SÀI GÒN TRƯỚC 1975 ĐÃ TỪNG CÓ DỰ ÁN XÂY DỰNG TÀU ĐIỆN TRÊN CAO

{ CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT } 42 năm sau phỏng giái csVN nằm mơ cũng chưa thấy được !

SÀI GÒN TRƯỚC 1975 ĐÃ TỪNG CÓ DỰ ÁN XÂY DỰNG TÀU ĐIỆN TRÊN CAO

Kế hoạch đầy tham vọng 154 tỷ USD xây dựng tuyến đường sắt đô thị ở Đô Thành Sài Gòn đã từng được lên kế hoạch 50 năm trước. Vào giữa những năm 1960, các cuộc tấn công của phiến quân Việt Cộng (tự xưng là Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ) đã phá hủy nghiêm trọng hệ thống tàu lửa của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khiến cho hệ thống đường sắt từ Vĩ Tuyến 17 trở vào Nam bị chia cắt thành 3 khu vực tách biệt.

Trong khi quân đội đồng minh Hoa Kỳ cố gắng xây dựng các cơ sở hậu cần và các căn cứ hỗ trợ cho binh sĩ thì việc sửa chữa hệ thống tàu lửa đã trở thành ưu tiên hàng đầu cùng với việc cải tiến sân bay và mở rộng cảng tàu. Vào tháng 6/1966, Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV), USAID, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà và Bộ tổng tham mưu đã đưa ra “Chương trình thay thế đường tàu bị phá hoại” để phục hồi hệ thống tàu lửa. Nhờ khoản đầu tư khổng lồ của Mỹ nên Bộ giao thông đã quyết định nắm cơ hội này để kêu gọi các khoản tài trợ khác từ Mỹ để thực hiện các dự án liên quan tới cơ sở hạ tầng giao thông.

Theo tài liệu của Cục văn thư quốc gia Mỹ vào năm 1966, Bộ giao thông Việt Nam Cộng Hòa đã chính thức thông qua đề án của chuyên gia “tàu điện trên không” người Pháp của tập đoàn SAFEGE – Transport (Socíeté Anonyme Française d’ Etude de Gestion et d’ Entreprises) về việc xây dựng 2 tuyến Monorail với các tuyến đường không khác nhiều so với hệ thống tàu điện đã từng bị loại bỏ một thập kỷ trước. Phần kế hoạch hấp dẫn nhất được đưa ra vào năm 1966 là xây dựng hệ thống Monorail hai lane hiện đại nối liền Phú Lâm, Chợ Lớn, Sài Gòn và Gia Định (Bình Thạnh hiện nay).

Tàu sẽ xuất phát từ ga Sài Gòn và tàu sẽ chạy trên cao từ đây, nối với ga trung tâm là một tòa nhà 15 tầng bao gồm văn phòng, khách sạn và nhà ở nằm phía trên chợ Bến Thành. Monorail tuyến 1 sẽ đi 9,4 km từ Phú Lâm qua Chợ Lớn tới chợ Bến Thành trên công trường Diên Hồng (hiện tại là Quách Thị Trang). Từ đó nối với Monorail tuyến 2 đi 6,6 km dọc theo Hàm Nghi tới khu cảng Sài Gòn rồi đi theo hướng Tây Bắc dọc theo Đại lộ Cường Đế (đường Tôn Đức Thắng hiện nay) tới Hồng Thập Tự (đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay) và cuối cùng là đi theo hướng Đông Bắc về Đa Kao và Gia Định.

Toàn bộ dự án sẽ tiêu tốn ít nhất 48 triệu USD xây dựng và toàn bộ phụ thuộc vào viện trợ tài chính của nước ngoài. Tuy nhiên, dự án này lại không thể gây ấn tượng với người Mỹ. Cùng với dự án đường sắt trên cao, dự án Monorail Sài Gòn năm 1966 đã không thể thực hiện được do thiếu vốn.

Image may contain: sky and outdoor
LikeShow more reactions

Comment

Vì sao khai tử điện hạt nhân Ninh Thuận?

Vì sao khai tử điện hạt nhân Ninh Thuận?

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-11-11

Mô hình nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận

Courtesy dienhatnhan.com.vn

Vì sao khai tử điện hạt nhân Ninh Thuận?

Quốc hội Việt Nam sẽ chính thức biểu quyết khai tử dự án điện hạt nhân Ninh Thuận vào ngày22/11/2016 sắp tới theo Nghị quyết do Chính phủ đệ trình.

Báo chí dòng chính mô tả việc dừng điện hạt nhân Ninh Thuận là quyết định dũng cảm, trong bối cảnh dự án đã tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng cho việc lập dự án tiền khả thi, giải phóng mặt bằng và đưa hàng trăm người đi đào tạo ở nước ngoài.

Nhà nghèo chơi sang

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển IDS một tổ chức độc lập đã tự giải thể từ Hà Nội nhận định:

Có lẽ họ ở vào một cái thế rất là bí, thực sự là không có tiền mà không tiền thì chẳng có thể làm được cái gì cả. Hết các khả năng mà người ta cho vay rồi.
-TS Nguyễn Quang A

“Có lẽ họ ở vào một cái thế rất là bí, thực sự là không có tiền mà không tiền thì chẳng có thể làm được cái gì cả. Hết các khả năng mà người ta cho vay rồi, tôi nghĩ nếu mà vẫn có ai đó cho vay tiền thì họ vẫn kiên quyết làm, chứ không phải vì họ nghe chúng tôi phản biện hay là phân tích mà họ làm đâu, thuần túy đơn giản nhất là hết tiền…”

Cách đây 7 năm vào tháng 11/2009, Quốc hội Việt Nam thông qua Dự án điện hạt nhân với hai nhà máy tổng công suất 4.000 MW được xây dựng ở Ninh Thuận. Từ đó tới nay giới khoa học đã bày tỏ nhiều quan ngại về vấn đề an toàn hạt nhân, thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine và tai nạn ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima Nhật Bản được viện dẫn để cảnh báo. Giới khoa học cũng đề cập tới xu hướng ở nhiều nước tiến tới giảm dần điện hạt nhân. Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận dự trù tổng vốn đầu tư 200.000 tỷ đồng nhưng nay đã tăng lên gấp đôi.

Nhà khoa học môi trường nghĩ gì về việc dự án điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam bị khai tử. Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ nhận định:

“Việc quyết định xin dừng lại dự án điện hạt nhân Ninh Thuận là cũng phù hợp trong điều kiện hiện nay. Theo tôi có rất nhiều vấn đề, trước tiên hiện nay nhu cầu điện thực sự của Việt Nam trong thời gian ngắn sắp tới không quá cao để phải xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Thứ hai kinh phí xây dựng nó khá lớn so với điều kiện ngân sách Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, trình độ quản lý của người Việt Nam chưa hẳn là cao để có thể quản lý những công trình phức tạp như vậy. Thứ tư, hiện nay dư luận rất lo ngại vấn đề môi trường đã diễn biến trong thời gian qua. Người dân rất lo sợ về một sự cố liên quan tới tai nạn hạt nhân, đây là điều rất khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng có rất nhiều lý do khác nhau để dừng dự án điện hạt nhân trong giai đoạn hiện nay.”

Hầu hết báo điện tử dòng chính như VnExpress, Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Zing News, Vneconomy cùng đưa nhiều tin bài cho thấy khá nhiều nguyên nhân dẫn tới Nghị quyết của Chính phủ xin dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.

Ông Lê Hồng Tịnh, Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, nói với báo chí bên lề phiên họp ngày 10/11/2016 là tính khả thi của dự án đã bị triệt tiêu. Theo đó tổng mức đầu tư leo thang gấp đôi dự kiến ban đầu mà Quốc hội đặt ra là 200.000 tỷ đồng; giá thành điện mà dự án điện hạt nhân sản xuất dự kiến 4,9 xu Mỹ/kilowatt giờ thì nay đã lên tới 8 xu Mỹ. Tính toán về tăng trưởng kinh tế 9-10% một năm với thực tế tăng trưởng 6-7% một năm cho thấy nhu cầu điện cũng tăng thấp hơn nhiều. Nếu thiếu điện Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời.

Ông Lê Hồng Tịnh đặc biệt nhấn mạnh là sau thảm họa môi trường biển do Formosa Hà Tĩnh gây ra, có quan ngại vấn đề chất thải hạt nhân tiềm ẩn những yếu tố mất an toàn. Một yếu tố hệ trọng mà ông Lê Hồng Tịnh chừa lại sau cùng là nợ công đang quá trần, nếu tiếp tục đầu tư một dự án lớn, nợ công có nguy cơ tăng nữa.

Sửa sai quá khứ

Theo Tuổi Trẻ Online, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trong những năm qua đã chi tiêu hàng nghìn tỷ đồng, giải phỏng mặt bằng dự án, đầu tư đưa người đi du học chuyên môn hạt nhân. Ông Lê Hồng Tịnh, Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội trả lời, dù có lãng phí thì dừng vẫn là cần thiết, còn hơn tiếp tục triển khai thì hậu quả rất lớn. Ông Lê Hồng Tịnh đã mô tả quyết định của Chính phủ xin dừng dự án là một hành động dũng cảm và cần rút ra những bài học trong việc chuẩn bị các dự án và phê duyệt các dự án…

Nhà khoa học đánh giá thế nào về việc Chính phủ có hành động sửa sai những quyết định sai lầm của quá khứ. Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ nhận định:

Dần dần người ta thấy là, nếu cứ làm theo kiểu chủ quan như ngày xưa thì phải trả giá khá nhiều, đặc biệt trong điều kiện mà càng lúc càng khó khăn như thế này thì sự xem xét lại là điều rất cần thiết.
-PGS Lê Anh Tuấn

“Dần dần người ta thấy là, nếu cứ làm theo kiểu chủ quan như ngày xưa thì phải trả giá khá nhiều, đặc biệt trong điều kiện mà càng lúc càng khó khăn như thế này thì sự xem xét lại là điều rất cần thiết. Chuyện này giống như trước đó ở Việt Nam ồ ạt xây dựng nhà máy thủy điện, sau này chính phủ phải xem xét loại bỏ những nhà máy nguy cơ hiệu quả không cao, trong khi đó những tác động về xã hội và môi trường lại lớn. Tôi nghĩ rằng đây là một bước tiến so với tư duy cách đây 10 năm 20 năm trước.”

Mạng Zing News ngày 10/11/2016 trích lời Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh phát biểu với báo chí bên lề phiên họp Quốc hội, theo đó việc dừng dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là bất khả kháng, lúc này rất cần một quyết sách của Đảng Nhà nước và Quốc hội để Việt Nam có những bước đi đảm bảo sự phát triển bền vững, bảo đảm các khía cạnh phát triển của đất nước trong tất cả các lĩnh vực.

Chúng tôi nêu câu hỏi phải chăng Việt Nam đang thực hiện khẩu hiệu không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn nhận định:

“Vấn đề môi trường ở Việt Nam còn rất nhiều điều đáng bàn, ví dụ các nhà máy nhiệt điện than thì vẫn tiếp tục xây dựng, nhiệt điện than cũng tạo ra những yếu tố nguy cơ về môi trường. Tới bây giờ vẫn chưa có điều chỉnh gì lớn dù có một số ý kiến là phải giảm bớt số nhà máy đó lại. Đồng thời vấn đề lớn là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội không cao nên phải điều chỉnh lại. Mặc dầu chính phủ sau này cũng nói rất nhiều là không đánh đổi môi trường bằng mọi giá để phát triển kinh tế. Nhưng thực sự là có rất nhiều dự án vẫn chưa có sự điều chỉnh lớn, chỉ điều chỉnh cho những kế hoạch trong tương lai chuẩn bị làm mà có nguy cơ về môi trường thôi.”

Áp lực nợ công cũng là một trong những nguyên nhân của Nghị quyết Chính phủ xin dừng dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận. Nếu tiếp tục triển khai như đang làm từ 7 năm qua thì chủ đầu tư là Tập đoàn Điện lực Việt Nam của Nhà nước sẽ phải vay những khoản tín dụng rất lớn do Chính phủ bảo lãnh. Câu chuyện khai tử điện hạt nhân Ninh Thuận diễn ra trong bối cảnh Quốc hội vừa chấp thuận nâng trần nợ chính phủ từ 50% GDP lên 54% GDP.

Phó Giáo sư Ngô Trí Long chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:

“Vừa rồi Quốc hội thông qua vẫn giới hạn trần nợ công như vậy, còn trần nợ chính phủ đối với GDP có nâng lên là vì bất khả kháng, nó đã vượt trần bây giờ không nâng không được. Theo quan điểm cá nhân đây là việc bất khả kháng thực thi cái đã rồi.

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam bây giờ nợ nần chồng ngập mà mỗi người dân phải gánh chịu quá mức. Nếu Việt Nam không tiến hành thay đổi mô hình tăng trưởng, không tiến hành tái cơ cấu một cách thực chất thì chắc chắn đến một lúc nào đó, khả năng về khủng hoảng nợ sẽ xảy ra đã là hiện hữu.”

Nghị quyết của Chính phủ Việt Nam xin Quốc hội khai tử dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, từng có thời gian là niềm tự hào lẫn ước mơ của Đảng Cộng sản Việt Nam, được báo chí dòng chính mô tả là một hành động dũng cảm. Phải chăng Việt Nam đang đứng trước nhu cầu cải cách thay đổi tư duy chính trị và kinh tế hết sức mạnh mẽ, như lời Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh phát biểu tại hành lang Quốc hội ngày 10/11 là: “cần thiết một quyết sách của Đảng, Nhà nước và Quốc hội với những bước đi để tạo sự phát triển bền vững, bảo đảm các khía cạnh phát triển của đất nước trong tất cả các lĩnh vực.”

VY HUYỀN ĐẮC * PHẠM DUY TỐN * VŨ HOÀNG CHƯƠNG *

VY HUYỀN ĐẮC * PHẠM DUY TỐN * VŨ HOÀNG CHƯƠNG *

Thursday, June 11, 2015

VŨ QUẦN PHƯƠNG * VY HUYỀN ĐẮC

Kịch tác gia Vi Huyền Đắc qua lời kể của người con trai

13:30 11/06/2009

Vi Huyền Đắc rất quý sách. Sách tới tay ông, của các tác giả trong nước như các nhà văn trong nhóm Tự Lực văn đoàn và bạn bè hay các tác giả nước ngoài… ông đều đóng bìa cứng, bìa da bày ngay ngắn trong các giá sách. Ông mê các tấm gương tự lập, những người tạo sự nghiệp từ hai bàn tay trắng như các nhà tư bản Rockfeller, Canergie nhưng lại không ưa bóc lột. Ông phục hoàng đế nước Pháp Napoléon nhưng ghét Tây thực dân.

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

Đăng bởi Thùy Trâm vào Thứ Hai, ngày 31 tháng 10 năm 2016 | 31.10.16

“Năm năm vàng son 1955-60” của Việt Nam Cộng Hòa

Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.

May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.

Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.

Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.

Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.

Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.

Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời” như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.

Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.

Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.

Đoàn người này hoàn toàn ‘tay trắng’ – chúng tôi gọi là đoàn người ‘bốn không’: không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?

Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:

“Thưa Tổng thống,

Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.

Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.

Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.

‘Đất Nước tôi’: đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.

Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.

Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và quy chế ‘Quốc tịch Việt’

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.

Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

  Lý do sâu xa [của quy định Quốc tịch Việt] là vì khi ấy cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp; TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam, và ông tiên liệu trước, mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam, với mục đích là để họ sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.

Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.

Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.

Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.

Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.

Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).

Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.

Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.

Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.

Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.

Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.

Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.

Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.

Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:

“Kính thưa Tổng Thống,

Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập.”

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.

Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.

Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.

Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn cả Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ.

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.

Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa (“The First Day”) thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.

Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào’ mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốnKhi Đồng minh Tháo chạy và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.

Nguyễn Tiến Hưng
Cựu Tổng trưởng VNCH
Gửi từ Virginia, Hoa Kỳ

http://www.vanews.org/2016/10/nam-nam-vang-son-1955-60-cua-viet-nam.html#.WBa3R4wFew4.google_plusone_share

Đứa con của biển và đứa con của chế độ

Đứa con của biển và đứa con của chế độ

Tác giả : Phong Nguyễn

Video minh họa “Đạo đức người cộng sản”

Trong vòng chưa đầy ba năm, có gần 4,500 tàu cá của ngư dân Việt Nam bị bắn phá, đâm chìm và bắt bớ trên biển Đông. Cũng trong vòng chưa đầy ba năm, có hơn 2000 ngư dân bị bắt bớ, đánh đập và bắn giết. Đây là một con số quá khủng khiếp cho một làng nghề! Và cái chết, sự mất mát của những người chịu nắng, chịu gió, chịu mọi khổ đau của chính trị nhược tiểu để bám biển, để thực thi chủ quyền lãnh hải chỉ có Mẹ Biển chứng kiến, ôm lấy thân thể họ cùng tiếng ai điếu của trùng khơi. Họ là những người con của biển cả, của danh dự trong âm thầm và anh hùng trong bóng tối. Họ là đứa con của biển Việt Nam.

Xác ngư dân bị TQ bắn chết
Xác phi công Su 30

Điều này khác xa với những anh hùng của chế độ, đương nhiên, cái chết và sự mất mát của những phi công đã tập dượt, tìm kiếm cứu nạn và cuối cùng mất tích trên biển Đông là một sự mất mát lớn của chế độ, cũng là sự mất mát của dân tộc. Bởi suy cho cùng, dân tộc, nhân dân đã cưu mang, che chở và nuôi sống chế độ. Từ chiếc áo cho đến chén cơm, chiếc máy bay, xăng để bay và mọi thứ trang bị cho người phi công đều do nhân dân mà có. Những phi công đã mất tích và tử nạn trên biển Đông cũng là những đứa con của nhân dân, con của biển cả!

Nhưng, sự khác nhau rất rõ rệt giữa những ngư dân và các phi công nằm ở chỗ, ngư dân vừa đóng vai trò nhân dân để nuôi chế độ, vừa đóng vai trò người lính giữ vững tiền tiêu và bảo vệ chủ quyền lãnh hải lại vừa đóng vai trò đứa con của biển khơi khi cái chết ghé đến, sự im lặng, không tên tuổi mang cái chết của họ đi như bọt sóng trong một ngày gió lớn. Cái chết đầy bi hùng của người vạn chài chìm trong im lặng và hình như quốc gia đã không hay biết để đưa tang cho họ.

Ngược lại, cái chết của những đứa con chế độ thì khác, cái chết của họ vô hình trung làm khuấy động bầu không khí vốn đóng băng suốt nhiều năm nay trong lòng chế độ. Sự đóng băng của tính tham lam, ích kỉ và vô cảm. Sự đóng băng của những đố kị, kèn cựa địa vị, thủ đoạn hất nhau tranh quyền lực đã được hâm nóng bởi một vở kịch mà ở đó, cả báo chí nhà nước lẫn giới quan chức cấp cao trong quân đội, không ai nói ai, tất cả tự biến mình thành một kịch sĩ của nước mắt và bi ai.

Cái chết của những đứa con chế độ được bi kịch hóa đến đỉnh điểm, ở đó, người ta khóc mếu máo… Từ tướng lĩnh cho đến trí thức nhà nước, quan chức và những người lính… Tất cả họ chìm trong một trận bi ai của một kịch bản soạn sẵn, những ai chứng kiến đều phải rơi nước mắt. Có thể nước mắt của nhiều binh sĩ, sĩ quan quân đội Cộng sản là nước mắt thật chảy ra từ đáy lòng. Bởi hơn ai hết, họ thấu hiểu nỗi đau của đồng nghiệp, đồng chí và họ cũng thấu hiểu nỗi khốn khó của một người lính phải sống, học tập và chiến đấu trong một thứ cơ chế mà ở đó hiện hữu tất cả sự gian trá và đau khổ dành cho họ. Thậm chí, có thể họ hiểu cả nguyên nhân của cái chết, một nguyên nhân không phải bởi sự sơ xuất của người lính hay viên đạn, hòn tên của kẻ thù mà chính ở sự mất nhuệ khí, sự bạc nhược của chế độ mà họ đang phục vụ.

Và, có một vấn đề then chốt để thấy rằng cái chết của những người con biển cả khác xa cái chết của những người con chế độ. Bởi cái chết của những người con biển cả âm thầm và lặng lẽ, thậm chí thiếu cả những tiếng kèn trống ai điếu. Nhưng bên trong cái chết không tên tuổi ấy là sức mạnh của của một dân tộc là niềm tin vào lẽ phải và sự quyết liệt của con dân Việt Nam trong ý chí bảo vệ biển đảo, bảo vệ lãnh hải.

Những cái chết không tên tuổi, không tiếng vang của các ngư dân đã để lại trong lòng biển Đông những con sóng, những làn sóng yêu nước và quyết tâm giữ lấy biển đảo quê hương. Không ai nói ai, tự trong lòng mỗi người nhận ra sự tàn khốc của kẻ thù và chuẩn bị cho mình một tư thế để chiến đấu với quân xâm lược. Những cái chết tưởng chừng nhỏ nhoi ấy lại thắp lên ngọn lửa yêu nước và niềm hy vọng chống quân bành trướng, xua kẻ thù ra khỏi lãnh địa, lãnh hải quốc gia mạnh hơn bao giờ hết.

Ngược lại, những cái chết của đứa con chế độ, tuy kèn trống rình rang, lời bi ai tràn ngập trên các mặt báo và có vẻ người ta còn có khuynh hướng biến những cái chết ấy thành một bản anh hùng ca của thời đại. Nhưng rất tiếc, những cái chết ấy lại gieo một nỗi tuyệt vọng cho dân tộc, cho nhân dân hơn bao giờ hết.

Bởi khác xa với những ngư dân bám biển tay không tất sắt, không viên đạn phải đối đầu với sóng gió, tàu sắt và súng đạn của Trung Quốc, những người con chế độ được trang bị đầy đủ, từ chiến đấu cơ hiện đại cho đến cơ số đạn dược và các loại công cụ hỗ trợ tối tân nhất. Bên cạnh đó, họ là những con người mà mỗi kĩ năng họ có được có thể đánh đổi bằng tài sản của một gia đình ngư dân. Họ là những người mà nhân dân tin rằng một khi họ xuất kích thì câu chuyện an ninh và chủ quyền quốc gia được đảm bảo bất khả xâm phạm.

Thế nhưng (xin lỗi anh Khải và các sĩ quan, binh sĩ trên CASA 212!), cái chết quá ư đơn giản và có chút gì đó chưa sạch nước cản trên đường bay của các anh đã làm sụp đổ hoàn toàn niềm hi vọng của nhân dân vào chủ quyền quốc gia. Cái chết của các anh chỉ cho thấy sự yếu ớt và mất khả năng đề kháng của quân đội Việt Nam.

Báo chí trong nước từng ca ngợi đội bay của không quân Việt Nam là biệt đội ưu tú nhất, sẵn sàng chiến đấu với mọi kẻ thù và là biệt đội thần thánh. Thế nhưng cái gọi là biệt đội thần thánh của các anh lại là mới bay tập dượt đã lâm nạn và những người đi tìm kiếm cứu nạn bằng phương tiện hiện đại như CASA 212 mà người lái là một con chim đầu đàn trong đội bay, có kinh nghiệm lão luyện , trong điều kiện thời tiết bình thường cũng không thoát khỏi tử thần, cùng tám đồng đội oan uổng.

Thử nghĩ, suốt nhiều năm nay, dù muốn hay không thì nhân dân vẫn kì vọng vào quân đội, bởi chức năng lớn nhất của quân đội là bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải quốc gia. Nhân dân đã góp từng đồng thuế để nuôi quân, góp từng đứa con để tạo nên quân đội. Thay vào đó, quân đội lại cho nhân dân nỗi tuyệt vọng khôn tả! Và lẽ ra, trong tình thế hiện tại, cái chết của những phi công tử nạn trên đường tập dượt cũng như tìm kiếm cứu nạn phải được biến thành lời thề máu của quân đội, thành quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ những gì còn lại và lấy lại những gì đã mất của quốc gia, dân tộc. Thì đằng này, cái chết của các anh được biến thành vở kịch mếu máo, khóc sướt mướt và đánh động bi tâm, đánh động lòng thương xót của nhân dân.

Đúng, nhân dân sẽ thương xót những người đã ngã xuống. Nhưng chắc chắn một điều, nhân dân thương xót các anh một thì nhân dân thương xót cho vận mệnh đất nước đến mười. Nhân dân sẽ thương xót cho những người thân các anh bị mất con, mất chồng, mất cha. Nhưng nhân dân còn thương xót gấp triệu lần nữa vì dân tộc đã mất đi nhuệ khí, nhân dân đã mất đi chỗ dựa là sức mạnh quân đội và niềm tin chiến thắng quân ngoại xâm hoàn toàn mất đi.

Trong lúc này, ông Nguyễn Chí Vịnh, một chỉ huy cấp cao của quân đội Cộng sản Việt Nam đã im lặng, từ chối sự giúp đỡ của Mỹ để tìm kiếm cứu nạn những nạn nhân trên chiếc CASA 212, trong khi đó ông ta lại tiếp tục khẳng định mối quan hệ răng môi với Trung Quốc và kêu gọi Trung Quốc mang bốn tàu hải quân, hai tàu tuần cảnh và hai tàu cứu hộ, cứu nạn cùng hai máy bay tiến thẳng vào biển Việt Nam.

Và đáng sợ nhất là ông Vịnh đã bắn tiếng xin Trung Quốc hỗ trợ, cho phép tàu thuyền Việt Nam tìm kiếm, cứu hộ người Việt Nam ngay trên biển Việt Nam! Vô hình trung, cái chết của những người con chế độ làm lộ rõ gương mặt thật đớn hèn và bạc nhược của cả quân đội và chế độ Cộng sản.

Và đám tang của Đại tá Khải cũng song hành với đám tang của dân tộc Việt Nam đưa tiễn những tháng ngày bi hùng về nơi chín suối. Những gì còn sót lại chỉ là sự đớn hèn!

Biết đâu, trong buổi hội ngộ nơi suối vàng, linh hồn anh Khải lại gặp linh hồn của những ngư dân bám biển, và họ sẽ cùng ngồi với nhau để nhìn lại nước non ngàn dặm héo mòn!

VietTuSaiGon

Hùng củ lông ( Cửu Long ) bị người Việt hải ngoại đuổi đánh suýt vỡ mõm

Hùng củ lông ( Cửu Long ) bị người Việt hải ngoại đuổi đánh suýt vỡ mõm, nhọ cho con bò đỏ
Hùng Cửu Long, một tên bợ đít cộng sản ảo tưởng sức mạnh tự ứng cử đại biểu quốc hội, lăn tăn sang Mỹ để vận động cho chính mình, ai ngờ bị người Việt tại hải ngoại tẩy chay và biểu tình khiến y sợ tái xanh mặt, tiếng anh nửa câu bẻ đôi cũng không nói được. Cuối cùng thì bị cảnh sát tra tay vào còng và giải đi. Đó chính là cái kết của Việt Cộng.

Cái Chết Của Ông Ngô Chí Dũng – Công Lý, Tự Do Cho Dân Việt Sẽ Là Điều Viễn Vọng (viễn vông) Hoang Tưởng Khi Công Đạo Trong Cộng Đồng Việt Hải Ngoại Không Được Thực Thi!!!

Cái Chết Của Ông Ngô Chí Dũng – Công Lý, Tự Do Cho Dân Việt Sẽ Là Điều Viễn Vọng (viễn vông) Hoang Tưởng Khi Công Đạo Trong Cộng Đồng Việt Hải Ngoại Không Được Thực Thi!!!

Câu chuyện đã xảy ra hơn 30 năm, hiện nay chỉ còn ít người sống sót biết rõ về sự việc. Những người sinh ra sau này thì chỉ biết lờ mờ. Tuy nhiên, số tiền 20 triệu Mỹ Kim vào đầu thập niên 1.980(tương đương với 100 triệu Mỹ Kim bây giờ, chưa tính số tiền được đẻ thêm ra từ 20 triệu đó do việc kinh doanh) mà Hoàng Cơ Định dùng mưu gian để cướp của đồng hương thì hiện nay vẫn đang được dùng để nuôi dưỡng gia đình Hoàng Cơ và lôi kéo theo rất nhiều hoạt động của băng đảng này ở nhiều nơi trên thế giới kể cả ở Việt Nam.

Do vậy, chuyện quá khứ không bị chìm trong bóng tối mà là nó vẫn hiện hữu trong từng giây phút của cuộc sống hiện tại.

Quan trọng hơn là thân nhân những người bị gia đình Hoàng Cơ bắn chết muốn có câu trả lời về cái chết của người thân. Đồng hương muốn biết rõ số tiền họ đã đóng góp nay đang ở đâu??? Ai giữ và chi tiêu như thế nào???

Hơn 30 năm qua gia đình Hoàng Cơ đã không lên tiếng trả lời trước cộng đồng thì nay đến lúc họ phải trả lời trước luật pháp Mỹ.

Việc đi tìm công lý cho dân tộc Việt Nam, xây dựng một nền dân chủ không độc tài Cộng Sản sẽ là viễn vông hoang tưởng khi việc nhỏ hơn là thực thi công lý trong cộng đồng Việt hải ngoại làm chưa được, hoặc bị bỏ qua, không muốn làm.

Cái chết của ông Ngô Chí Dũng, tôi đã viết thành tài liệu và đăng trong blog Phạm Hoàng Tùng cách đây một năm sau khi phim “Khủng Bố ở Sài Gòn Nhỏ”” được công chiếu trên thế giới. Hôm nay tôi đăng lại một phần tài liệu trên Facebook và bổ sung thêm dữ kiện về cái chết của ông Ngô Chí Dũng.

Ông Ngô Chí Dũng từ Nhật Bản về khu chiến và có bí danh là Hoàng Nhật. Chữ Hoàng này theo tôi thì ông Dũng muốn lấy theo họ của ông Hoàng Cơ Minh. Ngô Chí Dũng là một kỹ sư giỏi về máy phát thanh, lại giỏi về Anh Ngữ, Nhật Ngữ, thường viết bài cho Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến, sau đó lên làm Trưởng Đài. Ông Dũng lớn hơn tôi độ 7 tuổi, lúc đó, tức năm 1.984, tôi là một biên tập viên trong Đài Phát Thanh, làm việc gần nhau nên có biết được cá tính của ông Dũng.

Khi ông Hoàng Cơ Minh công khai hóa việc lập Đảng Việt Tân trong khu chiến Thái – Lào thì anh em kháng chiến quân mới được biết thêm rằng ông Dũng là nhân vật cao cấp của Việt Tân, chịu trách nhiệm về lý thuyết đảng và công tác tổ chức các đại hội đảng bộ Việt Tân trong khu chiến.

Lúc ông Hoàng Cơ Minh trực tiếp chỉ huy đoàn quân kháng chiến hơn 100 người trong Chiến Dịch Đông Tiến 2 lần hai để nhập biên Việt Nam thì ông Ngô Chí Dũng ở lại Thái. Sau đó ông Minh bị thất bại trong cuộc nhập biên nên tự sát vào ngày 28 tháng 8 năm 1.987. Và ông Ngô Chí Dũng bị chết bí mật vào khoảng năm 1.990, do đó, ông Minh không phải là người có dính líu hay ra lịnh giết ông Dũng.

Trong thời gian khu chiến hoạt động từ sau cái chết của ông Hoàng Cơ Minh cho đến khi giải tán khu chiến vào khoảng năm 1.990-1.991 thì các nhân vật cầm đầu Mặt Trận và Việt Tân gồm có ông Nguyễn Kim Huờn, ông Trương Tấn Lạc, ông Hải Xăm, ông Ngô Chí Dũng. Cả ba ông: Kim Hườn, Lạc, Hải Xăm, hiện nay đều còn sống. Và số người cầm đầu hoạt động ở hải ngoại trong thời gian ông Ngô Chí Dũng bị chết là Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Trần Xuân Ninh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Hoàng Cơ Long.

Ông Ngô Chí Dũng tính dung hòa, có ý chí, gần gũi với anh em kháng chiến quân. Ông Hoàng Cơ Minh là người chịu trách nhiệm các bản án tử hình kháng chiến quân trong khu chiến. Thời gian sau khi ông Minh chết thì người có trách nhiệm cao nhất trong việc ra lịnh tử hình ở khu chiến và hải ngoại là ông Nguyễn Kim và Hoàng Cơ Định. Giữa ông Nguyễn Kim và Hoàng Cơ Định thì Định là người nguy hiểm hơn vì nắm nhiều tiền bạc để sai khiến bộ máy Mặt Trận và Việt Tân, đồng thời Định là em ruột của ông Hoàng Cơ Minh nên tất nhiên phải là người kế vị quyền lực sinh sát của ông Minh trong tổ chức.

Ngày 21 tháng 11 năm 2.016
Phạm Hoàng Tùng.
…………………………

Dưới đây là phần tài liệu được đăng trên blog Phạm Hoàng Tùng cách đây một năm.

2/ Cái chết của ông Ngô Chí Dũng:

Qua việc thu thập các dữ kiện về sau này cho thấy tình hình khu chiến sau việc tử hình kháng chiến quân Võ Sĩ Hùng và sự kiện ông Đào Bá Kế dẫn đoàn kháng chiến quân mới tuyển mộ trong trại tỵ nạn được huấn luyện ngắn ngày để lên đường xâm nhập Việt Nam qua cuộc hành quân Đông Tiến III vào ngày 22/8/1.989 thì khu chiến chỉ còn rất ít người.

Đi liền sau đó là việc hai ông Nguyễn Đức Thắng và Nguyễn Quảng Văn tìm ra trại tỵ nạn Thái, và một số kháng chiến quân bị thương tật cũng bỏ đi.

Ông Nguyễn Đức Thắng vào cuối năm 2.006 khi tôi ra mắt sách Hành Trình Người Đi Cứu Nước đã lên tiếng phản bác quyển sách và binh vực cho Việt Tân. Như vậy, việc ông Thắng ra được trại tỵ nạn, sau đó được Việt Tân giúp đi định cư tại Canada với điều kiện phải bảo mật và làm việc lại cho Việt Tân.

Sự kiện hai ông Thắng và Văn bỏ khu chiến đi có thể họ nghe tin cuộc Đông Tiến III thất bại và biết việc xử ông Võ Sĩ Hùng. Chính hai ông Thắng và Văn, hiện đang ở Canada, biết rõ thời gian họ bỏ đi, một là trước khi ông Ngô Chí Dũng bị thủ tiêu, hai là sau khi ông Ngô Chí Dũng bị giết.

Đông Tiến III đi trong rừng hơn 1 tháng với tất cả 68 kháng chiến quân, 30 kháng chiến quân bị tử trận, 38 kháng chiến quân bị bắt sống. Ông Đào Bá Kế bị bắt ngày 19/9/1.989.

Như thế chỉ còn lại ông Hải tức Nguyễn Quang Phục và ông Ngô Chí Dũng trong khu chiến.

Còn ông Trương Tấn Lạc trú ở cơ sở Mặt Trận tại tỉnh Ubon, và ông Nguyễn Kim thì như con thoi đi lại giữa Mỹ và Thái. Khoảng giữa năm 1.993, khi tôi đã rời trại tù A.20 Xuân Phước – Phú Yên để đến Nam Vang – Cam Bốt tìm tự do thì có gặp ông Hải đang công tác cho Việt Tân và được biết ông Hải đã có một vợ và hai con là người Thái, và sống ở Thái.

Như vậy có thể đi đến kết luận là ông Ngô Chí Dũng bị sát hại trong thời điểm sau cuộc Đông Tiến III cho đến trước tháng 8 năm 1.991, là lúc giải tán Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến.

Lúc này Thái đã thay đổi chính sách biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường. Họ bắt tay bang giao với Hà Nội và không còn dung túng lực lượng Mặt Trận trên lãnh thổ Thái.

Ông Ngô Chí Dũng từ Nhật về và không còn giấy thông hành để sử dụng. Trong khi ông Nguyễn Kim và Trương Tấn Lạc hiện nay đang sống tại Mỹ, điều này cho thấy khi họ về khu chiến không bị tịch thu giấy passport như nhiều kháng chiến quân khác. Bằng chứng đó còn cho biết rằng họ là nhân vật cấp cao của Mặt Trận nên hưởng được sự biệt đãi. Tất nhiên phải có điều kiện là bảo toàn bí mật khu chiến khi trở về Mỹ sinh sống sau khi giải thể khu chiến sau thời điểm tháng 8/1.991.

Thế tại sao ông Ngô Chí Dũng là một yếu nhân của Việt Tân trong khu chiến lại không được trở lại Nhật mà lại phải bị chết bí mật???

Tin chính thức của Mặt Trận loan báo cho gia đình ông Ngô Chí Dũng tại Mỹ biết rằng ông Dũng tử nạn khi đi công tác ở vùng biên giới Thái- Cam Bốt.

Vì Mặt Trận nói láo nhiều lần nên cá nhân tôi không tin ông Ngô Chí Dũng chết trong trường hợp đó.

Tại sao lúc đó có ông Hải tự là Nguyễn Quang Phục am tường về hoạt động quân sự trong khu chiến lại không được ông Nguyễn Kim và Trương Tấn Lạc cử đi???

Câu trả lời đang dành cho những người còn sống là ông Nguyễn Kim, ông Trương Tấn Lạc.

Nếu gia đình ông Ngô Chí Dũng vì bị áp lực của Mặt Trận không muốn tìm hiểu ngọn ngành cái chết của ông Ngô Chí Dũng thì Mặt Trận hay Việt Tân phải minh bạch hóa cái chết của ông Ngô Chí Dũng.

Và tất nhiên cái chết của ông Ngô Chí Dũng không phải là cá biệt, trái lại đó là một sự kiện có liên hệ xâu chuỗi với nhau qua nhiều cái chết của các kháng chiến quân trong khu chiến và 5 nhà báo Mỹ gốc Việt. Theo kết luận của tôi, đây là hậu quả bi thảm từ chủ trương hành động khủng bố sát nhân diệt khẩu của Việt Tân diễn ra trong khu chiến và trong cộng đồng hải ngoại.

1
1
Ảnh hồ sơ của Phạm Hoàng Tùng
Thêm nhận xét…

Chỉ có 8 năm sau hiến pháp VNCH 1967 thì người dân Việt nam có thể chửi tổng thống ,không coi tổng thống ra gì mà không hề bị bắt.

Tôi đã bảo là dân Việt nam trong lịch sử chỉ có 8 năm làm người thật sự từ 1967- 1975 nhưng đa số đều không tin.

Nhưng qua việc BS Hồ Hải bị CA đột nhập vô nhà “bắt quả tang” và cắt lưỡi chứng tỏ chế độ CS không cho “đàn cừu” nói tiếng người.

Vậy nên chỉ có 8 năm sau hiến pháp VNCH 1967 thì người dân Việt nam có thể chửi tổng thống ,không coi tổng thống ra gì mà không hề bị bắt.

Mời các bạn xem bài viết về báo đối lập sau đây trên báo cộng sản để thấy làm người sướng như thế nào :

Những tờ báo đối lập ngày xưa không coi “Tổng thống VNCH” ra gì, họ nhạo báng, bỡn cợt ra mặt. Có tờ gọi Nguyễn Văn Thiệu là “Sáu Thẹo”, “Tổng thống Thẹo”. Hồi đó, khi ra ứng cử lần hai, những tấm áp phích liên danh Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu dán ngoài đường bị sinh viên học sinh sửa lại là Dân chửi.

Thậm chí, họa sĩ Ớt (tức nhà báo Huỳnh Bá Thành) nhân sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Nixon từ chức bởi vụ xì-căng-đan Watergate, có vẽ một bức tranh đăng trên báo Điện Tín làm chấn động Sài Gòn – Tổng thống Nixon nằm trong cỗ quan tài không đậy nắp thò tay ra ngoài kéo “chiến hữu” (Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) vào nằm chung cho… có trước có sau.

Những năm đầu thập niên 1970 là giai đoạn sôi động nhất của những tờ nhật báo đối lập chống chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn càng ra sức đóng cửa những tờ báo đối lập, bắt bớ những người làm báo yêu chuộng hòa bình, hầu bưng bít thông tin để củng cố chế độ có nguy cơ rệu rã, thì những người làm báo càng chống đối công khai, quyết liệt. Cảnh sát bao vây tòa soạn, tịch thu báo cửa trước, họ tuồn báo ra cửa sau. Có tờ một tuần bị đình bản 3 lần. Chủ báo hầu tòa như cơm bữa. Chính quyền đóng cửa tờ này thì họ dồn qua tờ khác.

Ông Lý Quý Chung – một dân biểu Hạ nghị viện Sài Gòn, đồng thời là một nhà báo đối lập, sau khi tờ nhật báo Tiếng nói Dân tộc do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút bị chính quyền đóng cửa vào cuối năm 1969 – đã cùng những ký giả tên tuổi kéo qua tờ Điện Tín của nghị sĩ Thượng nghị viện Sài Gòn Hồng Sơn Đông. Tờ báo liên tục bị Bộ Thông tin – Chiêu hồi ra lệnh tịch thu.

Có tuần, tờ Điện Tín phát hành lậu đến 3 ngày, có nghĩa là dù số báo được lệnh của Bộ Thông tin – Chiêu hồi cấm phát hành nhưng vẫn chuyền báo qua nóc nhà kề bên và tuồn báo ra phía sau tòa soạn để bán ra ngoài. Chuyện gì đến rồi cũng đến, tòa soạn báo Điện Tín bị bọn “du đãng” phá hoại nên phải tự đình bản.

Tháng 2.1972, tờ Điện Tín xuất bản trở lại cùng với êkíp của tờ Tin Sáng. Trước đó, tờ Tin Sáng (một tờ báo đối lập) phải đóng cửa do chủ nhiệm Ngô Công Đức phải đi tị nạn ở Pháp. Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận – Giám đốc chính trị tờ Tin Sáng – chuyển sang làm chủ bút tờ Điện Tín. Cùng chủ biên tờ Điện Tín ở giai đoạn này còn có Lý Chánh Trung, cựu dân biểu Dương Văn Ba. Họa sĩ Ớt phụ trách phần trình bày.

Bộ Thông tin – Chiêu hồi của chính quyền Sài Gòn có một qui định bắt buộc báo chí thời đó phải tuân thủ: Không loan tin có hại cho chế độ Việt Nam Cộng hòa, có lợi…
By BAOMOI.COM
Quang An Huỳnh Bá Thành (hoạ sĩ Ớt) là cộng sản gộc luôn, sau là trưởng công an phụ trách vụ án “Hồ Con Rùa” hốt hết mấy văn nghệ sỹ miền Nam còn sót lại ở miền Nam.
Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung gì cũng là … “hai mang”. Sau 75, Ngô Công Đức còn được cho ra báo Tin Sáng một thời gian trước khi chính thức “cáo chung” vào năm 76. Lý Chánh Trung sau này là Chánh Trinh, viết báo cho Tuổi Trẻ.
Mấy tay cộng sản này lợi dụng tự do báo chí của miền Nam để phá rối chính quyền miền Nam. Có gì hay ho đâu nè.
Tự do báo chí, tự do ngôn luận trong thời “phôi thai”, trong thời chiến tranh như thế, đúng là gót chân Achilles của thể chế dân chủ ở miền Nam.

· Reply ·

· 10 hrs

Dương Hoài Linh
Dương Hoài Linh Dân Việt Nam không thích làm người chỉ thích làm cừu.Ai cho họ quyền làm người họ không hề biết quý,dùng cái “nhân quyền” đó để phá rối.Nhưng `không vì thế mà ta ân hận vì đã tạo ra nhân quyền.Nếu ta vì chiến thắng chúng mà tước bỏ “quyền được nói” của chúng thì ta đâu khác gì chúng.Và xã hội mà ta xây dựng cũng đâu xứng đáng để hy sinh ? Ch o nên kẻ phải ân hận vì đã tước bỏ một thể chế mang lại cho chúng quyền làm người chính là chúng chứ không phải chúng ta.
Tín Bùi Chân
Tín Bùi Chân Huỳnh Bá Thành là một tay ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Tôi nguyền rủa lũ người này.

· Reply ·

· 11 hrs

Duc Dao
Duc Dao Nó là VC 100%.Sau này là CA bắt nhốt các văn nghệ sĩ VNCH bởi vụ án hồ con rùa.

· Reply ·

· 11 hrs

Phi Vũ
Phi Vũ Càng tìm hiểu về con người và xã hội kể cả bên CS và những người gọi là đâu tranh dân chu đều tâm mê như nhau vì đã là vô đạo thì làm j có cái tâm để cảm nhận những xấu tốt đúng sai là gì

· Reply · 1 hr

Trần William
Trần William Quả đang ăn do trồng nhân cs ! Kkkkk

· Reply ·

· 11 hrs

Vụ cháy 13 người chết, ai chịu trách nhiệm và ai nên từ chức?

Vụ cháy 13 người chết, ai chịu trách nhiệm và ai nên từ chức?

authorNgọc Thọ Thứ Năm, ngày 03/11/2016 06:30 AM (GMT+7)

(Dân Việt) Đang là tháng 11.2016, và ngay tại Thủ đô, những cái chết từ sự thiếu trách nhiệm của cơ quan quản lý, sự tắc trách, cẩu thả và liều mạng của những người liên quan, thật đau lòng, vẫn đến – đi một cách lãng xẹt và không thể hiểu nổi.

   

 vu chay 13 nguoi chet, ai chiu trach nhiem va ai nen tu chuc? hinh anh 1

Những thi thể được lực lượng pháp y đưa ra xe sau đám cháy tại quán karaoke trên phố Trần Thái Tông. Nguồn: Internet

Liên quan tới vụ cháy quán karaoke 9 tầng trên phố Trần Thái Tông (Hà Nội) khiến 13 người chết, rạng sáng 2.11, cơ quan chức năng đã có những thông tin ban đầu.

Chủ tịch quận Cầu Giấy (Hà Nội) xác nhận, quán karaoke bị cháy trên đường Trần Thái Tông chưa đủ điều kiện kinh doanh, bị cơ quan chức năng nhắc nhở nhiều lần. Ông cũng cho biết chỉ trong tháng 10.2016, các cơ quan chức năng đã 3 lần kiểm tra, nhắc nhở và yêu cầu chủ của cơ sở này “đóng quán”.

Cụ thể, ngày 12.10, lực lượng liên ngành của quận này đã kiểm tra và xác định cơ sở này chưa đủ điều kiện hoạt động. Ngày 17.10, chủ cơ sở ký cam kết chỉ kinh doanh khi đủ điều kiện. Ngày 25.10, công an phường có yêu cầu cơ sở dừng hoạt động.

Theo như lời ông Chủ tịch quận thì rõ ràng cơ quan chức năng của quận đã vào cuộc, phần nào đã thể hiện một phần chức trách quản lý của mình trên địa bàn. Thế nhưng, khi nghe những thông tin này, dư luận vẫn chưa cảm thấy yên tâm. Bởi, 3 lần kiểm tra nhắc nhở, mà sao quán chưa đóng? 13 người chết, đau xót thế giờ hỏi trách nhiệm ai?

Tại thành phố, một quán trà đá bé xíu mọc lên giữa vỉa hè còn bị nhắc nhở, kiểm tra thậm chí tịch thu tới “lên bờ xuống ruộng”, đằng này là cả một quán karaoke đồ sộ 9 tầng án ngữ giữa mặt phố Thủ đô không có “phép”, cũng không đủ bất cứ điều kiện gì mà vẫn hoạt động một cách rầm rộ, ngang nhiên thì quả là quá lạ kỳ.

Bởi chính quyền quận, huyện có trong tay cả một lực lượng hùng hậu ngày đêm đi “chinh phạt” quán nước, “tóm” hàng rong, bắt nhà xây, sửa trái phép… Chưa kể chính quyền quận, phường còn có khả năng yêu cầu nhà cung cấp cắt điện, cắt nước. Trong trường hợp quán karaoke trên phố Trần Thái Tông này mà họ kiên quyết như những công trình khác thì làm sao có thể xảy ra hỏa hoạn?

Đằng này, lạ kỳ là qua mấy đợt kiểm tra, quận, phường chỉ “yêu cầu”, “cam kết” và lại “yêu cầu” chứ chẳng có động thái nào quyết liệt như cưỡng chế bắt dừng hoạt động kinh doanh chẳng hạn.

Được biết, chủ quán karaoke này còn rất trẻ, người này đã từng làm việc với các đoàn kiểm tra trước khi xảy ra vụ cháy thương tâm vào ngày 1.11. Lẽ thường, nếu là người kinh doanh đơn thuần thì luôn tìm mọi cách để tối ưu hóa lợi nhuận, tìm đủ mọi cách để thu lại đồng tiền đã đầu tư, bỏ ra một cách nhanh chóng nhất hòng thu lại đồng vốn. Do đó, chả dại gì mà “người ta mới yêu cầu mà mình đã thôi, dừng hoạt động”.

Và điều đáng buồn nữa là cơ quan chức năng đã bước đầu xác định, nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ cháy tại quán karaoke số 68 Trần Thái Tông và lan sang cả loạt nhà khác là do người thợ hàn thi công tấm biển quảng cáo của quán này một cách cẩu thả.

Một lý do không cũ cũng chẳng mới.

Bởi vì trước vụ cháy này, ngay giữa Hà Nội, một vụ cháy đình đám khác, kéo theo sự nổi tiếng bất đắc dĩ của một hotgirl khá thông minh, lanh lợi khi buộc phải tháo chiếc áo ngực thấm ướt rồi che mũi, miệng thoát cháy một cách ngoạn mục. Đó là đám cháy tại quán karaoke 85 Nguyễn Khang. Trong vụ cháy này, giống như vụ cháy tại phố Trần Thái Tông, nguyên nhân cũng được xác định là do thợ tiến hành thi công, thử nghiệm hệ thống âm thanh, biển quảng cáo một cách bất cẩn.

Rồi trước đó nữa là ngày 31.8, tại quán karaoke ZoZo ở số 157 phố Vũ Tông Phan (cũng Hà Nội) cũng xảy ra vụ cháy lớn, cảnh sát phòng cháy chữa cháy phải rất vất vả mới dập được lửa. Nguyên nhân cũng là do “anh thợ hàn xì”.

Điều lạ, ngoài nguyên nhân như trên, điểm chung của những tất cả những quán karaoke bị cháy này đều là chưa có phép hoạt động và cũng chưa được chứng nhận đủ điều kiện an toàn về phòng cháy chữa cháy… Và điểm chung nữa là tất cả đều hoạt động ngang nhiên, rầm rộ như là có phép. Để rồi những hậu quả thương tâm  xảy đến.

Chúng ta luôn phải nghe về những cái chết lãng xẹt: Đang đứng chơi ở đường bị tôn cứa cổ, chạy theo xe buýt rớt xuống hố ga, ăn chơi cũng chết vì anh thợ hàn v.v…

Không nói đâu xa, ngay tại phố cổ Cửa Bắc giữa trung tâm Hà Nội, một chủ ngôi nhà đã cũ nhiều lần kiến nghị, đề nghị không thể cho nhà hàng xóm thi công vì lo sợ nhà mình sẽ đổ sập. Thế nhưng, cũng không hiểu tại sao việc thi công lại càng tăng cả quy mô lẫn mức độ, để rồi đến rạng sáng ngày 4.8, căn nhà số 43 Cửa Bắc của chủ nhà này đã đổ sập hoàn toàn kéo theo cái chết của 2 người, nhiều người bị thương.

Những vụ việc trên, trước khi sự thể xảy ra, cơ quan chức năng cũng đã có ý kiến, nhắc nhở, thế nhưng những người liên quan đều bỏ ngoài tai, cơ quan chức năng thì “hết động thái” và cuối cùng một số người dân nào đó bỗng dưng trở thành nạn nhân chỉ vì “thiếu may mắn”.

Ở đây, tôi có cảm giác như những cơ quan gần dân nhất, cấp chính quyền thấp nhất, có thể hoàn thành tốt chức trách là “công bộc của dân” thì lại đang làm cho xong chuyện, qua loa, thiếu trách nhiệm. Quan sát những vụ việc cụ thể, nổi cộm gần đây, với những chỉ đạo rất nhanh, cụ thể và quyết liệt của mình thì dường như những cơ quan Trung ương thay vì chỉ đạo qua các cấp trung gian phía dưới lại đang phải xử lý từng vụ việc một bởi khoảng trống về vai trò và trách nhiệm chưa được lấp đầy ở mắt xích trung gian.

Rõ ràng, để xảy ra những hậu quả thương tâm và chua xót này, hơn ai hết trách nhiệm đầu tiên chính là ở cấp chính quyền cơ sở: Trực tiếp là cấp phường. Thế nhưng, với chức năng quản lý, giám sát và đã được phân cấp của mình, những cá nhân, tổ chức cấp quận nơi để xảy ra vụ việc thương tâm (hoàn toàn có thể tránh được nếu có động thái quyết liệt) cũng không thể nào vô can bởi đã không giám sát, làm tròn nhiệm vụ và để xảy ra vụ việc nghiêm trọng như trên. Và hơn bao giờ hết, có lẽ thời điểm này những cá nhân liên quan nên tự vấn lương tâm và trách nhiệm của mình, thậm chí hãy từ chức ngay nếu còn tự trọng bởi 13 mạng người đâu thể đùa được!

Đổ 1,5 triệu m3 chất thải vào biển Bình Thuận?

Đổ 1,5 triệu m3 chất thải vào biển Bình Thuận?

Thứ Năm, ngày 3/11/2016 – 02:45
Đổ 1,5 triệu m3 chất thải vào biển Bình Thuận?
(PL)- Ngày 2-11, ông Hồ Lâm, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Bình Thuận, cho biết vừa ký văn bản gửi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam liên quan đến việc Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 (Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong) xin phép “nhận chìm” hơn 1,5 triệu m3 chất thải xuống biển.

Theo nguồn tin của chúng tôi, khối lượng chất thải “khủng” trên được Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 nạo vét luồng hàng hải, vũng quay tàu, khu nước trước bến chuyên dụng phục vụ cho Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1. Ông Hồ Lâm cho biết lượng chất thải này gồm bùn, đất, cát trong quá trình nạo vét.

Theo hồ sơ xin phép Bộ TN&MT của công ty này thì khối lượng nạo vét đổ thải lớn. Nếu đổ thải, lưu giữ, xử lý trên đất liền thì phải có diện tích lớn nhưng địa hình tại huyện Tuy Phong phức tạp, không có mặt bằng để thực hiện. Đồng thời việc đổ thải trên đất liền có khả năng nhiễm mặn, gây ô nhiễm môi trường. Do đó việc đổ thải, lưu giữ, xử lý trên đất liền không đạt hiệu quả về kinh tế-xã hội.

Điều khó hiểu là do sợ đổ chất thải trên đất liền gây ô nhiễm song Công ty Điện lực Vĩnh Tân 1 lại xin “nhấn chìm” xuống biển (?!). Theo ước tính, diện tích biển chứa lượng chất thải này khoảng 30 ha, cách đất liền khoảng ba hải lý và khá gần với Khu bảo tồn biển Hòn Cau (một trong 16 khu bảo tồn biển của Việt Nam). “Những tác động của việc đổ thải đối với Khu bảo tồn biển Hòn Cau là có thể xảy ra nên Sở đề nghị chủ đầu tư nghiên cứu tận dụng vật liệu nạo vét để san lấp các khu vực lấn biển” – Sở TN&MT nêu quan điểm.

Theo ông Huỳnh Quang Huy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận, Hòn Cau là một đảo nhỏ, cách đất liền chưa đầy 10 km. Toàn bộ diện tích của Khu bảo tồn biển Hòn Cau rộng khoảng 12.500 ha.

Thế nhưng Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, cảng chuyên dùng Vĩnh Tân (tiếp nhận tàu chở hàng trọng tải 30.000-200.000 tấn) xây khu lấn biển thì diện tích chồng lấn lên khu bảo tồn biển quá lớn. Mặc dù Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân có sau khu bảo tồn nhưng trung tâm này được chồng lấn đến hơn 1.000 ha khu bảo tồn… Vì vậy, tháng 9-2016, UBND tỉnh Bình Thuận phải đề nghị Bộ NN&PTNT giảm diện tích của khu bảo tồn biển hơn 1.000 ha.

Trước thông tin “nhấn chìm” lượng chất thải “khủng” trên, ông Huy rất bất ngờ. Ông Huy nói: “Việc đổ thải với số lượng lớn cách đất liền chỉ ba hải lý sẽ gây chết san hô và các loại thủy sinh khác sẽ bị diệt vong. Hệ quả là Khu bảo tồn biển Hòn Cau sẽ bị xóa sổ. Lẽ ra việc đổ chất thải Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận phải được biết bởi ảnh hưởng trực tiếp đến Khu bảo tồn biển Hòn Cau nhưng đến nay chúng tôi chưa nhận được thông tin nào”.

Pháp Luật TP.HCM sẽ theo dõi và tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

Vị trí “nhấn chìm” nằm trên tuyến vận tải ven biển sẽ làm ảnh hưởng đến tuyến vận tải biển từ Quảng Bình đến Bình Thuận đã được Bộ GTVT công bố quyết định vào tháng 10-2014. Chiều 2-11, ông Nguyễn Anh Hữu, Giám đốc Cảng vụ hàng hải Bình Thuận, cho biết ông vẫn chưa nghe thông tin gì về việc này. “Cảng vụ hàng hải Bình Thuận sẽ cho kiểm tra và có ý kiến nếu vị trí “nhấn chìm” chất thải nằm trên tuyến vận tải ven biển đã được Bộ GTVT phê duyệt” – ông Hữu nhấn mạnh.
PHƯƠNG NAM