Trích dẫn

Mỹ thẳng tay dẹp ‘Kế hoạch ngàn người’ của TQ, sa thải hàng loạt nhà khoa học gốc Hoa — Thanh Niên Tự Do

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung càng leo thang thì Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) càng tăng cường phòng chống việc Trung Quốc lấy cắp công nghệ. Trên các trang báo, diễn đàn mạng của người Hoa ở Mỹ liên tiếp đưa tin về các vụ việc những nhà khoa học Mỹ […]

via Mỹ thẳng tay dẹp ‘Kế hoạch ngàn người’ của TQ, sa thải hàng loạt nhà khoa học gốc Hoa — Thanh Niên Tự Do

Advertisements

Việt Nam ‘rộ’ tin đồn: ‘Ông Đỗ Mười qua đời,’ ông Lê Đức Anh ‘nguy kịch’ – September 21, 2018

Việt Nam ‘rộ’ tin đồn: ‘Ông Đỗ Mười qua đời,’ ông Lê Đức Anh ‘nguy kịch’ – September 21, 2018
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Mạng xã hội tại Việt Nam sáng 22 Tháng Chín 2018 liên lục ‘rộ’ lên tin đồn liên quan đến sức khoẻ của hai cựu lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN là ông Đỗ Mười và ông Lê Đức Anh.

Tin tức được các facebooker truyền đi cho hay: ‘Ông Đỗ Mười qua đời lúc 22 giờ tối 21 Tháng Chín, còn ông Lê Đức Anh đang trong cơn nguy kịch. Cả hai ông đều đang nằm trong Quân y viện 108 ở Hà Nội.’

Tin tức này lan truyền trên mạng xã hội khoảng hơn 10 tiếng sau khi truyền thông nhà nước CSVN chính thức loan tin đương kim chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10 giờ 5 phút sáng 21 Tháng Chín 2018.

Trên trang ‘facebook Trương Huy San’, nhà báo Osin-Huy Đức, người đầu tiên loan tin ông Trần Đại Quang qua đời, viết: “Tối qua (21/9) và sáng nay (22/9) rất nhiều người hỏi tôi về cụ Đỗ Mười. Tôi muốn nói với các bạn rằng, cụ Đỗ Mười sinh năm 1917, cụ Lê Đức Anh sinh năm 1920, đau yếu đã lâu. Với tôi, Trần Đại Quang chết mới là tin, hai cụ có đi gặp Karl Marx, Lenin (ý nói qua đời) thì cũng là lẽ thường, không phải “tin”.

Huy Đức viết thêm: “Lúc 11 giờ đêm qua, có việc nói chuyện với một người thân của cụ Mười, được biết là cả cụ và cụ Anh vẫn đang được chăm sóc trong bệnh viện.”

Và rằng, nếu hai ông này qua đời, “chắc chắn TTX (Thông Tấn Xã Việt Nam) sẽ đưa tin.”

Trang “facebook chú Tễu” cho hay ‘Gia đình Đỗ Mười đã chuẩn bị xong hậu sự tại quê nhà: Làng Đông Phù; xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.”

“Được biết lúc đầu con gái ông và thầy địa lý đòi san phẳng trường tiểu học khang trang để làm khu lăng mộ. Dân làng phản đối rất dữ dội. Sau lấy đất khu Vườn Đào 1,500m2 để làm khu lăng mộ. Đường vào và huyệt chờ đã sẵn sàng.”…

Trang “facebook chú Tễu”còn viết thêm, “Ông Lê Khả Phiêu, lăng mộ đã xây xong, rất hoành tráng tại xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, xứ Thanh Hoá.”

Trong khi đó, các nguồn tin của Nhật báo Người Việt đều cho hay, cả hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh đều đang nằm trong Viện Quân Y 108. ‘Ông Đỗ Mười coi như đã ‘đi’ rồi, chỉ còn chờ rút ống trợ thở!”

Viện Quân Y 108 là nơi các lãnh đạo chóp bu của đảng CSVN thường được đưa vào chữa trị hay dưỡng bệnh. Hiện thi hài ông Trần Đại Quang cũng đang được lưu giữ tại nơi này.

“Trong lúc công luận đang bàn tán về ông Đỗ Mười, bà Huỳnh Tiểu Hương, giám đốc Trung Tâm Nhân Đạo Quê Hương, cập nhật thường xuyên trên trang cá nhân hình ảnh cho thấy bà đến bệnh viện thăm ông Mười, nhân vật mà bà mô tả là “người cha tinh thần của chúng con” trên website cá nhân.

Bà Hương viết: “Ông vẫn bên cạnh chúng con. Ông vẫn nhìn con. Nghe con nói chuyện. Chúng con yêu ông rất nhiều. Lúc khỏe mạnh cũng như lúc đau yếu. Chúng con đều nhận được sự động viên của ông. Dù con ở đâu, ông vẫn luôn quan tâm.”

Lần gần nhất mà báo “lề phải” đề cập về ông Mười và ông Anh là hồi cuối Tháng Tư, 2018, khi rộ lên tin đồn cả hai ông này “không hẹn mà rủ nhau về trời cùng lúc”.

Thời điểm đó, các báo cùng đăng một bản tin do Thông Tấn Xã Việt Nam cung cấp về việc Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Phú Trọng đến thăm ông Đỗ Mười và ông Lê Đức Anh đang điều trị tại Bệnh Viện Trung Ương Quân đội 108.

Hôm Thứ Bảy, 22 Tháng Chín 2018, một tờ báo ‘lề phải”, tờ ‘Dân Việt’, có bản tin mang tựa đề: “Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đang điều trị tại Bệnh viện T.Ư Quân đội”

Bản tin viết: “Trao đổi với PV Dân Việt, một thành viên của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho biết, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đang được điều trị tại Khoa Điều trị tích cực, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.”

Tờ Dân Việt viết thêm: “Trước đó trên mạng xã hội xuất hiện thông tin thất thiệt gây xôn xao dư luận. Các cơ quan chức năng đã vào cuộc xử lý việc này.”

Ông Đỗ Mười, sinh ngày 2 Tháng Hai năm 1917 tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội, tổng bí thư đảng CSVN từ năm 1991 đến 1997. Tên tuổi của ông Đỗ Mười vốn rất quen thuộc với người dân Sài Gòn và miền Nam Việt những năm sau 1975, bởi nhiều tài liệu ghi rằng ông là ‘tác giả’ của cuộc ‘đánh tư sản,’ đẩy hàng ngàn gia đình ‘đi kinh tế mới’ dẫn đến ‘làn sóng thuyền nhân’ vượt biển tìm tự do.

Còn ông Lê Đức Anh, sinh ngày 1 Tháng 12 Năm 1920 tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông Lê Đức Anh là cựu đại tướng, bộ trưởng quốc phòng (1987 – 1991) và chủ tịch nhà nước CSVN từ năm 1992 đến 1997. (KN-TK)

https://www.nguoi-viet.com/…/viet-nam-lai-ro-tin-don-ong-m…/

Image may contain: outdoor
Image may contain: 2 people, people smiling, hat
LikeShow More Reactions

TRẦN ĐẠI QUANG VÀ NGUYỄN BÁ THANH

“…Cả hai ông, khi lên đến đỉnh cao nhất của quyền lực (ông Bá Thanh chỉ còn cách một nấc) thì ngã bệnh, loại bệnh gần giống nhau, cực kì ác hiểm, đều bí mật đi chữa chạy tại những bệnh viện tốt nhất thế giới, tiền phải bỏ ra hàng đống, nhưng hầu như đều vô tác dụng.”
TRẦN ĐẠI QUANG VÀ NGUYỄN BÁ THANH
Không hiểu sao tôi cứ thấy có nét hao hao giống nhau về số phận giữa hai nhân vật này.
42308294_10215230161244937_8593094979260252160_nHọ đều là những người thăng tiến nhanh, đạt đến đỉnh chóp của quyền lực. (Nếu như ông Bá Thanh trước khi về cát bụi, kịp vào Ủy viên BCT).
Cả hai ông đều có nhiều việc làm bí ẩn gắn với quyền lực, không ai được biết. Ông Thanh thì làm “vua Đà Nẵng” một thời gian dài, còn ông Quang, cả khi là Bộ trưởng Bộ Công an cho đến sau này là Chủ tịch nước, thì quyền hạn đều ở mức tột đỉnh.

Đất phát của ông Bá Thanh là Đà Nẵng.
Đất phát của ông Quang, xét cho cùng cũng là Đà Nẵng.
Cả hai ông đều chuẩn bị cho con những vị trí quyền lực quan trọng và béo bở.
Tất nhiên họ đều là những người rất giầu.
Sau khi đã đến đỉnh quyền lực, cả hai ông đều ám ảnh gì đó về nghiệp chướng nên đều muốn được cậy nhờ cửa Phật, muốn được Phật che chở, phù hộ.
Ông Nguyễn Bá Thanh rất chăm làm công đức xây chùa chiền. Nghe nói ông Bá Thanh là người đưa ra quyết định xây chùa Linh Ứng Bãi Bụt-Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, với tượng Quán Thế âm Bồ tát khổng lồ.
Ông Trần Đại Quang thì còn nổi tiếng hơn trong việc chăm chỉ làm công đức xây chùa, đền. Rất nhiều chùa, đền, cả xây mới và trùng tu, có dấu ấn của ông (nghe nói ông còn bị kiểm điểm vì chuyện công đức tràn lan này). Tại chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc, ông Quang có tới hai cây cung tiến (tất nhiên đều do cấp dưới của ông thực hiện), đều đặt trong những bồn hình vuông đồ sộ, ở những vị trí trang trọng nhất. Một của Bộ trưởng công an Trần Đại Quang, một của Chủ tịch nước Trần Đại Quang.
Nhưng rốt cuộc, cả hai ông, khi lên đến đỉnh cao nhất của quyền lực (ông Bá Thanh chỉ còn cách một nấc) thì ngã bệnh, loại bệnh gần giống nhau, cực kì ác hiểm, đều bí mật đi chữa chạy tại những bệnh viện tốt nhất thế giới, tiền phải bỏ ra hàng đống, nhưng hầu như đều vô tác dụng.

Dưới góc độ tâm linh, có vẻ như Thần, Phật đã quay lưng cả với hai ông, những người rõ ràng là vô cùng hảo tâm với Thần, Phật?
Hóa ra câu “Của người phúc ta” chỉ đúng với cõi người?
Cứ nghĩ về hai ông mà thấy kinh hãi cho kiếp làm quan và làm người ở xứ này?

BỈNH CHÚC VÔ MINH QUANG TỰ DIỆT
TRỌNG NGÂN BẠC PHÚC SẢN TẤT VONG!

42322605_1817793694995271_6742486999837442048_n

Bùi Phi Hùng(facebook)

Từ “trận đánh đẹp”, đưa anh em nhà Quý – Vươn vào tù cho tới tiếng súng Đặng Ngọc Viết, tiếng súng Yên Bái, thậm chí trước đó mình chả bao giờ quan tâm tới ai, thằng nào chết; cuốc tang hay không.
Kể cả thằng hoạn lợn, đốn củi hay cu chột “đồn điền”… Chúng chết, họa chăng chỉ có cớ uống thêm vài bơ bia mà thôi.
Xong, giá câu “sấm” trên kia (người bảo rằng của cụ Trạng Trình, người bảo không – và ý nghĩa của nó, sơ khai là khác, không gắn gì với nhà sản, lũ sản hiện giờ; song trớ trêu, về âm, về chữ thì sao mà ngẫu nhiên trùng lặp vậy!) là thật thì, dân VN sắp ăn mừng đến nơi.Quang trước, rồi cứ thứ tự, đều đặn mà đi khi câu sấm đã được trời đất và lòng người kích hoạt.
Chỉ lạ 1 điều, sao con người, trước khi “tự diệt”, chỉ chừng hơn mươi ngày mà thần thái, sắc độ khác nhau đến thế. Liệu có Trương Ba – Hàng thịt gì ở đây không? Có “Tau khỏe, có chi mô” gì ở đây không…?
Mà thôi, anh Quang ơi, tự diệt hay ai diệt đéo biết; gọi nhau xuống âm phủ, trước Ngưu đầu Mã diện thiếu gì thời gian chởi nhau, thanh toán nhau – thằng “ngựa quý” nó cũng đang chờ anh đấy; thanh toán cho tận rễ, anh nhé…
Có điều, mới ngày nào anh còn hiên ngang, ngạo nghễ như Đổng Trác về triều bên mớ cờ quạt chữ hán nơi “Tịch điền” mà sao giờ này anh …chết!
Thằng, thằng “Lã Bố” nào nó đã chơi anh…!
Thôi, 1 phát hắt hơi tống tiễn… dặn anh, đừng để như kẻ bị giỗ oan kia cả mấy chục năm, nay anh sống đểu, chết cho xong, anh hãy về, báo cho bộ sậu anh biết anh chết ngày nào, anh nhá…

Image may contain: 4 people, people standing
LikeShow More Reactions

Co

Thuốc gì mà độc dữ? 😞

Thuốc gì mà độc dữ? 😞
– Nguyễn Bá Thanh có chuyến thăm Trung Quốc ngày 17-12-2013, chết ngày 13-02-2015.
Thời gian 1 năm 2 tháng.

– Trần Đại Quang thăm Trung Quốc ngày 13-05-2017, chết ngày 21/09/2018. 
Thời gian là 1 năm 4 tháng.

Kết luận: Sau khi “nhiễm xạ”, tuỳ vào thể trạng và điều kiện chăm sóc y tế, người ta có thể sống từ 14-16 tháng.

Image may contain: text

Luật tạo hóa có vay thì có trả

Chủ tịch nước, Đại tướng công an Trần Đại Quang, cũng người Miền Bắc, là kẻ từng nổi tiếng về bất chấp luật pháp, thẳng tay đàn áp người yêu nước, đặt biệt trong giai đọan xuống đường chống Tàu cộng xâm lược, mùa Hè năm 2011, và càng ngày nghi can bị giết ngay tại đồn công an càng nhiều.
Luật tạo hóa có vay thì có trả

Image may contain: 1 person, text

VÔ THƯỜNG KHÔNG HẠN CUỘC !!!

VÔ THƯỜNG KHÔNG HẠN CUỘC !!!
Ngày 20/9 trầm đại quang viết thu chúc tết trung thu cho thiếu niên nhi đông chữ ký chưa ráo mực ngày 21 khăn gói lên đường xuống âm phũ
Thư chúc Tết Trung thu của Chủ tịch nước Trần Đại Quang
Thứ Sáu, 21/09/2018 01:45 GMT+7
(Thethaovanhoa.vn) – Để động viên trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhân dịp Tết trung thu 2018, ngày 20/9, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã có thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng trên cả nước.

THETHAOVANHOA.VN
Để động viên trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhân dịp Tết trung thu 2018, ngày 20/9, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã có thư gửi các cháu thiếu niên, nhi đồng trên cả nước.

Y như Trang Trình Nguỹen Bỉnh Khiem tien đoán 500 năm trước  Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần  Y như đèm gỡ đàu năm 2018 tứ tru và Cán bo Cao cáp VC xép hàng vo nghĩa đia Ba vì  11:50 21/09/2018 Chủ tịch nước Trần Đại Quang (sinh năm 1956) qua đời lúc 10h05 ngày 21/9 tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108.

Y như Trang Trình Nguỹen Bỉnh Khiem tien đoán 500 năm trước
Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần
Y như đèm gỡ đàu năm 2018 tứ tru và Cán bo Cao cáp VC xép hàng vo nghĩa đia Ba vì
11:50 21/09/2018
Chủ tịch nước Trần Đại Quang (sinh năm 1956) qua đời lúc 10h05 ngày 21/9 tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108.
Theo TTXVN, Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10h05 ngày 21/9/2018 tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 (Hà Nội).

Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương cho hay Chủ tịch nước Trần Đại Quang do mắc bệnh hiểm nghèo, dù được các giáo sư, bác sĩ trong và ngoài nước hết lòng cứu chữa, nhưng đã không qua khỏi.

Chu tich nuoc Tran Dai Quang tu tran hinh anh 1
Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời lúc 10h05 ngày 21/9/2018 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Ảnh: Hoàng Hà.
Chủ tịch nước Trần Đại Quang sinh năm 1956, quê ở xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn, Ninh Bình; là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X, XI, XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, XII.

Ông tốt nghiệp trường Cảnh sát nhân dân Trung ương và trường Cao đẳng Ngoại ngữ, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), có thời gian công tác dài và trải qua nhiều vị trí trong ngành công an.

Năm 2006 đến tháng 8/2011, ông là Thứ trưởng Bộ Công an.

Từ tháng 8/2011 đến tháng 3/2016, ông giữ chức Bộ trưởng Công an; Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên; đại biểu Quốc hội khóa XIII; Phó trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Phó trưởng Tiểu ban bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương.

Từ tháng 4/2016 đến nay, ông là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên; Trưởng ban chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương; đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Image may contain: 1 person, suit and text

Kỷ niệm ngày thành lập, Binh Chủng Quân Cảnh nhắc nhau cuộc đấu tranh hiện tại trong nước

Kỷ niệm ngày thành lập, Binh Chủng Quân Cảnh nhắc nhau cuộc đấu tranh hiện tại trong nước
September 19, 2018
WESTMINSTER, California (NV) – Với số người tham dự đông chật nhà hàng Paracel Seafood trên đường Brookhurst, Westminster, Hội Quân Cảnh VNCH Nam California đã tưng bừng tiến hành ngày lễ kỷ niệm 46 năm thành lập Binh Chủng Quân Cảnh VNCH vào trưa Chủ Nhật, 16 Tháng Chín vừa qua.

Sau nghi thức chào quốc kỳ và mặc niệm, ban tổ chức đã dành riêng một tiết mục tưởng nhớ và lễ truy điệu các chỉ huy trưởng và các chiến hữu Quân Cảnh quá cố. Một danh sách được Quân Cảnh Việc Ngọc Lợi xướng lên trong không khí tĩnh lặng và mọi người đứng nghiêm chỉnh theo dõi những phút tưởng nhớ này .

Cũng trong phút trang nghiêm đó, ban nghi lễ cũng làm lễ vinh danh các chiến hữu Quân Cảnh đã tuẫn tiết vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Tiếp ngay sau đó, cả nhà hàng đã bừng lên một khí thế đấu tranh mà những giọng ca sôi sục của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đang truyền tới mọi người bản hùng ca “Cùng Nhau Đấu Tranh Chống Đặc Khu Bán Nước.” Bản nhạc nhắc nhau, kêu gọi cùng đồng bào toàn quốc đang đấu tranh chống CSVN bán nước qua ba đặc khu từ Bắc chí Nam. Tiếng hát sôi sục đang được ban hợp ca CLB Tình Nghệ Sĩ sôi nổi gửi đến mọi người. Tiếng vỗ tay theo nhịp hát vang dội khắp nhà hàng. Những cánh tay vung lên biểu hiện một quyết tâm và như nhắc nhở nhau cuộc đấu tranh kiên trì, dũng mãnh của đồng bào khắp Bắc Nam Trung đang tiếp diễn.

Dõi theo lời giới thiệu quan khách của hai MC Kiều C Lang và Hải Trần, số hội đoàn thân hữu có mặt khá đông. Nào là các hội cựu quân nhân bạn như Quân Trường Thủ Đức, Võ Bị Đà Lạt, Biệt Cách Nhẩy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt, Gia Đình Mũ Đỏ, Đồng Đế Nha Trang, Hải Quân Cửu Long, Thiết Giáp và cho đến Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt, Viện Bảo Tàng QLVNCH và các hội đồng hương như Bạc Liêu, Long Xuyên, Mỹ Tho…

Trong niềm vui hội ngộ ấy, ông Tổng Hội Trưởng Quân Cảnh/VNCH Nguyễn Kỳ Dzương đã bày tỏ sự hân hoan của mình khi được gặp lại bạn bè đồng ngũ xưa, thăm hỏi nhau chuyện mới chuyện cũ. Ông cho biết lòng mong ước của ông là thường được thấy anh em luôn mạnh khỏe, giữ vững tinh thần như những ngày còn trong quân ngũ.

Tiếp đó ông tổng hội trưởng đã trao tặng Hội Quân Cảnh Nam California một kỷ vật để cùng góp vào sự tổ chức ngày kỷ niệm 64 năm thành lập Binh Chủng Quân Cảnh của QLVNCH.

Nhắc đến tiểu sử ngành Quân Cảnh/VNCH, ông Hội Trưởng Quân Cảnh Nam California Phạm Văn Thành đã đi vào khá chi tiết từ ngày Quân Cảnh VNCH được thành lập cho đến khi lớn mạnh, có mặt trong tất cả các đơn vị lớn nhỏ của QLVNCH để giữ vững quân phong, quân kỷ của người lính VNCH. Ông Thành cũng mô tả công việc của người lính Quân Cảnh, phải có kiến thức luật pháp, quân pháp để giữ nghiêm quân lệnh. Bên cạnh đó người lính Quân Cảnh VNCH còn phải có tác phong biểu tượng cho quân pháp làm gương cho các quân nhân khác dù ở hậu phương hay ngoài chiến trường.

Đã qua 43 năm người lính Quân Cảnh VNCH không còn cầm súng, không còn thi hành luật pháp với đồng ngũ vi phạm nhưng tư cách của người lính Quân Cảnh VNCH vẫn còn giữ được nét oai phong, tư cách mà không kém sự thân yêu, che chở. Hầu hết các cựu Quân Cảnh đến tham dự ngày lễ này đều giữ được vóc dáng ngày xưa qua những bộ quân phục thẳng nếp, giầy sô bóng nhẫy, thái độ nghiêm chỉnh nhưng không kém sự niềm nở thân mật nhất là các Quân Cảnh trong ban tiếp tân như Quân Cảnh Nguyễn Mậu Tùng, Quân Cảnh Nguyễn Gia Thụy, Quân Cảnh Nguyễn Hợp…

Hình ảnh quen thuộc nhất của người lính Quân Cảnh/VNCH ở Little Saigon là Quân Cảnh Dư Văn Khiêm. Không có một cuộc biểu tình, đấu tranh hay sinh hoạt chính trị nào của cộng đồng người Việt ở Nam California nói chung và của các hội Cựu Quân Nhân là không có mặt của Quân Cảnh Dư Văn Khiêm. Anh đến tham dự, không phải với tư cách quan khách, ngồi những hàng ghế trên cùng mà anh đứng ngoài cửa, trên lề đường để tự nguyện giữ trật tự. Với bộ quân phục bao giờ cũng thẳng nếp, búc nịt và giầy sô bóng choang, mũ bảo vệ có hai chữ QC rõ nét ngay ngắn trên đầu, anh tự nguyện làm công việc trật tự cho các cuộc họp bàn, trong các cuộc xuống đường đấu tranh của cộng đồng hay trong các cuộc thảo luận chính trị… Gương mặt anh lúc nào cũng tươi cười với mọi người, nhưng chắc ngày xưa khi thi hành nhiệm vụ thì chắc là nghiêm khắc.

Ít phút tâm tình bên chiếc Jeep Quân Cảnh ngày xưa, anh vui vẻ kể: “Những năm ở trong lính QC nó đã vào trong máu của tôi về cách đi đứng sinh hoạt. Bốn mươi ba năm rời lính đã qua nhưng tôi vẫn còn thói quen của người lính Quân Cảnh, trật tự, tôn trọng luật pháp, bảo vệ mọi người và gìn giữ danh dự của người lính VNCH cùng là trách nhiệm với cộng đồng. Nên nhiều khi họ tổ chức mà không mời tôi vẫn cứ đến giúp một tay vào trật tự trong buổi sinh hoạt. Mỗi lần như thế lòng tôi lại cảm thấy như mình còn có ích cho xã hội.”

Một Quân Cảnh khác, anh Vũ Văn Lễ trước 1975, thuộc Tiểu Đoàn 9 Quân Cảnh của Không Quân. Anh bị Cộng Sản cầm tù 10 năm nên có một mối băn khoăn là làm thế nào cho con cháu hiểu được cuộc chiến tranh Việt Nam để chúng nhìn thấy được cái trách nhiệm của người Việt dù xa tổ quốc mà vẫn ý thực được trách nhiệm của mình với quê cha đất tổ. Anh kể: “Tôi có một đứa cháu. Đi học các lớp Việt ngữ về, nó thường hỏi tôi về chiến tranh Việt Nam để trả lời cô giáo thường hỏi học trò em có biết gì về chiến tranh Việt Nam trước đây không. Phần lớn học trò đều không biết hay không rõ lắm chỉ có nó là trả lời được nhiều câu hỏi của cô giáo. Tôi nghĩ nếu gia đình Việt Nam nào cũng chỉ dạy cho con cháu ý nghĩa của cuộc chiến tranh Việt Nam, ý nghĩa sự có mặt đông đúc của người Việt khắp nơi ngày nay thì sau này khi lớp tuổi chúng ta đi hết rồi, con cháu chúng ta sẽ không mất gốc bật rễ. Nhân đây tôi cũng muốn xin gửi lời cảm ơn cô giáo dạy tiếng Việt tại Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam đã lưu tâm các học trò của mình về đất nước và dân tộc.”

Cho mãi đến gần 4 giờ chiều buổi lễ kỷ niệm của Quân Cảnh Nam California mới tan. Mọi người ra về vui vẻ nhắc nhau, “Hẹn gặp lại.” (Nguyên Huy)

NGUOI-VIET.COM
Với số người tham dự đông chật nhà hàng Paracel Seafood trên đường Brookhurst, Westminster, Hội Quân Cảnh VNCH Nam California đã tưng bừng tiến hành ngày lễ kỷ niệm 46 năm thành lập Binh Chủng Quân…

Sự hy sinh trong im lặng tuyệt đối của người lính “hạ sĩ quan” ql vnch cho  TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM 

Sự hy sinh trong im lặng tuyệt đối của người lính “hạ sĩ quan” ql vnch cho
TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM
Một thanh niên hay thanh nữ gia nhập quân đội dù tự nguyện hay đến tuổi nhập ngũ đều sẵn sàng chấp nhận những hiểm nguy hơn những người dân thường, và nếu họ chết đã trong những trận chiến, mặc dù mọi người thương xót nhưng đó là những hệ quả không tránh được của chiến tranh. Có những trận chiến những người lính bị chết nhiều không thể tưởng tượng được, như trận chiến mùa hè đỏ lửa ở Kontum năm 1972, mà nhà thơ Lâm Hào Dũng trong bài thơ “Dưới chân đồi Chu Pao” đã phải thốt lên:
“Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi chiếc khăn tang một tấc đường”
Đó là những cái chết trong lúc chiến đấu. Tổ quốc muôn đời ghi ân họ. Họ được thăng cấp, gia đình được hưởng tiền tử sĩ và nếu còn được thân xác thì quan tài sẽ được phủ quốc kỳ. Đó là những cái chết sẽ được nhắc đến trong quân sử của đất nước kể cả cho những người lính chết mà không tìm được thân xác. Để tưởng nhớ và ghi ân những người mất tích này, đã có mộ Người Lính Vô Danh.
Còn những cái chết sau khi cuộc chiến đã tàn, sau khi vị tổng tư lệnh quân đội và người lãnh đạo của cả nước tuyên bố đầu hàng và ngay sau đó cả một quân đội cũng như quân sử đã chính thức không còn hiện diện nữa, thì ai sẽ là người tri ân họ.
Chúng ta đều biết tên và hoàn cảnh cũng như môi trường nhiều vị tướng lãnh trong QLVNCH tự tử chết trong hay sau ngày mà quân lực mà họ phục vụ đã bị mất về tay CSVN. Hàng năm chúng ta tưởng niệm những vị sĩ quan cấp tướng cấp tá tử vì nước này. Đó là điều đáng làm và nên làm. Nhưng có ai làm lễ tưởng nhớ những vị hạ sĩ quan: những thượng sĩ, trung sĩ, binh nhất binh nhì cũng đã tự tử trong những ngày bất hạnh đó?
Sỡ dĩ tôi nghĩ đến điều này vì rất ít khi chúng ta chính thức nói đến tên của họ hay tìm cách kiếm thêm những người hạ sĩ quan này. Họ chắc không cần chúng ta nhắc đến họ, nhưng đó lại là bổn phận của những người lính trong QLVNCH và của toàn dân là tưởng nhớ đến họ với lòng tri ân nếu không bằng thì cũng gần bằng với những vị tướng tá đã tuẫn tiết trong danh dự, trách nhiệm.
Chúng ta không thể biết rõ tâm trạng của những vị tướng tự sát khi có lệnh từ cấp trên là họ phải buông súng đầu hàng CSVN, nhưng nếu dựa trên những kinh nghiệm của người VN xưa, của những vị tướng tự sát của Nhật những ngày sau cùng của thế chiến thứ 2, … chúng ta cũng có thể rút tỉa được những lý do của sự tuẫn tiết như sau, dù đúng nhiều hay ít:
1. Tinh thần tướng chết theo thành hay thuyền trưởng chết theo tầu:
Cái chết này thể hiện một thứ Danh Dự đặc biệt. Cái “danh dự” được quan sát, được ghi nhận và được phán xét của thượng cấp và của những người dưới quyền. Cái “danh dự hệ quả của vinh dự của quyền hành và của quyền lực”. Những vị tướng tá chắc chắn phải nghĩ đến điều đó trước khi tự sát. Họ không muốn mọi người khinh thường mình
2. Thà chết vinh hơn sống nhục
Cái chết này thể hiện lòng tự trọng cao độ. Họ thà chết chứ không để lọt vào tay địch và họ cũng muốn cho kẻ địch biết được điều đó. Chiến tranh thường có kẻ thua người thắng hay nói theo người xưa “được làm vua thua làm giặc” trong trường hợp VNCH thì bị gọi là “ngụy”. Họ tự sát để chứng tỏ cái tinh thần bất khuất và để chứng tỏ cái chính nghĩa rực sáng mà họ đã hy sinh cả cuộc đời để bảo vệ. Còn gì hùng hồn hơn và là dùng cái chết của mình để chứng minh cho cái giá trị mà mình theo đuổi. Họ biết chắc rằng CSVN dù có thù ghét nhưng không thể xem thường họ.
3. Chết vì đã không tròn trách nhiệm
Để được thăng cấp lên đến tá, đến tướng trong mặt trận, những vị này đều biết rằng đã có hàng ngàn sĩ quan, binh lính dưới quyền đã hy sinh mạng sống do quyết định của mình. Những thuộc cấp này đã thi hành quyết định của họ dù đồng ý hay không và dù dẫu biết rằng thi hành mệnh lệnh này sẽ đem lại cái chết cho mình. Với quyền hành quan trọng như thế, những cấp chỉ huy này phải nhận trách nhiệm bảo vệ tối đa mạng sống những người dưới quyền. Khi bị thua và phải buông súng đầu hàng, vì bất cứ lý do nào, những vị chỉ huy cao cấp này đã không nhiều thì ít nhận lãnh một phần trách nhiệm tạo ra sự thất bại đó. Và điều họ có thể làm được để trả ơn cho những hy sinh của thuộc cấp cũng như chứng tỏ cái hình phạt xứng đáng cho cái “thất bại” này là cái chết của chính họ.
Nói cách khác, khi tự sát, những vị chỉ huy cao cấp này vô tình hay cố ý đã để lại cho những người cùng đơn vị ở lại, cho những người cùng chiến tuyến, cho thượng cấp và cho cả kẻ thù, những “thông điệp” về tư cách của họ. Những thông điệp này đã phần nào đem lại danh dự cho chúng ta và đó là một trong những lý do QLVNCH vẫn còn ngửng mặt nhìn thế giới và nhìn kẻ thù. Cái “chính nghĩa” của VNCH đã một phần lớn thể hiện qua sự tự sát này.
Trở lại hành động tự sát của những vị sĩ quan cấp úy hay những hạ sĩ quan, những người không rơi vào 3 trường hợp kể trên:
1. Vì chỉ là cấp nhỏ, chỉ thi hành mệnh lệnh của cấp trên nên những vị này không có lý do gì để tự sát chết theo “thành” hay chết “theo thượng cấp”. Họ đã không bị “mất danh dự” vì họ không trực tiếp góp phần vào sự thất bại của trận chiến.
2. Vì không được hưởng những quyền lợi nhiều như những vị chỉ huy trưởng, chưa bao giờ được hưởng những “vinh quang” khi thắng trận nên họ sẽ không bị “nhục” khi thất bại. Họ cũng không phải áp dụng câu “thà chết vinh hơn sống nhục” vì họ đã có “vinh đủ” đâu mà phải “cảm thấy nhục đến chết”.
3. Vì họ đã không phải ra mệnh lệnh ảnh hưởng đến sự sống còn của người khác, họ sẽ không bị nhận lãnh những trách nhiệm to lớn đến nỗi họ phải tự sát để chứng tỏ sự thất bại của mình hay để nhận lãnh những sự tự phạt mình.
Nếu không rơi vào 3 trường hợp như những thượng cấp, vậy tại sao những người lính cấp dưới này lại tự sát. Chúng ta có bao giờ nghe đến những người lính tốt ngày xưa tự tử chết theo thành chưa? Chắc là chưa rồi. Chúng ta tìm được những ý nghĩa gì trong cái chết yên lặng của họ; chết mà không hy vọng ai nhớ đến, biết mình là ai ngoài người thân mà có thể sẽ nhận diện được; chết mà không màng tổ quốc biến đến để tri ân; chết mà biết chắc rằng thân xác mình chỉ là một trong những xác của người lính VNCH bị chết trong những ngày ấy.
Họ nghĩ gì trước khi “bỏ mình cho tổ quốc” trong khi “tổ quốc chưa hay không đòi hỏi” nữa. Thật khó mà suy diễn tâm tình người quân nhân lúc bấy giờ. Tuy nhiên, có một trường hợp tự sát của một hạ sĩ quan dưới sự chứng kiến của một nhân chứng, cũng là quân nhân, có thể cho chúng ta hiểu được phần nào tâm tư người lính hy sinh này và những người khác. Sau đây là lời kể lại của nhân chứng, cựu quân nhân Quân Cảnh HHH, qua ngòi bút của ký giả Giao Chỉ:
“….. Lệnh Tướng Hạnh là nội bất xuất, ngoại bất nhập tại bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Chúng tôi thì chỉ có nhiệm vụ yểm trợ cho Đại Đội 1 Quân Cảnh mà thôi. Tôi quan sát tại điếm canh cổng số 1 có anh Quân Cảnh làm việc thật tích cực và hiệu quả. Nhìn kỹ ra là anh Minh người cao lớn. Tôi thật tình quên mất họ của Minh là Trần hay Nguyễn. Nhưng có thể là Trần Văn Minh. Minh cùng chung một khóa với tôi ở Trường HSQ Đồng Đế. Đó là khóa 1/71 Đặc Biệt HSQ hiện dịch, lúc đó tướng Linh Quang Viên làm Chỉ Huy Trưởng. Sau đó chúng tôi gặp lại nhau tại Trường Quân Cảnh một hai lần nữa. Giờ đây, rõ ràng là Minh đang ở Đại Đội 1 Quân Cảnh TM. Giơ tay chào nhau, nói vài câu, rồi ai làm việc nấy. Lúc đó tôi ở cổng chánh khoảng 100 mét về hướng tòa nhà chánh.

11 giờ 30 ngày 30 tháng 4-1975:
Lúc 11 giờ 30, từ cổng 1 TTM tôi nghe súng nổ dữ dội ở phía Bệnh Viện Dã Chiến Hoa Kỳ, thì ra các anh em LĐ 81 BCND đang bắn xe tăng Việt cộng. Khi chiếc xe T54 của Việt cộng có treo cờ GPMN hướng về cổng 1 TTM thì tất cả chúng tôi lái xe Jeep rút về văn phòng Đại Đội 1 Quân Cảnh vì xe cộ đồ đạc tất cả đều để đây. Khi xe ngừng, Minh bước xuống và nước mắt đã đầm đìa. Tôi nhìn Minh mà lo cho thân mình nên vội vàng cột ba lô mang súng ống, rồ xe Mobylette phóng chạy. Cái cảnh lúc đó thật là hoảng loạn, mạnh ai nấy lo, giành đường thoát ra.
11 giờ 40 ngày 30 tháng 4-1975:
Sau lưng tôi, Minh khóc và nói một mình “Thôi rồi, mất nước rồi.” Nói xong anh Minh bước tới gần cột cờ, nghiêm chỉnh đưa tay lên, chào xong móc khẩu Colt 45 bên hông kê lên màng tang. Một tiếng nổ đơn độc vang lên. Tôi chắc tiếng nổ đó đã hòa tan trong tiếng máy của hàng trăm chiếc xe Honda, Vespa, Suzuki. Minh ngã xuống. Trung sĩ I Trần Văn Minh đã trả xong nợ nước vào giờ thứ hai mươi lăm. Tôi là một người sợ chết nên nhìn Minh một lần chót, nén xúc động và chạy thoát thân với hàng đoàn người kia.
Giờ đây Minh họ Nguyễn hay Trần tôi không biết chắc. Anh đã chết thật hay chỉ bị thương cũng không biết chắc. Có điều Minh đã làm một việc thật là đáng để tôi quỳ xuống mà lạy anh. Tất cả các đoạn trên tôi viết dông dài chỉ nhằm mục đích kể lại đoạn cuối về cái chết của một Quân Cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi là binh chủng lo về quân kỷ của quân đội. Xin các anh em chiến hữu hiểu rằng chúng tôi cũng sống chết với quân đội như anh em. Và trong hàng ngũ hạ sĩ quan chúng tôi cũng có người tự vẫn dưới ngọn cờ Tổng Tham Mưu vào giờ thứ 25 …”
Nếu để ý đoạn văn trên viết về hạ sĩ quan tuẫn tiết gần cột cờ, chúng ta nhận thấy những điều sau:
– Đến giờ phút cuối của VNCH, trong khi nhiều sĩ quan cao cấp tìm cách ra khỏi bộ TTM, anh “vẫn đứng gác” vì đó là nhiệm vụ được giao phó. Không phải anh ngu, hay mặc kệ đến đâu hay đến đó. Đầu óc anh lúc đó chắc cũng trăm mối lo âu, cho gia đình cho bản thân, cho quân đội và đất nước đang cưu mang anh. Nhưng anh vẫn làm nhiệm vụ.
– Đến giờ phút cuối của VNCH, anh “vẫn làm việc tích cực và có hiệu quả”
– Đến giờ phút thua cuộc của VNCH khi xe tăng 54 của CV tiến vào bộ TTM, thì anh thốt lên câu “Thôi rồi! Nước mất rồi!” và sau đó thì hành xử như một dũng tướng, đến gần cột cờ nghiêm chỉnh chào lá cờ rồi giơ súng bắn vào đầu mình. Anh không hoảng hốt nữa vì anh đã đủ lý trí để giơ tay chào vĩnh biệt. Một dũng tướng cũng hành xử đến như thế là cùng.
Anh lính Quân Cảnh của đất Việt! Cách hành xử của anh đã thể hiện được cái DANH DỰ của một quân nhân. Quân phong, quân kỷ anh đều giữ vẹn. Anh không nhận lãnh nhiều ân huệ của quốc gia và của quân đội, anh không nợ đất nước VN nhưng anh đã chứng tỏ cái giá trị của “những điều mà anh chiến đấu để bảo vệ”, qua cái chết.
Anh cũng đã cố làm việc tích cực mặc dù không hoàn toàn máy móc vì anh vẫn để cho những vị sĩ quan hay binh sĩ đi qua cổng vì anh, theo tôi, anh cũng đã biết tình trạng rối loạn của đất nước trưa 30 tháng tư này, và anh cũng thông cảm họ. Anh đã lo tròn TRÁCH NHIỆM của một quân nhân với vai trò của mình.
Anh thốt lên câu “Thôi rồi! Mất nước rồi” vì anh biết là tương lai của anh, của người dân mà anh biết sẽ không còn nữa. Anh biết là anh sẽ mất đi tất cả. Nước, đối với anh, là những điều gì sẽ không thể có được trong thế giới CS. Nước, theo tôi nghĩ, theo anh, đó là TỔ QUỐC mà anh chắc không muốn dùng cái từ to lớn này.
Cũng như những cấp chỉ huy đã tự sát, người hạ sĩ quan này đã tự sát để chứng tỏ tinh thần trách nhiệm, sự bảo vệ danh dự và tình yêu tổ quốc tuy cái mức độ có khác nhau. Người hạ sĩ quan như anh Minh hay những hạ sĩ quan khác khi tuẫn tiết mặc dù không có tiếng vang và được vinh danh hàng năm nhưng đối với riêng tôi, lại đầy sự tự trọng và cao cả đáng khâm phục vì các quân nhân ấy đã không hy vọng một sự biết đến nào từ bất cứ ai.
Các quân nhân ấy chết đi trong sự im lặng tuyệt đối không cần ai biết đến; chính mình đối diện với lương tâm và tri thức của mình, không những với tư cách là một quân nhân, mà còn là một người Việt Nam không chấp nhận cộng sản. Tôi khâm phục những quân nhân như những hạ sĩ quan này. Quý anh đã chứng tỏ cái chính nghĩa của sự tranh đấu để bảo vệ tự do và dân chủ mà đất nước và quân đội giao phó. Thử hỏi, đã có “bộ đội” cộng sản nào trong cuộc chiến, trước tháng Tư 1975, đã tự sát chết vì “lý tưởng cộng sản”, sau khi bị bắt làm tù binh sau một trận chiến với QLVNCH?
Chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi tưởng niệm sự hy sinh của những người Việt chết cho tự do và dân chủ được 39 năm kể từ ngày 30/4/1975 mà các anh là những người mà chúng tôi nghĩ đến nhiều. Cầu nguyện cho các anh được siêu thoát. Nếu tôi được viết thêm, tôi sẽ thêm chữ HY SINH vào TỔ QUỐC, DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM để ghi ơn các anh cũng như ghi ơn những quân nhân đã bỏ mình cho tự do, dân chủ.
Không những các anh, mà dòng dã 39 năm, trong Việt Nam vẫn có những người dân sẵn sàng hy sinh tương lai và mạng sống của họ cho tự do dân chủ, không chỉ cho chính họ, mà còn cho toàn dân đang sống trong sự cai trị độc tài độc đảng. Chúng ta tin những tinh thần bất khuất đó sẽ là những ngọn lửa càng ngày càng lan rộng tuy lúc này không bùng cháy, sẽ đốt dần mòn những cặn bã rác rưởi của đất nước.
Dựa vào những nhận định trên chúng ta một lần nữa có thể kết luận:
Cái lý tưởng mà một cá nhân trong khi không cần thiết mà vẫn hy sinh mạng sống để chứng tỏ cái giá trị của nó là một lý tưởng chắc chắn sẽ hợp với nhân bản và trước sau gì cũng đạt được sự hậu thuẫn của người dân bởi vì nếu cá nhân đó đã hy sinh thân xác, cái quý nhất của mình vì không còn có được cái lý tưởng đó, thì lý tưởng đó phải qúy hơn cái chết. Đó là lý tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng trước pháp luật của mọi người dân mà hiện nay trong nước tuy âm ỉ nhưng bên bỉ, nhiều người dân đã hành xử những sự hy sinh nâỳ bắt đầu bằng sự xem thường tù tội, sự trả thù của giới cầm quyền đối với những sự lên tiếng của họ.