốc của người Việt cổ..https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_H%C3%B9ng

Tương truyền Vua Hùng Vương thứ 6 (vua cha của Hoàng Tử Lang Liêu) nhân ngày lễ Tiên vương truyền rằng: người con nào dâng lễ vật được vua ưng ý thì sẽ truyền lại ngôi báu cho. Thế rồi các hoàng tử thi nhau tìm kiếm mọi của ngon vật lạ trên rừng dưới biển để dâng lên, vua cha đều dửng dưng mà chỉ thích thú với chiếc bánh chưng bánh giầy của vợ chồng hoàng tử Lang Liêu, người con út của ông dâng lên. Và ông rất cảm phục khi hiểu rõ cái ý tưởng làm bánh của Lang Liêu: một bánh tượng trưng cho Đất, và một bánh tượng trưng cho Trời. Vua liền truyền ngôi cho Lang Liêu…. Vậy thời đại Hùng Vương thứ 6 là cái mốc ra đời của bánh chưng, bánh giầy.

Bánh chưng được làm bằng nguyên liệu từ cây lúa nước, đây là bằng chứng để viết lại sử Việt về phương pháp canh tác cây lúa nước của người Việt cổ là bản sắc văn hóa Việt chứ không có nguồn gốc từ hai quan Thái Thú Tích Quang và Nhâm Diên đã cai trị VN vào thời bắc thuộc lần thứ nhất (thế kỷ II TCN đến năm 39), các sử gia Trung Hoa đã xuyên tạc lịch sử về việc hai quan Thái Thú này đã dạy cho dân Việt cách trồng cây lúa nước và phương pháp cày bừa (?!), rất tiếc một số sử gia VN vì thiếu cơ sở nghiên cứu lẩn thông tin nên đã viết sử từ những sử liệu của Trung Hoa, trong đó có nhà sử học Trần Trọng Kim (trang 38 cuốn VN Sử Lược, quyển I, của Trần Trọng Kim). Ông đã vô tình tiếp tay với các sử gia Trung Hoa về việc tôn vinh cách trồng cây lúa nước của người Việt cổ – được Tích Quang và Nhâm Diên dạy cho người Việt chúng ta. Nên nhớ thời Hùng Vương thứ VI cách xa thời Bác Thuộc lần thứ nhất trên 1500 năm.. Điều này cũng là sự khẳn định tuyệt đối: VN là chính cái nôi của cây lúa nước và người Tàu đã học cách trồng cây lúa nước từ người Việt cổ.
Các nhà khoa học như A.G. Haudricourt & Louis Hedin (1944), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Carl Sauer (1952), Jacques Barrau (1965, 1974), Soldheim (1969), Chester Gorman (1970)… đã lập luận vững chắc và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm của thế giới. Quê hương của cây lúa, không như nhiều người tưởng là ở Trung Hoa hay Ấn Độ, là ở vùng Đông Nam Á vì vùng này khí hậu ẩm và có điều kiện lí tưởng cho phát triển nghề trồng lúa.
Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên gần đây, quê hương đầu tiên của cây lúa là vùng Đông Nam Á, những nơi mà dấu ấn của cây lúa đã được ghi nhận là khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên. Còn ở Trung Hoa, bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử. Từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Hoa, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch. Ngày nay, giới khoa học quốc tế, kể cả các khoa học gia hàng đầu của Trung Hoa đồng thuận cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa, tức là vùng đồng bằng của sông Hồng nơi sinh sống của người Việt cổ. Văn hóa Đông Sơn là một giai đoạn trong nền văn minh sông Hồng, kế thừa và phát triển từ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Phùng Nguyên, Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun. Văn hoá Đông Sơn có những nét độc đáo riêng đồng thời vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á và nền Văn minh lúa nước. Đây cũng là thời kỳ ra đời nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng làng và siêu làng.

Văn minh lúa nước là một nền văn minh cổ đại xuất hiện từ cách đây khoảng 10.000 năm tại vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thuỷ lợi, phát triển các công cụ và vật nuôi chuyên dụng. Chính sự phát triển của nền văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hemudu, Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình. Văn hóa Hòa Bình (12.000 – 10.000 TCN) được giới khảo cổ học chính thức công nhận từ ngày 30 tháng 1 năm 1932, do đề xuất của Madeleine Colani, sau khi đã được Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua.

XUẤT XỨ CỦA BÁNH TÉT
Từ những quan niệm xưa của các sử gia và các nhà nghiên cứu về các món đặc sản, thì nhiều người đã cho rằng bánh Tét của người miền Nam là một phó sản từ cái bánh chưng, vậy chúng ta đi tìm hư thực về nguồn gốc của cái bánh này. Để biết được sự thật về nguồn gốc của bánh Tét, chúng ta phải trở về mảnh đất Phú Thọ, đây không chỉ là vùng đất cổ, cái nôi của nền văn hoá Lạc Việt mà còn là nơi khởi nguồn của nhiều món ăn đặc sản, hiện diện từ lâu đời trong ngày tết nguyên đán, trong đó không thể không kể đến bánh chưng. Bánh chưng, bánh giầy đã trở thành thứ không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên mỗi khi Tết đến, nó thể hiện quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của người xưa. Đây là sản phẩm được chế biến từ lúa nếp thơm, một sản phẩm tiêu biểu của nền văn minh lúa nước của ngừoi Việt cổ, có mặt từ thời Vua Hùng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, hai sản vật này gắn với câu chuyện huyền sử về lòng hiếu thảo của chàng hoàng tử Lang Liêu thời Hùng Vương thứ 6.
“Chim kêu ba tiếng ngoài sông
Mau lo lựa nếp hết đông tết về”
(Ca dao)

 

Hai câu ca dao trên đã nói lên được ý nghĩa việc chuẩn bị nếp để nấu bánh chưng trong những ngày cuối đông , mừng xuân mói.
Hàng năm, cứ đến ngày tết và ngày mồng 10/3 âm lịch, làng Mộ Chu Hạ (phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) đã bừng lên với những lễ hội về ẩm thục. Du khách khi đặt chân đến vùng đất này, người ta không khỏi ngạc nhiên về cái bánh chưng truyền thống ở nơi này. Cái bánh chưng mà người dân ở đây gói vào dịp Tết lại có hình dạng giống như cái bánh tét có tên gọi là ” Bánh Chưng Dài”, đó là hình thù của cái bánh tét truyền thống miền nam hay gói vào dịp đầu xuân. Có thể nói là bánh tét có nguồn gốc từ cái “bánh chưng dài” của người dân vùng Phú Thọ, Việt Trì, rồi sau đó theo dòng người di dân từ thời Trịnh Nguyễn phân Tranh đi lần vào miền nam.

 

Sách “Vân đại loại ngữ” của cụ Lê Quý Đôn có chép lại một câu trong sách Tàu “Cổ kim chú” như sau: “Năm Diên Quang thứ hai, đời vua An Đế (132) nhà Hán, ở quận Cửu Chân lúa tốt quá: 150 gốc lúa được những 768 bông”. Quận Cửu Chân trong thời Hán thuộc tức là Thanh Hoá – Nghệ Tĩnh ngày nay. Cổ sử Trung Hoa còn có sách chép “Lúa Giao Chỉ chín hai mùa”.Có nghĩa là từ hàng nghìn năm trước ông cha ta đã biết thâm canh, dùng phân bón nên lúa mới tốt như thế! Di chỉ khảo cổ nền văn hoá Đông Sơn ( cũng tức là văn minh Văn Lang) cho thấy những dụng cụ bằng đồng hình lưỡi cày, hình lưỡi liềm hái thô sơ, và những hạt gạo cháy, cả vỏ trấu. Đằng sau truyền thuyết là cái sự thật nghề nông được khuyến khích và coi trọng từ thời Văn Lang, thuở bình minh của châu thổ. Xa hơn nữa, người Việt cổ thời nguyên thuỷ đã biết trồng lúa cùng với chăn nuôi gia súc, .các chứng minh cho thấy người Việt cổ đã làm chủ sở hữu việc canh tác cây lúa nước trước người Hán, chứ không phải học việc này từ hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên.
Nhiều nhà nông học và khảo cổ học thế giới đã khẳng định rằng: bán đảo Đông Dương là quê hương của cây lúa nước và vùng đất của cái nôi lúa nước là Hòa Bình. Nơi đây có “lúa trời”, “lúa ma” – tức là loại lúa không trồng mà mọc, và hàng trăm loại lúa do con người tạo ra: lúa sớm, lúa muộn, chiêm, mùa, nếp, tẻ, nương. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong tác phẩm “Vân đàì loại ngữ” đã thống kê được gần 200 loại lúa khác nhau… Các Sử cũ của Trung Hoa là “Giao châu ngoại vực ký” chép: “Ruộng lạc theo nước thuỷ triều lên xuống mà làm, dân khẩn ruộng ấy mà ăn, nên gọi là dân lạc”
Bánh chưng, bánh giầy là hình ảnh của quê hương với mầu xanh ruộng đồng, sông núi, được làm ra từ những hạt “ngọc thực” quý nhất của thiên nhiên, sinh sôi nảy nở trên những triền đất phù sa đồng bằng dưới sức lao động của con người. Những sản vật giản dị, đậm đà hương vị không những ẩn chứa các giá trị văn hóa và tâm linh mà còn mang ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc.
Bánh chưng tết cũng thể hiện được chữ hiếu của người con với cha mẹ, chính vì thế mà phong tục dùng bánh chưng làm quà biếu dâng lên cha mẹ cũng từ đây mà có. Đi cùng với bánh chưng bánh giầy, trong ngày tết bày mâm ngũ quả thể hiện ngũ hành tương sinh tương khắc.
Xuân Lại Về

Xuân lại về đây với gió đông
Nắng xuân phơn phơt má em hồng
Ngoài sân hoa cúc hoa mai nở
Tô thắm vườn xuân bướm lượn vòng
Xuân ở nơi nầy nhớ xuân xưa
Đêm 30 tết cúng giao thừa
Trên bàn thờ Tổ mâm ngũ quả
Cành mai vàng rực buổi ban trưaXuân lại về đây nơi xứ xa
Bồi hồi thương nhớ bóng mẹ già
Mỗi năm giúp mẹ lau chùi dọn
Bàn thờ năm mới đón ông bà

Xuân ở nơi đây cũng tưng bừng
Cũng phòng bì đỏ cũng bánh chưng
Hoa mai cúc huệ lan tươi thắm
Nhạc khúc xuân vang tiếng chúc mừng

Tuy vậy sao lòng vẫn xót xa
Bao năm chưa nguôi nỗi nhớ nhà
Tôi người viễn xứ mùa xuân ấy
Thầm ước ngày về ôi thiết tha
(Sao Linh)

Về ý nghĩa thì bánh chưng và bánh giầy đã bao gồm được tất cả lòng thành kính hướng về cội nguồn, những chiếc bánh thảo thơm là lễ vật ý nghĩa thờ cúng các Vua Hùng, cũng gia tiên, cũng là lời nguyện cầu và cũng là niềm tin vào quốc thái dân an, mùa màng bội thu, ấm no, hạnh phúc. Vì chứa đựng nét đẹp văn hóa tâm linh cả về triết học lẫn thực tiễn nên bánh chưng, bánh giầy đã tồn tại suốt mấy nghìn năm và sẽ còn mãi mãi sau này.

 

Biên khảo Nguyễn Thị Hồng, 6.2.2018

Đêm lạnh Sài Gòn, đủ kiểu ngủ ngoài trời của người vô gia cư

Đêm lạnh Sài Gòn, đủ kiểu ngủ ngoài trời của người vô gia cư

Trong lúc nhiều gia đình đang say giấc thì đâu đó tại những góc đường, trạm xe buýt, gầm cầu…, không ít người vô gia cư đang nằm co ro trong đêm lạnh giữa khuya Sài Gòn. Những ngày cuối năm, Sài Gòn lạnh và người ngoài đường thì co ro.
Ông Trần Văn Khỏi (Thái Bình) lang thang ở TP.HCM hơn 8 năm nay và đêm đêm ngủ trên cầu Calmette /// Ảnh: Lam Ngọc

 Ông Trần Văn Khỏi (Thái Bình) lang thang ở TP.HCM hơn 8 năm nay và đêm đêm ngủ trên cầu Calmette

ẢNH: LAM NGỌC
Khu vực trung tâm như quận 1, quận 3, quận 5… có số lượng người vô gia cư ngủ nhiều nhất. Ban ngày họ mưu sinh bằng đủ nghề như: Bán vé số, đạp xích lô, nhặt ve chai… tối đến thì bạ đâu là ngủ đó sau một ngày tất bật mưu sinh.

Ông Trần Văn Bùi (Long An) sống bằng nghề đạp xích lô chia sẻ: “10 năm nay tôi làm nghề đạp xích lô. Lúc có khách thì chạy, mệt quá thì nằm ngủ tại chỗ. Tôi nghĩ ngủ ở đâu cũng vậy. Thuê phòng thì lại tốn thêm một khoản nên đành tiết kiệm”. Ông Bùi còn cho hay: “Ngủ ngoài đường mưa gió tôi chịu được nhưng sợ nhất là ăn trộm. Lỡ lúc mình ngủ nó lấy mất chiếc xe. Bởi vậy khi ngủ tôi phải buộc thật chặt tay vào chiếc xe thì mới yên tâm”.

Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 1

 

Ông Lê Hoài Vân (56 tuổi, quê Thanh Hóa) làm nghề bán vé số. Ông cho biết cứ đến tối bán đến đâu thì tìm hành lang có mái hiên ngả lưng

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 2

 

Cô Huỳnh Thị Thơm (46 tuổi, quê Vĩnh Phúc) mắc võng ngủ tạm trên đường đi nhặt ve chai

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 3

 

Ông Tài và ông Long ngủ tạm trên chiếc xe xích lô trên đường Nguyễn Công Trứ, Q.1

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 4

 

Người vô gia cư ngủ tạm trên vỉa hè đường Hoàng Dịu, Q.4

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 5

 

Anh Nguyễn Văn Tâm (Bình Định) ngủ trên đường Trần Não, Q.2

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 6

 

Ông Ngô Văn Hải (63 tuổi, quê Thái Bình) hằng ngày bán vé số và tối về ngủ tạm trên vỉa hè đường Nguyễn Tất Thành, Q.4

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 7

 

Anh Thái Văn Thanh ngủ tạm trên chiếc xe ba gác chờ khách gọi chở hàng ra chợ

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 8

 

Bà Nguyễn Thị Huệ (nhặt ve chai), trùm cái bạt rách ngủ tạm trên đường Bến Bình Đông, Q.4

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 9

 

Ông Trần Văn Cung (Kiên Giang) bán vé số dạo sau đó về ngủ cạnh chân cầu

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 10

 

Ông Nguyễn Văn Sáu (72 tuổi, Nghệ An) co ro trên chiếc xe xích lô trong đêm lạnh trên đường Nguyễn Duy Trinh, Q.1

ẢNH: LAM NGỌC
Đủ kiểu ngủ đêm của người vô gia cư tại TP.HCM 11

 

Ngủ ngoài trời thường xuyên, những người vô gia cư đối mặt với nguy cơ mắc bệnh

ẢNH: LAM NGỌC

Niên Trưởng Nguyễn xuân Phúc và TIỂU ĐOÀN 2 TRÂU ĐIÊN

Phạm Văn Tiền Sư Đoàn TQLC có rất nhiều tiểu đoàn tác chiến, nhưng ai cũng ao ước mình là một chiến sĩ trong tiểu đoàn Trâu Điên. Tiểu đoàn Trâu Điên cũng đã được chỉ huy qua rất nhiều vị Tiểu đoàn trưởng xuất sắc để trở thành một đơn vị ưu tú nhất […]

via Niên Trưởng Nguyễn xuân Phúc và TIỂU ĐOÀN 2 TRÂU ĐIÊN — dòng sông cũ

TỬ CẤM THÀNH – 1 Công trình kiến trúc của người VN nhưng bị TQ che giấu trên 600 năm – VietSub

TỬ CẤM THÀNH – 1 Công trình kiến trúc của người VN nhưng bị TQ che giấu trên 600 năm – VietSub
Bản chất của Trung Quốc là gian xảo, đánh bóng uy danh đất nước bằng thiên tài của người khác. Kinh Phật mà họ còn dám ngụy tạo thì có chuyện gì mà họ không dám làm. Những người còn mê mờ với Đại Thừa TQ nên thức tỉnh, tội ác của TQ chất chồng, lòng cuồng tín không còn gì cản ngăn. Tham vọng của TQ là thống lãnh cả thế giới này, khi ấy không còn nghe nói đến Phật Thích Ca, người người chỉ còn biết sùng kính A Di Đà, một ông Phật do họ sáng tạo.

Bộ phim “Tử Cấm Thành: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa” được phát hình rộng rãi từ tháng 11 năm 2008. Công việc phụ đề Việt ngữ cho bộ phim lịch sử này do 3 người trẻ ở Âu châu khởi xướng và thực hiện. Thoạt tiên do cô Phương Thùy (Finland) giới thiệu và Xuân Trường cùng Cẩm Vân (Germany) bắt tay thực hiện và hoàn tất vào giữa tháng 9-2009.
Nội dung phim xoay quanh bạo chúa Tàu triều Minh, Thành Tổ Vĩnh Lạc, tức Chu Đệ, con thứ tư của vua khai sáng triều Minh Chu Nguyên Chương. Từ bé, Chu Đệ được đánh giá là người đa mưu, túc trí. Khi mới 9 tuổi đầu, Chu Đệ đã một mình, không cần tùy tùng, có thể tự mưu sinh được trong rừng sâu núi thẳm. Sau khi dấy binh cướp ngôi vua từ tay ấu chúa vốn là cháu của mình, Chu Đệ đã ra tay tàn sát tất cả triều thần cũ để trừ hậu hoạn và thay vào đó, ông trọng dụng thái giám. Trong đám thái giám cận thần, có Nguyễn An, nguyên là tù binh từ Việt Nam, được Chu Đệ giao cho việc vẽ kiểu và chỉ huy hàng triệu nhân công để xây dựng cung đình, nội phủ cho Minh triều.
“Viên thái giám Nguyễn An là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Thiết kế bậc thầy của ông dựa trên những chuẩn mực lâu đời. Không có chi tiết nào được phác thảo một cách ngẫu nhiên, mà tất cả đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó.
“Làm thế nào mà Nguyễn An lại có thể xây dựng một cung điện đồ sộ như thế chỉ trong có 3 năm ?
“Tham vọng xây dựng một cung điện sánh ngang với đất trời của Chu Đệ đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên công trình để đời của ông lại chứa đựng sẵn trong nó mầm mống của sự suy tàn…”
Thế mà suốt trong 600 năm liền, người Tàu dấu nhẹm tác giả công trình xây dựng Tử Cấm Thành. Chuyện được phanh phui vào năm 1986 khi đại học Cambridge, Hoa Kỳ ghi thuật chi tiết việc kiến trúc Tử Cấm Thành vào thời Minh Thành Tổ, do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt Nam đảm trách.
Tháng 11-2008, đài truyền hình ZDF Dokukanal (Đức) thực hiện bộ phim Tử Cấm Thành Bắc Kinh: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa, một lần nữa làm sáng tỏ thêm về tác giả công trình kiến trúc đồ sộ bậc nhất thế giới này.

Đại sứ Cá Mập

Đại sứ Cá Mập

Từ Thức (Danlambao) – Các thiếu nữ đang phơi ngực diễn hành ở trong nước, bày tỏ sự kiêu hãnh của đội bóng tròn VN đã “đặt Á Châu dưới chân” (theo một tờ báo lề đảng), nên biết ở nước ngoài, người ta ít nói tới chuyện đó hơn là chuyện tòa Đại sứ VN ở Chili phơi vây cá trên nóc nhà.

Chuyện hy hữu trong lịch sử ngoại giao: một cơ quan đại diện cho quốc gia, dân tộc, làm chuyện bất hợp pháp để kiếm tiền như một tổ chức trộm cướp. Làm chuyện man rợ, góp phần vào việc tàn phá môi trường trong khi nhiệm vụ của mỗi quốc gia là phải chung sức với thế giới bảo vệ môi sinh.

Dưới đây là tóm tắt bài của tờ báo địa phương Elmostrador:

Xác cá mập còn tươi phơi trên nóc nhà tòa đại sứ Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Hàng trăm vây Cá Mập phơi trên nóc nhà Sứ quán khiến cộng đồng khoa học Quốc gia và thế giới vẫn nộ

Ngỡ ngàng, khó tin và kinh ngạc. Ba từ ngữ này tóm tắt phản ứng của cộng đồng khoa học ở Chili và trên khắp thế giới khi đọc tin, ngày 18/01, vây cá mập phơi trên nóc nhà tòa đại sứ VN Ở Chili, Nam Mỹ.

Những vây cá mập, phơi trên nóc nhà một trụ sở của sứ quán đã khiến người trong khu để ý vì mùi hôi thối.

Việc bắt giết cá mập, bất hợp pháp ở Chili cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới vì luật pháp bảo vệ một sinh vật đang bị đe dọa tuyệt chủng. Mỗi năm 100 triệu cá mập bị giết, nhiều hơn số cá sinh nở. Một số dân chài lưới làm chuyện bất hợp pháp này vì vây cá mập rất được giá trong những tiệm ăn Tàu và Việt.

Đây là lần đầu tiên người ta thấy chuyện phơi vây cá mập còn tươi ngay trong thành phố. Alex Munoz, giám đốc vùng Mỹ Châu La tinh của tổ chức Pristine Seas, thuộc National Geographic Society, nói: “Tôi không tin nổi. Tôi vẫn muốn biết người ta đã phơi vây cá ở đâu, nhưng không bao giờ nghĩ có thể ở ngay trong thành phố. Đây là lần đầu tiên tôi thấy chuyện này ở Chili.”

Việc khám phá vây cá mập phơi trên nóc nhà một toà đại sứ gây tiếng vang lớn, vì rơi đúng lúc bà Sylvia Earle, một trong những chuyên viên bảo vệ môi trường được kính nể nhất thế giới, đang thuyết trình về hiểm họa diệt chủng của cá mập, và từ đó, hiểm họa mất cân bình của biển cả, tại hội nghị về tương lai của trái đất, một hội nghị khoa học quan trọng nhất tại Nam Mỹ.

Bà nói phá sự cân bằng sinh sôi nẩy nở ở biển cả là tàn phá nguồn sống của nhân loại

Max Bello, một trong những chuyên viên đã bỏ cả đời trong việc bảo vệ cá mập, nói: giết hại cá mập kiểu này là gây đại họa cho biển cả. Cá mập giữ thăng bằng môi sinh, loại trừ bệnh tật và những hiện tượng bất bình thường ở loài cá.

Matias Asun, giám đốc Greenpeace tại Chili, nói bắt cá, chặt vây là một hành động man rợ, đe dọa môi trường, việc bảo vệ cá mập phải được sự công tác của tất cả các quốc gia.

Việc khám phá vây cá mực phơi trên nóc nhà toà đại sứ có thể gây một vấn đề ngoại giao, vì nhân viên sứ quán đã lạm dụng quyền bất khả xâm phạm của các cơ sở lãnh sự để làm chuyện phi pháp.

Trước áp lực của các hội đoàn bảo vệ môi trường, Bộ ngoại giao Chili cho hay đã tìm mọi cách liên lạc với toà đại sứ Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề, nhưng toà đại sứ không trả lời. Mỗi lần vấn đè được nêu ra, họ ngang nhiên cúp điện thoại.

Tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace tuyên bố chính quyền địa phương phải có thái độ, phải làm sáng tỏ chuyện này. Phải coi là rất hệ trọng một chuyện như vậy có thể xẩy ra trên lãnh thổ Chili.

Nguyên văn bài báo trên tờ Elmostrador:

http://www.elmostrador.cl/cultura/2018/01/19/cientos-de-aletas-de-tiburon-sobre-tejado-en-providencia-conmociona-a-la-comunidad-cientifica-nacional-e-internacional/

Bản dịch Pháp ngữ bài nói trên (rất ngây ngô, vì dịch tự động, kiểu Google:

https://translate.google.fr/translate?hl=fr&sl=es&u=http://www.elmostrador.cl/cultura/2018/01/19/cientos-de-aletas-de-tiburon-sobre-tejado-en-providencia-conmociona-a-la-comuni

22/1/2018

Từ Thức
danlambaovn.blogspot.com

Share this :
http://danlambaovn.blogspot.com/2018/01/ai-su-ca-map.html

10 câu nói lưu danh sử sách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

10 câu nói lưu danh sử sách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

 Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là thiên tài quân sự. Ông có những câu nói được lưu danh sử sách, trở thành bài học cho hậu thế.

10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 1
Sau thất bại năm 1258, đến năm 1285, vua Nguyên sai con trai là Thoát Hoan kéo quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất mạnh, tiến vào Thăng Long. Trước thế rất mạnh của địch, thượng hoàng Trần Thánh Tông tỏ ra lo lắng, hỏi có nên hàng không. Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo trả lời: “Bệ hạ chém đầu thần rồi hãy hàng”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 2
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285), trên đường tránh giặc truy đuổi, nghe Dã Tượng nói “Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền”. Quả nhiên, khi Trần Hưng Đạo đến nơi, chỉ có thuyền Yết Kiêu vẫn còn ở đó, ông mừng lắm, nói: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu trụ cánh ấy thì cũng chim thường thôi”. Ý của Hưng Đạo Vương rất rõ ràng một danh tướng dù tài giỏi đến mấy cũng cốt ở các bộ hạ.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 3
Sau 2 thất bại liên tiếp vào các năm 1258 và 1285, năm 1287, nhà Nguyên lại đem quân sang xâm lược nước ta lần thứ ba. Ngày 14/11/1287, khi biết tin cánh quân Vân Nam của nhà Nguyên đánh ải Phú Lương, vua Trần Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: “Năm nay đánh giặc thế nào?”. Ông quả quyết: “Năm nay đánh giặc nhàn”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 4
Tháng 2 âm lịch năm 1287, nhà Nguyên điều động quân, chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt. Các quan Đại Việt xin bắt tráng đinh sung quân để quân đội đông hơn, nhưng Hưng Đạo Vương không đồng ý. Ông nói: “Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông. Dẫu đến một triệu quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm gì được?”. Không ngoài nhận định của Trần Quốc Tuấn, dù phải đối đầu đội quân đông đảo, thiện chiến của nhà Nguyên, nhưng với chiếc lược, sách lược hợp lý, quân dân nhà Trần đánh tan đạo quân xâm lược với đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 5
Vì lợi ích chung, Trần Quốc Tuấn sẵn sàng gạt bỏ hiềm khích với Trần Quang Khải do từ đời trước để lại. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Hưng Đạo thì thích tắm thơm, liền bảo: “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm dùm”, rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông. Từ đó, mối hiềm khích được loại bỏ, về sau, hai ông đã có những đóng góp to lớn trong kháng chiến chống quân Nguyên.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 6
Khi vua Trần Thánh Tông thân chinh đánh giặc ở Quảng Bình, Trần Quang Khải đi theo, ghế tể tướng bỏ trống, vừa lúc có sứ phương Bắc đến. Thượng hoàng Trần Thái Tông gọi Trần Quốc Tuấn tới, tỏ ý định lấy ông làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc. Trần Quốc Tuấn trả lời: “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm tư đồ thì không dám vâng chiếu. Huống chi quan gia đi đánh giặc xa, Quang Khải theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng quan gia và Quang Khải. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 7
Tháng 6/1300, Hưng Đạo Vương ốm nặng, vua Trần Anh Tông tới thăm và hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược, kế sách như thế nào?”. Trần Quốc Tuấn nói rằng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước muôn đời vậy”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 8
Cũng bàn về mưu kế chống giặc cho đời sau, Hưng Đạo Vương đã lấy những dẫn chứng về quá trình chống giặc ngoại xâm của dân tộc và nói: “Họ cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 9
An Sinh vương Trần Liễu (cha Trần Quốc Tuấn) và em trai là vua Trần Thái Tông vốn có hiềm khích nên trước khi qua đời, Trần Liễu dặn Trần Quốc Tuấn cướp ngôi. Ông để trong lòng nhưng không cho là phải, sau đem chuyện đó ra hỏi các gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng, con trai Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, họ đều khuyên không nên làm thế. Riêng người con thứ là Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng khuyên ông cướp ngôi. Nghe xong, Trần Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng. Hưng Vũ Vương vội chạy tới khóc lóc xin tha tội, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 10
Trước khi mất, vị tướng kiệt xuất đã dặn lại con cháu: “Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục”.
10 cau noi luu danh su sach cua Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan hinh anh 11
Trần Quốc Tuấn và quyết tâm đánh giặc Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng quân dân nhà Trần 3 lần đánh tan quân Nguyên – Mông xâm lược.

Như Ý – Thanh Điệp

Video: VTV